Luận văn nghiên cứu mức độ tồn dư các hợp chất cơ clo trong môi trường đất ở một số khu vực kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 39

Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

MỤC LỤC

i


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BVTV:

Bảo vệ thực vật

BNN&PTNN (BNN):

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

BKHCN&MT:

Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường

DDT:

Diclodiphenyltricloetan

DDE:


NĐ:

Nghị định

QCVN:

Quy chuẩn Việt Nam

POP:

Chất hữu cơ khó phân huỷ

TTg – CP:

Thủ tướng Chính phủ

TT:

Thông tư

TTCP:

Tiêu chuẩn cho phép

UBND:

Ủy ban nhân dân

UNEP:

Bảng 1.5. Nhiệt độ không khí qua các tháng
Bảng 1.6. Tốc độ gió
Bảng 1.7. Độ ẩm trung bình các tháng trong năm
Bảng 1.8. Lượng mưa trong tháng một số năm gần đây
Bảng 1.9. Mực nước sông cầu tại Văn Chã - Phổ Yên
Bảng 1.10. Số lượng thuốc BVTV được kinh doanh trên địa bàn tỉnh Thái

19
20
20
21
22
29

Nguyên qua các năm gần đây
Bảng 2.1. Vị trí lấy mẫu và ký hiệu mẫu
Bảng 3.1. Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại

37
44

Trạm vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ
Bảng 3.2. Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại

48

Công ty Vật tư Nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ
Bảng 3.3. Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại

51

Hình 3.2. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Trạm vật tư nông

46

nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ - Đợt 2
Hình 3.3. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Công ty Vật tư Nông 49
nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ - Đợt 1
Hình 3.4. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Công ty Vật tư Nông

50

nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ - Đợt 2
Hình 3.5. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Khu trung chuyển

51

của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ - Đợt 1
Hình 3.6. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Khu trung chuyển

52

của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ - Đợt 2
Hình 3.7. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước tại Trạm vật tư nông 54
nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ - Đợt 1
Hình 3.8. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước tại Trạm vật tư nông 54
nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ - Đợt 2
Hình 3.9. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước Khu trung chuyển của 56
Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ - Đợt 1
Hình 3.10. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước Khu trung chuyển của 56
Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ - Đợt 2

chưa được khảo sát điều tra đánh giá mức độ ô nhiễm.
Ngoài những khu vực tồn lưu ô nhiễm hóa chất BVTV đã biết, còn rất nhiều
địa điểm chưa được phát hiện, thống kê và đánh giá mức độ ô nhiễm. Theo ước
tính, tổng số khu vực ô nhiễm hóa chất BVTV có thể vào khoảng 20 - 25 vị trí trên
địa bàn toàn tỉnh.
Các kho tồn lưu hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có số lượng
lớn, rải rác trên địa bàn, chủ yếu là kho tạm, hầu hết được xây dựng từ những năm
1980 trở về trước, khi xây dựng chưa quan tâm đến việc xử lý, kết cấu nền móng
nên việc ô nhiễm đất tại các kho thuốc này là điều không thể tránh khỏi. Hơn nữa,
các kho này hiện nay không còn hồ sơ lưu trữ và thông tin về các khu vực này cũng

1


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

hết sức hạn chế. Một thực tế cho thấy, do thiếu thông tin và nhận thức về sự nguy
hiểm của hoá chất BVTV còn rất hạn chế nên hầu hết các khu vực hóa chất BVTV
trước đây đã trở thành các công trình công cộng, ruộng canh tác thậm chí là đất ở
của người dân.
Ô nhiễm hóa chất BVTV là một trong các dạng ô nhiễm có mức độ nguy
hiểm cao nhất và có khả năng để lại những hậu quả rất nghiêm trọng đến sức khoẻ
con người và sinh vật. Tuy vậy, đến nay chưa có một hoạt động nghiên cứu nào tiến
hành rà soát một cách tổng thể và đánh giá mức độ tồn dư hóa chất BVTV nói
chung và hợp chất cơ clo nói riêng trong môi trường đất trên phạm vi toàn tỉnh.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu mức độ
tồn dư các hợp chất cơ clo trong môi trường đất ở một số khu vực kho chứa hóa
chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” với mục đích phát hiện và

