ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Hoàng Thị Mỹ Hằng
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CỦA MỘT SỐ LOẠI BÙN THẢI VÀ PHÂN LẬP
CÁC CHỦNG VI KHUẨN ƯA NHIỆT NHẰM TÁI SỬ DỤNG
BÙN THẢI LÀM PHÂN BÓN HỮU CƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Hoàng Thị Mỹ Hằng
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CỦA MỘT SỐ LOẠI BÙN THẢI VÀ PHÂN LẬP
CÁC CHỦNG VI KHUẨN ƯA NHIỆT NHẰM TÁI SỬ DỤNG
BÙN THẢI LÀM PHÂN BÓN HỮU CƠ
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài ................................................................................................3
3. Nội dung nghiên cứu .............................................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ................................................................................5
1.1. Tổng quan về bùn thải .......................................................................................5
1.1.1. Khái niệm bùn thải ...........................................................................................5
1.1.2. Đặc điểm bùn thải ............................................................................................5
1.1.3. Hiện trạng thải bỏ bùn thải. ..............................................................................6
1.1.4. Các phương pháp xử lý bùn thải. .....................................................................8
1.2. Tổng quan về các chủng vi sinh vật ưa nhiệt ...................................................9
1.2.1. Vi sinh vật ưa nhiệt ...........................................................................................9
1.2.2. Vi sinh vật ưa nhiệt và vai trò trong ủ phân hữu cơ ........................................11
1.2.3. Tình hình nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn ưa nhiệt trong tái sử dụng bùn thải
làm phân bón phục vụ cho nông nghiệp. ..................................................................15
1.3. Tổng quan về phân bón hữu ...........................................................................24
1.3.1. Khái niệm .......................................................................................................24
1.3.2. Phân loại .........................................................................................................24
1.4. Tổng quan về 3 nhà máy lấy mẫu bùn thải.................................................. 26
1.4.1. Tổng quan công ty giấy Bãi Bằng ..................................................................26
1.4.2. Tổng quan CTCP mía đường Hòa Bình .........................................................27
1.4.3. Tổng quan nhà máy sản xuất tinh bột sắn FOCOCEV Thừa Thiên Huế .......28
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............29
2.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................29
2.1.1. Các mẫu bùn thải .............................................................................................29
2.1.2. Các chủng vi khuẩn ưa nhiệt ...........................................................................29
2.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................29
3.4.3. Đánh giá khả năng phân hủy bùn thải nhà máy tinh bột sắn Fococev Thừa
Thiên Huế của chủng vi khuẩn V18 ..........................................................................63
3.3.4. Đánh giá khả năng phân hủy bùn thải của tập hợp các chủng vi khuẩn ưa
nhiệt được tuyển chọn ...............................................................................................64
3. 5. Định danh các chủng vi khuẩn được tuyển chọn. ........................................65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................68
1. Kết luận .................................................................................................................68
