DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
PGS:
Phó giáo sư
Nxb:
Nhà xuất bản
PTS:
Phó tiến sĩ (trước đây), Tiến sĩ hiện nay
H:
Hà Nội
M:
Mátxcơva
1
2.2.1. Các nguyên tắc xét xử
2.2.2 Các nguyên tắc quyết định áp dụng hình phạt
2
(quyết định hình phạt)
2.2.2.1. Nguyên tắc pháp chế
59
2.2.2.2. Nguyên tắc nhân đạo
61
2.2.2.3. Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt
62
2.2.2.4. Nguyên tắc công bằng
63
2.2.3. Quyền của bị cáo khi tham gia tố tụng (xét xử)
2.2.3.1. Quyền được coi là vô tội khi chưa có bản án kết tội
của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
69
3.2. Nội dung hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền con người
trong xét xử hình sự.
Kết luận
3
Danh mục tài liệu thao khảo
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và
cũng luôn luôn là khát vọng của toàn thể nhân loại. Quyền con người được
sinh ra và đồng thời cũng phải bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên. Cho
nên, nó không chỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế
định pháp lý cơ bản trong pháp luật của các quốc gia.
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà ra đời, quyền con người được chính thức tuyên bố và ghi
nhận bằng pháp. Quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, với những
nhiệm vụ nặng nề mà vinh quang, xét cho cùng cũng chỉ là vì độc lập, tự do,
vì chủ nghĩa xã hội mà cốt lõi của nó là bảo đảm thực hiện quyền con người.
Phản ánh các quá trình phát triển đó, từ Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đến Hiến
pháp 1992 đều thể chế hoá quyền con người, từng bước mở rộng quyền con
người. Trên cơ sở đó, hệ thống chính sách pháp luật bảo đảm quyền con
người ngày càng được củng cố hoàn thiện.
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước
ta đã chuyển hoá nhiều nội dung về quyền con người trong các tuyên bố, công
ước quốc tế mà Nhà nước ta tham gia phê chuẩn, ký kết. Bên cạnh các hoạt
này là hai tập chuyên khảo "quyền con người, quyền công dân" của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 1993. Đi sâu nghiên cứu tìm
hiểu để đề ra các phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm "xây dựng và hoàn
thiện bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người trong điều kiện đổi mới ở
nước ta hiện nay" là luận án PTS của thày giáo Nguyễn Văn Mạnh. Trung tâm
nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
biên soạn cuốn sách "Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị", xuất bản
6
năm 1997. PGS. TS Trần Ngọc Đường có một số bài viết về quyền con người,
trong đó có bài "Hành vi hợp pháp - nhân tố bảo đảm thực hiện quyền con
người, quyền và nghĩa vụ công dân" in trong tập 1 chuyên khảo "quyền con
người, quyền công dân". Tạp chí cộng sản tháng 5-1993 có đăng bài "Quyền
con người và quyền công dân" của PGS. TS (hiện nay là Giáo sư, Tiến sỹ)
Hoàng Văn Hảo và Chu Thành. PTS (nay là Tiến sỹ) Lê Minh Thông viết bài
"Hoàn thiện pháp luật về quyền con người trong điều kiện phát huy dân chủ ở
nước ta hiện nay" trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 12-1998. Tác
giải Nguyễn Văn Hiện có bài "Toà án và việc bảo vệ quyền và lợi ích của cá
nhân và tổ chức" - Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 8-1999.
Các công trình khoa học, bài viết này hoặc là tổng quát, hoặc đi sâu
nghiên cứu, phân tích, luận giải một số nội dung về quyền con người, các biện
pháp bảo đảm quyền con người, vấn đề bảo vệ quyền con người...
Tiến sĩ Phạm Hồng Hải có bài: "Mấy ý kiến về bảo vệ quyền con người
trong tố tụng hình sự ở nước ta" (tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3 năm
1998) nêu lên một số vấn đề về vi phạm quyền con người từ phía cơ quan tiến
hành tố tụng đối với bị can, bị cáo và từ phía các phần tử xấu đối với những
người tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống
quy định của pháp luật nước ta hiện nay về bảo đảm quyền con người trong
trạng và đề xuất phương hướng, nội dung hoàn thiện pháp luật trong xét xử
hình sự.
7. Kết cấu đề tài
8
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3
chương, 6 tiết.