nghiệp, vì việc bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh và diệt trừ cỏ dại sẽ tạo điều kiện để
hình thành năng suất cao cho các cây trồng.
Nước ta là một nước nông nghiệp nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió mùa, khí
hậu ven biển và là nước có nền nông nghiệp rất đa dạng về cơ cấu cây trồng, giống,
nhiều chế độ luân canh, xen canh, gối vụ, nhiều mùa vụ, với những phương thức
canh tác khác nhau. Nhiều biến động xảy ra do khí hậu, thời tiết dẫn đến biến động
trong các hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt là các quần thể sinh vật hại, nấm gây
bệnh cho cây trồng. Vì vậy, người nông dân luôn phải ứng phó với những khó khăn
không những về biến đổi thời tiết, khí hậu mà còn phải bảo vệ cây trồng, mùa màng
khỏi bị dịch bệnh, sâu hại, cỏ dại và chuột phá hoại. Vai trò của công tác BVTV,
trong đó hóa chất BVTV là công cụ, phương tiện quan trọng đắc lực của nông dân
nhằm đảm bảo được năng suất cao, mùa màng bội thu, tránh được sâu hại phá hoại
mùa màng [4].

3


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

1.1.2. Phân loại hóa chất BVTV
Thuốc BVTV hay hóa chất BVTV là những hợp chất độc nguồn gốc tự nhiên
hoặc tổng hợp hóa học được dùng để phòng chống, diệt trừ, xua đuổi hoặc giảm nhẹ
do dịch hại gây ra cho cây trồng.
Có nhiều cách để phân loại hóa chất BVTV, một số cách phổ biến như sau:
a. Theo đối tượng phòng trừ
- Thuốc trừ sâu: là những thuốc phòng trừ các loại côn trùng gây hại cây
trồng, nông sản, gia súc, con người.
- Thuốc trừ bệnh: là những thuốc phòng trừ các loài vi sinh vật gây bệnh

nhanh, phân hủy dễ dàng, ít gây độc cho người và gia súc. Các chất điển hình như:
Sherpa, Permethrin, Cypermethrin.
- Nhóm thuốc chứa các kim loại nặng (KLN): Các hợp chất hữu cơ được
gắn thêm các KLN vào. Nhóm này tác động trực tiếp vào hệ thành kinh hoặc ngấm
vào màng tế bào làm tế bào ngừng hoạt động. Khi phân giải, các KLN lại được giải
phóng và lại một lần nữa gây độc, tiêu diệt tiếp côn trùng vừa được phục hồi.
- Nhóm thuốc trừ sâu sinh học: thường tập trung ở ba nhóm vi khuẩn, vi
nấm, virus, ... điển hình là Bacillus Thuringensic (BT) [1].
c. Theo tính độc của thuốc BVTV
- Độ độc cấp tính: thuốc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thời gọi là
nhiễm độc cấp tính. Độ độc cấp tính của thuốc được biểu thị qua liều gây chết trung
bình, viết tắt là LD50 (Letal dosis), tức là liều thuốc ít nhất có thể gây chết cho 50%
số cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột), được tính bằng mg hoạt chất/kg trọng
lượng cơ thể.
- Độ độc mãn tính: nhiều loại thuốc có khả năng tích lũy trong cơ thể người
và động vật máu nóng, gây đột biến tế bào, kích thích tế bào khối u ác phát triển,
gây bệnh ung thư [5].
d. Theo độ bền của thuốc đối với khả năng phân hủy
- Rất bền (thời gian phân hủy thành các hợp phần không độc >2 năm).
- Bền (6 tháng đến 24 tháng).
- Tương đối bền (
độ
độc
trên
màu đen trên
chéo
đenđộc
trên
5
20
10
40
nhóm
nhãn
thuốc
vạch đỏ
nền trắng
Chữ “Rờt độc” Đầu lâu xương
Ib
20 10 40 màu đen trên
chéo đen trên
5 - 50
Rất độc
200
100
400
vạch đỏ
nền trắng
Chữ “Có hại”
II
Chữ thập đen

thành 5 nhóm độc khác nhau là nhóm độc Ia (rất độc), Ib (độc cao), II (độc trung
bình), III (ít độc) và IV (rất ít độc).
Bảng 1.2. Phân chia nhóm độc của Việt Nam [1]
Phân nhóm và ký hiệu