2. Kiến nghị ...............................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................69
PHỤ LỤC.............................................................................................................73
BẢNG CHÚ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT
TC
Tổng Carbon
TN
Tổng Nito
TP
Tổng Photpho
TK
Tổng Kali
BOD
Công ty cố phần
ĐC
Đối chứng
BA
Blood agar
NA
Nutrient Agar
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Thành phần một số nguyên tố chủ yếu trong tế bào một số nhóm vi sinh vật
(% trọng lượng khô) [8] ...........................................................................................11
Bảng 2: Đặc tính lý, hóa và sinh học của bùn thải ở 3 nhà máy ...............................47
Bảng 3: So sánh hàm lượng một số kim loại nặng có trong mẫu bùn thải nhà máy
FOCOCEV Thừa Thiên Huế với QCVN 50:2013/BTNMT .....................................53
Bảng 4: Khả năng phân hủy tinh bột của các chủng vi khuẩn ưa nhiệt được phân lập
từ bùn thải nhà máy FOCOCEV Thừa Thiên Huế ....................................................57
Bảng 5. Khả năng phân hủy casein của các chủng vi khuẩn ưa nhiệt được phân lập
từ bùn thải nhà máy FOCOCEV Thừa Thiên Huế ....................................................58
Bảng 6. Khả năng phân hủy CMC của các chủng vi khuẩn ưa nhiệt được phân lập từ
bùn thải nhà máy FOCOCEV Thừa Thiên Huế ........................................................58
Bảng 7. Khả năng phân hủy bùn thải của chủng vi khuẩn ưa nhiệt GW4 ................60
Bảng 8. Khả năng phân hủy bùn thải của chủng vi khuẩn M5X2 ............................62
Hình 18: Biểu đồ so sánh độ giảm khối lượng bùn theo thời gian giữa mẫu bùn thí
nghiệm được bổ sung tập hợp các chủng vi khuẩn và mẫu bùn đối chứng ..............64
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã hội, bùn thải đang trở
thành một gánh nặng không chỉ cho Việt Nam mà ngay cả ở các nước có nền kinh
tế, khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Ở Việt Nam, bùn thải chủ yếu được xử
lý bằng cách ép loại nước, phơi khô, đổ bỏ hay chôn lấp. Tuy nhiên việc đổ bỏ,
chôn lấp bùn thải đã và đang gây ra sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và lãng
phí tài nguyên.
Bùn thải có thể là một nguồn tài nguyên có giá trị nếu được tái sử dụng làm phân
bón phục vụ cho nông nghiệp. Các lợi ích chính của việc ứng dụng bùn là: (i) cung
cấp các chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K), các nguyên tố trung lượng (Ca, Mg, S)
và vi lượng thiết yếu (Zn, Cu, Mo, Mn…) cho cây trồng; và (ii) cải thiện tính chất
vật lý của đất (cấu trúc đất tốt hơn, tăng khả năng giữ nước, cải thiện đặc tính dẫn
truyền nước của đất), tính chất hóa học và sinh học đất. Tuy nhiên sự có mặt của
các yếu tố độc hại như kim loại nặng và các mầm bệnh trong thành phần một số loại
bùn thải có thể ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng chúng.
Trên thực tế, bùn thải thường chứa các hàm lượng khác nhau của các kim loại
nặng như Pb, Cd, Hg, Ni, Zn, Cu, Cr... mà có thể được hấp thụ bởi cây trồng phát
triển trên đất được bón bùn thải. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác
nhận sự có mặt với một mật độ cao của ký sinh trùng động vật và vi khuẩn gây bệnh
trong một số loại bùn thải thô. Do kích thước lớn và mật độ cao, trứng giun ký sinh
có trong nước thải sẽ kết lắng và tập trung tại bùn thải. Vì vậy việc sử dụng bùn thải
trong nông nghiệp có thể nhiễm vào đất 6.000-12.000 trứng giun ký sinh/m2/năm.
Loại trứng này có thể tồn tại trong đất đến 5 năm hay lâu hơn [13]. Sán dây bò
(Taenia saginata), với vật chủ trung gian là trâu bò và vật chủ cuối cùng là con
sinh vật gây bệnh [16]. Cuối cùng, phân compost có thể được sử dụng như là một
chất cải tạo đất bởi nhiều chất hữu cơ có lợi đã được phát hiện trong bùn [38].