9
Chương I
QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT
TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. KHÁI LƯỢC QUYỀN CON NGƯỜI
Mặc dù "quyền con người" mãi sau này (thế kỷ 18) mới được khẳng
định, nhưng những ý tưởng về nó lại ra đời rất sớm cùng với sự phân chia giai
cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước. Khi mà trong các Nhà nước chiếm
hữu nô lệ, con người bị coi là những "công cụ biết nói" thì những tiếng kêu cứu
đòi quyền được sống, được tự do, được quyền làm người ... cũng xuất hiện.
Quyền con người , ngay từ đầu là một thuộc tính bản chất tự nhiên, là
"đặc quyền". Cho nên, khi các "đặc quyền" đó bị vi phạm, bị chà đạp thô bạo
trong các Nhà nước cổ đại thì đã có những cuộc khởi nghĩa của tầng lớp bị trị
nổ ra đòi lại những đặc quyền vốn sơ khai đó. Do có những cuộc đấu tranh
"làm cho công lý bùng nổ để ngăn chặn kẻ mạnh không làm hại kẻ yếu" mà
đã xác lập nên Bộ luật Hamurabi. Mặc dù còn nhiều hạn chế: là công cụ phục
vụ mục đích thống trị, song Bộ luật đó đã nêu lên được tư tưởng về bình đẳng,
thắng lợi với những tiền đề tư tưởng và thành tựu của khoa học tự nhiên thì
vấn đề quyền con người mới được đặt ra như một học thuyết, hay nói cách
khác, quyền con người bắt đầu được chính thức công khai thừa nhận. Có thể
nói rằng, sự kiện này được đánh dấu bằng Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ 1776 và sau đó là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của
Pháp 1789. "Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại , quyền con người chuyển từ
phạm vi thỉnh cầu, yêu sách sang phạm vi thực hiện, từ lĩnh vực triết học sang
lĩnh vực pháp lý thực tiễn".[40,27]
11
Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, cộng đồng quốc tế thông qua Liên hiệp
quốc tuyên bố chính thức về các quyền và tự do của con người bằng Hiến
chương Liên hiệp quốc 1945 và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm
1948. Cụ thể hoá quyền con người trong các văn bản trên, năm 1966, Liên
hiệp quốc thông qua Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn
hoá (ngày 24/9/1982 Việt Nam gia nhập 2 Công ước này). Ở Việt Nam,
Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho thời kỳ
phát triển mới về quyền con người trên đất nước ta.
Quyền con người là một trong những giá trị xã hội cao quý nhất đồng
thời là vấn đề rộng lớn, phức tạp, được nhiều chuyên ngành khoa học nghiên
cứu, do đó có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về quyền con người.
Song, trước hết, quyền con người được hiểu là những đặc quyền mà con
người sinh ra là tự nhiên có. Đó là những đặc quyền mang tính tự nhiên mà
nổi bật là quyền được sống, được bảo vệ, được tự do phát triển. Mặc dù,
những đặc quyền đó có trước, song chừng nào chưa được công nhận thì chúng
không thể được đưa ra áp dụng. Do đó, để đạt tới cái gọi là quyền cần phải có
sự ghi nhận mà cụ thể là bằng pháp luật. Các đặc quyền được pháp luật ghi
nhận, điều chỉnh thì mới chính thức trở thành quyền của con người.
Pháp luật ghi nhận các quyền của con người được xã hội thừa nhận.
Thông qua pháp luật, quyền con người được lên tiếng bảo vệ. Để bảo đảm
quyền con người, pháp luật đưa ra những điều cấm và những hành vi bắt buộc
phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm quyền con người.
Quyền con người được pháp luật xác lập là thiêng liêng, không thể xâm hại
một cách tuỳ tiện và được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và
cưỡng chế của xã hội, Nhà nước. Quyền con người được pháp luật xác lập
mang tính tối cao, ổn định không dễ dàng thay đổi. Điều 50 Hiến pháp 1992
khẳng định: quyền con người được quy định trong Hiến pháp và luật - là
13
những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nó buộc mọi người phải tôn trọng,
phục tùng.
Theo tiến trình phát triển của lịch sử loài người, trên phương diện pháp
luật, quyền con người ngày càng được củng cố, hoàn thiện. Từ chỗ các ý
tưởng về quyền được sống như một con người nhằm thoát khỏi "công cụ biết
nói", tư tưởng về quyền con người dần phát triển lên thành những học thuyết,
thành các bộ luật riêng lẻ và trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng quốc
tế, không phân biệt màu da, địa vị, thành phần. Nhờ có pháp luật mà quyền
con người trở thành giá trị chung của nhân loại, được loài người cùng nhau
tôn trọng, bảo vệ. "Chỉ thông qua pháp luật quyền con người mới trở thành ý
chí và mục tiêu hành động chung của toàn xã hội, có tính bắt buộc chung đối
với toàn xã hội" [49,47].