Biểu tượng

Độc tính LD50
qua miệng (mg/kg)
Thể rắn Thể lỏng

I - “Rất độc”
Đầu lâu xương chéo
2000
vạch màu xanh nước biển)
nền trắng
Ở nước ta, tạm thời theo cách phân nhóm độc của WHO và lấy căn cứ chính
là liều LD50 qua miệng (chuột), phân chia thành 3 nhóm độc là nhóm I (rất độc, gồm

SD:
EW: Nhũ dầu
WDG:
FS:
Huyền phù đậm đặc
WG:
FW: Huyền phù nước
WS:
1.1.3. Quản lý nhà nước đối với hoá chất BVTV

Huyền phù trong dầu
Hạt tan trong nước
Huyền phù hạt
Hạt thấm nước
Bột phân tán trong nước

a. Các văn bản pháp luật đối với thuốc BVTV
Giai đoạn từ 1957-1985, thời kỳ kinh tế bao cấp thuốc BVTV được Bộ Nông
Nghiệp và Công nghiệp thực phẩm giao cho Công ty vật tư nông nghiệp độc quyền
trong việc nhập khẩu và phân phối. Từ năm 1985-1990 Nhà nước giao cho Cục
BVTV lên kế hoạch nhập thuốc BVTV và trực tiếp phân phối cho các địa phương
qua mạng lưới vật tư nông nghiệp, sau đó phân phối cho các hợp tác xã nông
nghiệp.
Năm 1991, Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm quy định về việc đăng
ký sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam.

7


Nguyễn Thị Huynh

bán buôn, bảo quản, vận chuyển, sử dụng, tiêu huỷ, nhãn thuốc, bao bì, hội thảo,
quảng cáo thuốc BVTV;
- Quyết định 50/2003/QĐ-BNN ngày 25/3/2003 - Ban hành quy định kiểm

8


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

dịch chất lượng, dư lượng thuốc BVTV và khảo nghiệm thuốc BVTV mới, nhằm
đăng ký lưu hành tại Việt Nam;
- Quyết định số 31/2006/QĐ-BNN ngày 27/4/2006 QĐ-BNN của Bộ Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn - Ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được
phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam;
- Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ - Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ
thực vật tồn lưu gây ra trên phạm vi toàn quốc;...
Ngoài ra còn có các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn
chất lượng thuốc BVTV về cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, quy trình kiểm tra sử
dụng thuốc BVTV trên cây trồng và các văn bản hướng dẫn của Cục BVTV. Như
vậy, đến nay Chính phủ và các Bộ đã có đủ các cơ sở pháp lý để quản lý thuốc
BVTV từ khâu sản xuất, gia công, sang chai đóng gói, kinh doanh đến khâu sử
dụng. Những văn bản đó có hiệu lực thi hành, nhưng chưa được phổ biến rộng rãi
đến mọi đối tượng có liên quan, nhất là bà con nông dân, những người trực tiếp sử
dụng thuốc BVTV.
b. Quản lý nhập khẩu thuốc BVTV
Các loại thuốc BVTV đang lưu thông trên thị trường sử dụng ở nước ta phần
lớn được nhập khẩu từ nước ngoài, vì vậy khâu quản lý nhập khẩu thuốc là vấn đề

trồng khác nhau.
1.1.4. Tác động của hoá chất BVTV đến môi trường và sức khoẻ con người
a. Tác động của hoá chất BVTV đến môi trường
Các động của hoá chất BVTV lên môi trường là do những tính chất chủ yếu sau:
dễ bay hơi, dễ hoà tan trong nước và dung môi, bền với quá trình biến đổi sinh học.
Hoá chất BVTV cũng được những cây cối và động vật hấp thụ và theo chuỗi
thức ăn sẽ xâm nhập và tích luỹ trong cơ thể người. Đặc biệt, trong chuỗi thức ăn
này cứ qua mỗi bậc dinh dưỡng, hoá chất BVTV lại được tích luỹ với số lượng theo
cấp số nhân và được gọi là khuếch đại sinh học.