Giới hạn của việc ứng dụng phân compost bùn thải là hàm lượng kim loại có thể
cao do hàm lượng kim loại của bùn thô và mức độ pha loãng bởi tác nhân tạo đống
ủ trong suốt quá trình ủ hiếu khí. Chính sự hấp thụ kim loại nặng bởi thực vật và sự
tích lũy thành công trong mô người cũng như sự khuếch đại sinh học thông qua
2
chuỗi thức ăn đã ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường [35]. Tuy nhiên,
kim loại nặng từ phân compost có thể được giảm bởi thêm một số hóa chất và tác
nhân sinh học trong suốt quá trình ủ hiếu khí. Trong pha ưa nhiệt, quá trình oxy hóa
và hình thành các phức hợp hữu cơ - kim loại (organo-metallic complexes) xảy ra
có thể làm giảm hàm lượng các kim loại hòa tan. Các chất mùn cũng có thể gắn với
các phần kim loại trao đổi [21]. Các tác nhân sinh học như Phanerochaete
chrysosporium có thể tích lũy các ion kim loại trong tế bào của chúng bằng sự hấp
thu nội bào và cũng có thể tạo phức (chelate) các ion kim loại bằng gốc carboxyl,
hydroxyl hoặc các nhóm chức năng hoạt động khác trên bề mặt vách tế bào (kể cả tế
bào chết) [38]. Vi khuẩn cũng có thể làm giảm hàm lượng kim loại trao đổi trong
compost bằng cách chiết xuất một tác nhân tạo phức (chelating agent) được gọi là
siderophore. Siderophore là các ligand đặc hiệu Fe (III) và có thể kết gắn với các
kim loại khác, như Mg, Mn, Cr (III), Ga (III) và các nguyên tố phóng xạ khác như
là plutonium (IV). Siderophore gắn với các kim loại kể cả các kim loại độc như Pb
và Cd [24] giúp giữ kim loại nặng khỏi chuỗi thức ăn.
Mặt khác, trong quá trình ủ hiếu khí bùn thải, sinh khối đống ủ sẽ trở nên nóng
đến khoảng nhiệt độ khử trùng Pasteur từ 55 đến 70oC, dẫn đến tiêu diệt các vi sinh
vật gây bệnh và ký sinh trùng đường ruột. Nhiệt lượng này được sinh ra liên quan
trực tiếp đến sự phân hủy sinh học các cơ chất hữu cơ của vi sinh vật ưa nhiệt cao
trong đống ủ.
Với ý nghĩa đó, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi nghiên cứu đề tài:
Đánh giá khả năng phân hủy bùn thải của các chủng vi khuẩn ưa nhiệt được
tuyển chọn
Định danh các chủng vi khuẩn ưa nhiệt được tuyển chọn
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về bùn thải
1.1.1. Khái niệm bùn thải
Bùn thải nói chung là sản phẩm sau cùng của một quá trình xử lý nước thải, là
một hỗn hợp nhớt (hay bán rắn) chứa hỗn hợp chất hữu cơ, vi sinh vật, kim loại độc
hại, hóa chất tổng hợp…
1.1.2. Đặc điểm bùn thải
Nghiên cứu đặc tính của bùn thải và nhận thấy bùn thải có chứa hàm lượng nước
đáng kể lên tới 99% đối với bùn thô; hàm lượng cao của chất hữu cơ có thể được
phân hủy sinh học, đạt đến 75% chất khô; hàm lượng cao của các thành phần làm
giàu cho đất (đạm lên đến 8,75% chất khô, P lên đến 8,28% chất khô, K lên đến
0,8% chất khô, Ca lên đến 8,11% chất khô và Mg lên đến 0,72% chất khô); hàm
lượng khác nhau của các kim loại nặng (Pb, Cd, Hg, Ni, Zn, Cu, Cr), hàm lượng cao
nhất được phát hiện trong chất thải từ các nhà máy xử lý nước thải ở các thành phố
công nghiệp nặng;và hàm lượng nhỏ các chất hữu cơ độc hại (PAH, các hợp chất
clo - PCB).
Bên cạnh đó là một mật độ cao các ký sinh trùng động vật và vi khuẩn gây bệnh
giấy, bùn thải được tách ra từ quá trình xử lý tập trung các dòng nước thải thu gom
được trong dây chuyền sản xuất của nhà máy gồm: (i) bùn sơ cấp (chủ yếu là xơ sợi
thải), (ii) bùn thứ cấp chứa vi sinh.