"Lịch sử Nhà nước và pháp luật hàng nghìn năm qua và thực tiễn quốc
tế của thế kỷ XX đã và đang chứng minh xác đáng một hiện thực sinh động
rằng: được xây dựng trên nền tảng của các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nền
văn minh nhân loại: công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế nên Nhà nước
pháp quyền coi các quyền và tự do của con người là những giá trị xã hội cao
con người. Bởi vì, quyền con người không thể được tôn trọng, bảo vệ trong
một xã hội có nền kinh tế, văn hoá và chính trị khủng hoảng; mà chính trị
muốn ổn định thì đường lối chính sách phải được thể chế hoá thành pháp luật
mới có đủ sức mạnh thực hiện trong xã hội. Chính vì điều đó mà Hiến pháp,
luật của các nước không thể không nhắc đến việc bảo vệ chế độ chính trị xã
hội như một trong những mục tiêu chính của mình. Hay nói cách khác để thực
hiện đường lối bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, quyền con người
phải được thể chế hoá trong pháp luật.
Đối với kinh tế-điều kiện quan trọng trong việc bảo đảm quyền con
người - pháp luật tạo khuôn khổ và môi trường pháp lý an toàn, thuận lợi để
16
phát huy mọi tiềm năng cho sản xuất, kinh doanh phát triển đúng hướng, có
hiệu quả. Đối với các quyền của con người về kinh tế cũng được quy định
bằng pháp luật. "Pháp luật là phương tiện làm cho các quan hệ kinh tế trở
thành quan hệ pháp luật" [19,196] và cũng là phương tiện hữu hiệu để các bên
tham gia hoạt động kinh tế bảo vệ lợi ích của mình.
Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ tất yếu
cũng đòi hỏi phải được thể chế hoá bằng pháp luật và vì mục tiêu cho con
người. Văn hoá giáo dục, khoa học công nghệ phải tạo ra môi trường xã hội
lành mạnh, tự do để con người có điều kiện phát triển. Trong môi trường ấy,
vừa có điều kiện cho việc phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa có điều kiện
để mọi người học tập, vừa thuận tiện cho mọi người được hưởng quyền thông
tin
đồng thời cũng hội tụ được những khả năng để đấu tranh không bị
"đồng hoá" bởi những yếu tố độc hại lai căng từ bên ngoài.
Ngoài việc điều chỉnh hành vi con người, pháp luật còn là phương tiện
người nước ngoài và kể cả người không quốc tịch. Như vậy, pháp luật là
phương tiện quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người giữa các quốc
gia và trong cộng đồng quốc tế.
1.2. ĐẶC TRƯNG QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ HÌNH
SỰ.
Quyền con người không những được pháp luật ghi nhận mà còn được
pháp luật bảo vệ. Do đó, bất cứ một hành vi vi phạm quyền con người nào
cũng phải được xử lý theo pháp luật. Song, tất nhiên quyền con người còn có
quan hệ chặt chẽ với chủ quyền quốc gia, lợi ích của Nhà nước, của các tổ
chức, trật tự xã hội... là những khách thể được pháp luật nói chung và luật
hình sự nói riêng bảo vệ. Cho nên, những khách thể trên bị xâm hại do bất cứ
ai thì người đó phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Quyền con người
của bị cáo chỉ có thể được coi là bảo đảm khi xét trong một tổng thể các mối
18
quan hệ khác liên quan đến tội phạm do họ thực hiện. Như vậy, việc xử lý đối
với họ buộc phải tuân thủ những trình tự, thủ tục được quy định chặt chẽ
trong pháp luật, vì dẫu sao, quyền con người của họ vẫn phải được tôn trọng.