 Tác động đến môi trường đất
Sự tồn tại và chuyển vận hoá chất BVTV trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu
tố cấu trúc hóa học của hoạt chất, các dạng thành phẩm, loại đất, điều kiện tiết thủy
lợi, loại cây trồng và các vi sinh vật trong đất.
Hoá chất BVTV có thể hấp thụ từ đất vào cây trồng, đặc biệt các loại rễ của
rau như củ cà rốt và cỏ. Hoá chất BVTV được hấp thu từ đất vào cỏ, súc vật ăn cỏ
như trâu bò sẽ hấp thu toàn bộ dư lượng hoá chất BVTV trong cỏ vào thịt và sữa.
Nhiều thuốc bảo vệ thực vật có thể tồn lưu lâu dài trong đất, ví dụ DDT và

10


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

các chất clo hữu cơ sau khi đi vào môi trường sẽ tồn tại ở các dạng hợp chất liên kết
trong môi trường, mà những chất mới thường có độc tính hơn hẳn, xâm nhập vào
cây trồng và tích luỹ ở quả, hạt, củ sau đó di truyền theo thực phẩm đi vào gây hại
cho người, vật như ung thư, quái thai, đột biến gen...


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

xâm nhập vào cơ thể. Có 3 con đường xâm nhập vào cơ thể người:
- Đường hô hấp: khi hít thở thuốc dưới dạng khí, hơi hay bụi.
- Hấp thụ qua da: khi thuốc dính vào da.
- Đường tiêu hóa: do ăn, uống phải thức ăn nhiễm thuốc hoặc sử dụng những
dụng cụ ăn nhiễm thuốc.
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ ngộ độc và tử vong vì thuốc BVTV cao hơn
do những nguyên nhân sau:
- Các tiêu chuẩn an toàn lao động không đủ nghiêm ngặt.
- Thuốc BVTV không được dán nhãn mác đầy đủ trong khi số dân mù chữ
còn nhiều và nói chung người dân thiếu hiểu biết về nguy hiểm thuốc BVTV.
- Thiếu thốn các điều kiện vệ sinh và phòng hộ cá nhân [11].
Các thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể tích tụ lâu dài sẽ gây bệnh ung thư, tổn
thương bộ máy di truyền, gây sự vô sinh ở nam và nữ, giảm khả năng đề kháng của cơ
thể, mắc các bệnh về thần kinh như giảm trí nhớ, bệnh tâm thần, ...
Bảng 1.3. Nguyên nhân nhiễm độc thuốc BVTV
STT
1
2
3
4
5
6

Nguyên nhân
Số mắc (người)

12


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

chỉ số thông minh, chậm biết đọc, biết viết.
Ngoài các vấn đề sức khỏe con người, hàng năm thuốc BVTV còn gây ra
hàng chục ngàn vụ ngộ độc ở gia súc, thú nuôi. Các sản phẩm thịt, trứng, sữa, ...
cũng có thể nhiễm thuốc BVTV và gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn.
Như vậy, do người dân vì hiểu biết còn hạn chế nên chưa chấp hành những quy
định về an toàn đối với môi trường và sức khỏe của chính mình cộng với kỹ thuật và
phương tiện bảo hộ còn thiếu nên đã xảy ra những trường hợp nhiễm độc do nhiều
nguyên nhân mà yếu là nhiễm độc do tiếp xúc trực tiếp trong quá trình phun thuốc
đang ngày càng đe dọa sức khỏe cộng đồng ở mỗi quốc gia và trên thế giới.
1.1.5. Độc tính của một số hoá chất hoá chất BVTV điển hình
a. DDT

 Đặc điểm
Thuốc trừ sâu DDT là chữ viết tắt tiếng Anh của hoá chất Dichlo - Dibenzen
- Trichlothan, được phát minh năm 1872. DDT có tính năng trừ sâu rất tốt, dùng để
diệt các loài sâu phá hoại lương thực, cây ăn quả, rau xanh và các loài côn trùng gây
bệnh. DDT còn được biết đến với các tên thương mại Anfex, Arkotin, Dicofol,
Genitox, Ixodex, Neoxid, Pentachlorin, Peprothion, 7~erdane... DDT ở dạng bột
trắng hay xám nhạt, không tan trong nước, rất tan trong cychlorhexanon, tan ít hơn
trong xylen và aceton, ít tan trong dầu hoả.
Tính chất của DDT khá ổn định, có hiệu quả lâu dài, hơn nữa DDT không dễ
hoà tan trong nước (sau khi phun thuốc không bị nước mưa rửa sạch) cho nên về kinh
tế, nó đã thể hiện tính ưu việt so với các loài thuốc trừ sâu khác. Bắt đầu từ năm 1943

phá các thùng chứa, đào đất nhiễm về vãi ruộng bị mắc các chứng rối loạn da (nứt
nẻ, chảy nước vàng), ung thư gan, mất trí nhớ [15].

 Lan truyền và ảnh hưởng đến môi trường
Với đặc tính khó phân giải trong môi trường, DDT có thể tồn lưu trong đất
hàng chục năm. Từ ô nhiễm đất tất yếu sẽ dẫn tới ô nhiễm hồ ao, sông ngòi do lan
truyền qua nước mưa.
DDT tồn tại trong môi trường, qua sinh vật tích luỹ và thông qua các chuỗi
thức ăn, có thể được phóng đại và khuếch tán có tính nguy hại rất lớn đối với con

14


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

người và các loài sinh vật khác. DDT phá hoại sự hấp thụ và đào thải bình thường
đối với chất Canxi, khiến cho vỏ trứng mỏng hơn, dễ vỡ và làm cho trứng không nở
thành chim non.
DDT phá hoại môi trường và sinh thái ở mức độ rất lớn. Bắt đầu từ những
năm 60 của thế kỷ XX, rất nhiều nước đã cấm sử dụng thuốc trừ sâu DDT.
b. HCH và Lindan
Tên chung: BHC (Benzene hexachloride)
- HCH (Hexachlorcychlorhexane).
- Lindan: tên chung của 99% đồng phân gamma HCH.
Tên thương mại:
- HCH: Benzex, Denzex, Dolmox
Hexafur, Hexyclan, Kotol, Submar.v.v...
- Lindan: Exaggama, Forlin, Gammex, Inexit,

 Ảnh hưởng môi trường
Có tính tồn lưu và phát tán mạnh, dư lượng HCH và lindan có thể ghi nhận ở
khắp thế giới, cả ở những khu vực xa nơi sử dụng như ở Nam Cực và Bắc cực.
Lindan và các sản phẩm phân giải cũng đã gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước
bề mặt.
c. Aldrin
Tên thường: Aldrin; Aldrine; HHDN; Phức hợp 118; Octalene; OMS 194.
Tên

hóa

học:

Hexachloro-hexahydro-endo-exo-dimethanonaphthalene;

1,2,3,4,10,10-hexachloro-1,4,4a,5,8,8a-hexahydro-1,4: 5,8- dimethanonapthalene
1.4. Số ký hiệu trong danh mục hoá chất trong các CSDL trong và ngoài nước (CAS
- Chemical Abstracts Service number).
Ký hiệu CAS : 309-00-2. Các ký hiệu khác: NIOSH RTECS: IO2100000
EPA

chất

thải

rắn:

P004

OHM/TADS:

nồng độ ure trong máu, có hồng cầu và albumin niệu.
Đường hô hấp
Đường này thường xảy ra khi công nhân đang sản xuất hay đang phun thuốc
trừ sâu. Dù sao, không có trường hợp nhiễm độc cấp nào xảy ra với đường tiếp xúc
này. Đa số các ca bệnh đều là bán cấp và không có triệu chứng nhiễm độc, triệu
chứng lâm sàng đầu tiên thường là cơn động kinh co giật.
Đường qua da
Đường tiếp xúc này rất khó phân biệt với đường hô hấp, và có lẽ cả hai cùng
tác động (ATSDR, 1993). Giống như phơi nhiễm qua đường hô hấp, hấp thụ qua da
thường xảy ra đầu tiên với các công nhân. Nếu phơi nhiễm cấp nặng, triệu chứng
tiến triển giống như với nhiễm qua đường miệng. Dù sao, rất nhiều trường hợp
nhiễm độc bán cấp không có triệu chứng và triệu chứng đầu tiên là cơn co giật động kinh.

 Nhiễm độc mãn tính
Đường tiêu hóa
Không có ảnh hưởng về thần kinh học, huyết học và gan trên người nồng độ
dưới 0.003 mg/kg/day [Hunter & Robinson, 1967].
Đường hô hấp
Co giật có thể xuất hiện đột ngột không có triệu chứng báo trước có thể do
sự tích lũy aldrin (và chất chuyển hóa của nó là dieldrin) sau nhiều ngày [Jager,
1970]. Thiếu máu và chậm phục hồi vết thương có thể xảy ra sau thời gian dài tiếp
xúc [Muirhead và CS, 1959; Pick và CS, 1965; de Jong, 1991].