Đối với bị cáo, quyền con người của họ là vấn đề hết sức nhạy cảm và có một
số đặc trưng sau:
Là người bị Toà án quyết định đưa ra xét xử trên cơ sở kết luận điều tra
và cáo trạng của viện kiểm sát quyền con người của bị cáo dễ có nguy cơ xâm
hại từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. " Sự xâm hại đó có thể do trình độ
non kém trong tổ chức quản lý, do năng lực làm việc hoặc do thiếu tinh thần
trách nhiệm và cũng có thể do một bộ phận công chức thoái hoá biến chất, vô
đạo đức" [48,49]. Đồng thời một số cán bộ có thẩm quyền chưa nắm vững
pháp luật và tính thiếu chặt chẽ, cụ thể của pháp luật cũng là những nguyên nhân
dẫn đến việc xâm hại quyền con người.
thành những tư tưởng, nguyên tắc: công bằng, nhân đạo, dân chủ, pháp chế
mà hướng tới mục tiêu chung là bảo đảm quyền con người. Của bị cáo không
bị tước bỏ trái pháp luật. Các quy định đó không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp luật
cần thiết cho các cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng và tránh được lạm dụng
mà trước hết và chủ yếu là để bảo vệ con người, giúp mọi người biết rõ pháp
luật để phòng tránh việc vi phạm điều cấm của pháp luật, đồng thời cũng biết
được quyền của mình mà thực hiện, bảo vệ.
Vì giá trị cao quý của quyền con người được xã hội thừa nhận, vì quyền
con người được bảo vệ bằng pháp luật, cho nên quyền con người của bị cáo
chỉ có thể bị hạn chế theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
trên cơ sở pháp luật. Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có Toà
án là cơ quan duy nhất được nhân danh Nhà nước ra quyết định áp dụng các
biện pháp hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài Toà án,
không một cá nhân hay tổ chức nào có quyền được tước bỏ các quyền của bị
20
cáo. Sự phán quyết của Toà án phải dựa trên cơ sở pháp luật và chỉ tuân theo
pháp luật. "Khi quyết định hình phạt, Toà án phải tuân theo trình tự và các
điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể và chỉ có thể tuyên những hình
phạt được quy định trong luật" [71,36].
Việc hạn chế quyền của bị cáo do Toà án quyết định và phải dược tiến
hành bằng việc xét xử theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt đã được pháp luật
quy định. Vì thế mà pháp luật tạo ra các trình tự, thủ tục khác nhau nhằm khôi
phục lại các quyền, lợi ích của bị cáo bị xâm hại. Cụ thể là, các giai đoạn xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Các giai đoạn này được tiến
hành theo trình tự chặt chẽ nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các quyền, lợi ích
của bị cáo bị xâm hại, khôi phục lại các quyền, lợi ích bị tước bỏ hoặc hạn chế
trái pháp luật "Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét
xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh" (Điều 72, Hiến
pháp bị xâm hại phải được khôi phục lại, người phạm tội phải chịu trách nhiệm
hình sự tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do họ gây ra.
2.1. QUY ĐỊNH VỀ TỘI PHẠM VÀ HÌNH PHẠT VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI.
2.1.1. Quy định trách nhiệm hình sự
Với phương châm " biết để không thực hiện" và "phòng tội hơn trị tội",
cho nên pháp luật hình sự , một mặt liệt kê cụ thể, rõ ràng những hành vi nguy
hiểm cho xã hội bị cấm, mặt khác đưa ra các quy định buộc mọi người phải
tuyệt đối tuân thủ. Theo nghĩa đó, Điều 2 Bộ luật hình sự quy định" chỉ người
22
nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách
nhiệm hình sự". Đây là cơ sở thống nhất, duy nhất của trách nhiệm hình sự.
Nó khẳng định "chủ thể của một hành vi tội phạm chỉ có thể là một thể nhân
cụ thể - tức là một cá nhân chứ không phải là một tập thể hay một kiểu cộng
đồng nào" [67,4]. Nếu ai đó (bị cáo) đã phải chịu trách nhiệm hình sự thì ít
nhiều, quyền con người, quyền công dân của họ cũng phải bị hạn chế. Cho
nên, ở đây pháp luật quy định là: trách nhiệm hình sự chỉ được đưa ra áp dụng
đối với người phạm tội, tức là khi mà người đó thực hiện hành vi vi phạm
điều mà pháp luật hình sự cấm, hay nói cách khác một người chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự bởi những hậu quả do hành vi của chính người đó gây ra.
Ngoài việc vi phạm điều cấm của pháp luật hình sự - phạm tội ra, thì bất luận
trong trường hợp nào, trách nhiệm hình sự cũng không thể được đưa ra áp
dụng. Không những thế, chỉ có những dấu hiệu của hành vi được mô tả trong
luật mới là cơ sở cho việc giải quyết trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình
sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, là sự phản ứng của Nhà
nước đối với hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định,
tức là đối với tội phạm. Hành vi có thể được coi là tội phạm nếu có các yếu tố