17


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16


9
4
Huyện Định Hoá
24
23
1
Huyện Võ Nhai
15
14
1
Huyện Phú Lương
16
14
2
Huyện Đồng Hỷ
20
17
3
Huyện Đại Từ
31
29
2
Huyện Phú Bình
21
20
1
Huyện Phổ Yên
18
15
3

XI XII
17,5 17 20,3 24,1 27,3 28,9 27,9 28,2 25,5 25,6 22,8 18,6

19


Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

 Tốc độ gió
Hướng gió thịnh hành tại Thái Nguyên là Đông Bắc (mùa lạnh) và Đông
Nam (mùa nóng).
Bảng 1.6. Tốc độ gió (m/s)
NĂM

THÁNG
1

2

3

4

5

6

7


15

02

24

04

11

01

8

21

2001 NE 12 NE 10 NE 8 NE 12 NE 12 SE
Ngày 09

26

06

SE
15

2002 NE 10 NE 8 NE 12 NE 8 NE 10 SE 12

N


21

29

20

12

8 SE 10 NE 8 NE 8 NE 10 NE 12
10

03

03

14

13

10 SE 10 NE 20 NE 10 NE 8 SE 6
28

12

21

16

04


06

13

10

18

NW 14 NE 12 SE 10 NE 10 NE 10 SE 8
08

13

07

02

26

18

Hướng gió kí hiệu theo la bàn 36 hướng: N: Bắc; NNE: Bắc đông bắc; NE:
Đông bắc; ENE: Đông đông bắc; E: Đông; ESE: Đông đông nam; SE: Đông nam;
SSE: Nam đông nam; S: Nam; SSW: Nam tây nam; SW: Tây nam; WSW: Tây tây
nam; W: Tây; WNW: Tây tây bắc; NW: Tây bắc; NNW: Bắc tây bắc.

 Độ ẩm không khí
Thái Nguyên là khu vực có độ ẩm khá cao, trung bình năm đạt tới 82% và
độ ẩm trung bình lớn nhất 88% và thấp nhất đạt 77%.



Nguyễn Thị Huynh

Cao học Môi trường K16

 Lượng mưa
Với lượng mưa khá lớn, trung bình năm 1.800 – 2.500 mm, tổng lượng nước
mưa tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên dự tính lên tới 6,4 tỷ m 3/năm. Tuy nhiên lượng
mưa phân bố không đều theo thời gian và không gian.
Bảng 1.8. Lượng mưa trong tháng một số năm gần đây (Đơn vị: mm)
Năm

THÁNG
1

2

3

4

5

6

7

8


14,2 16,1 26,5

49,7 185,2 230,6 226,4 199,4 125,4 83,1

47,3

42,5 1.246,4

175,0

2003

32,8 31,0 12,3

67,3 379,1 244,0 370,2 384,9 88,6 66,0

8,2

5,5 1.689,9

255,5

2004

24,4 22,8 65,5 103,7 366,7 136,5 511,6 238,4 145,5 0,1

1.615,2

233,1



0,7 1.246,4

c. Đặc điểm hệ thống sông ngòi và chế độ thuỷ văn khu vực
Thái Nguyên có 2 sông chính là:
- Sông Công: có lưu vực 951 km 2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định
Hóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Thái
Nguyên. Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành Hồ Núi Cốc có mặt nước
rộng khoảng 25km2, chứa được 175 triệu m3 nước.
- Sông Cầu: Lưu vực sông Cầu có dòng chính là sông Cầu với chiều dài 290
km bắt nguồn từ núi Văn Ôn (Vạn On) ở độ cao 1.170 m và đổ vào sông Thái Bình
ở Phả Lại. Trong lưu vực sông Cầu có tới 26 phụ lưu cấp một với tổng chiều dài
670 km và 41 phụ lưu cấp hai với tổng chiều dài 645 km và hàng trăm km sông cấp
ba, bốn và các sông suối ngắn dưới 10 km. Lưu vực sông Cầu nằm trong vùng mưa
lớn (1.500 - 2.700 mm/năm) của các tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Tổng lưu lượng
nước hàng năm đạt đến 4,5 tỷ m3.
Chế độ thuỷ văn của các sông trong lưu vực sông Cầu được chia thành 2
mùa: mùa lũ và mùa khô.
+ Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9 và chiếm 70-80% tổng lưu lượng
dòng chảy trong năm.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status