Trong khi bùn thải của nhà máy mía đường nói chung gồm có: sáp thô và chất
béo, đường tan, chất xơ, protein, tro tổng số và các chất khác…
1.1.3. Hiện trạng thải bỏ bùn thải.
Ngày nay cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp đặc biệt là công
nghiệp chế biến nông sản, vấn đề quản lý chất thải từ các ngành này đang là một
mối quan tâm lớn. Trên thực tế, ở nước ta, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về
công nghệ xử lý nước thải, nhiều trạm xử lý nước thải đã được xây dựng và đi vào
hoạt động để xử lý nước cấp, nước thải cho các nhà máy chế biến nông sản. Tuy
nhiên, chúng ta mới chỉ tập trung quan tâm đến vấn đề xử lý nước mà vẫn chưa có
nhiều nghiên cứu về xử lý bùn thải cho các trạm xử lý trên.
6
Bùn thải sau khi xử lý phần lớn được thu gom và chuyển đến các bãi chôn lấp
hoặc dùng làm phân bón cho nông nghiệp. Bên cạnh đó, trong quá trình xử lý nước
thải bằng bùn hoạt tính, có khoảng 30 - 40% các chất hữu cơ được chuyển thành
dạng bùn, nếu không có biện pháp xử lý thích hợp sẽ gây ra tái ô nhiễm môi trường.
Tại Tp Hồ Chí Minh, tổng khối khối lượng bùn thải ước tính từ 3.000 – 4.000
m3/ngày đêm (tương đương từ 5.000 - 6.000 tấn/ngày đêm). Bùn thải các loại trên
thường đổ xả để có chi phí thấp nhất. Ước tính chi phí xử lý các loại bùn trên
khoảng 300.000 đồng/tấn và trên dưới 1.000 tỉ đồng/năm, thậm chí còn cao hơn. Dự
báo đến năm 2015 số lượng bùn thải sẽ tăng lên khoảng 3 triệu tấn/tháng, năm 2020
sẽ không dưới 4 triệu tấn/tháng. Trong đó, bùn thải nguy hại hiện nay có khoảng
250 - 300 tấn/ngày, chưa kể đến bùn thải từ các tỉnh lân cận đưa về thành phố để xử
lý từ 150 - 200 tấn/ngày. Tp Hồ Chí Minh đã từng thực hiện dự án xây dựng nhà
máy xử lý bùn Bình Hưng Hòa và Bình Hưng nhằm mục đích xử lý bùn thải từ nhà
thải vào các mục đích khác nhau như sản xuất phân bón vi sinh, tạo ra năng lượng
(biogas, điện, nhiệt…) hay vật liệu xây dựng… (hình 1).
Hình 1: Các phương pháp xử lý bùn thải
- Phương pháp chôn lấp: trong các phương pháp xử lý chất thải rắn, chôn lấp là
phương pháp phổ biến và đơn giản nhất. Phương pháp này áp dụng rộng rãi ở hầu
hết các nước trên thế giới. Thực chất, chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải
trong một bãi và có phủ đất lên trên. Trước kia bùn thải sinh học thường được xử
8
lý bằng phương pháp chôn lấp, tuy nhiên biện pháp xử lý này vừa lãng phí nguồn
nguyên liệu (hàm lượng chất hữu cơ trong bùn cao), tốn diện tích đồng thời vẫn là
nguồn gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tầng nước ngầm. Ngày nay, các nhà khoa
học đang nỗ lực để nghiên cứu xử lý bùn thải sinh học theo hướng tái chế bùn thải
sinh học tạo ra các sản phẩm hữu ích, thân thiện môi trường phục vụ cho các mục
đích khác nhau của con người.
- Phương pháp thiêu đốt: phương pháp này là nguyên nhân gây ô niễm không
khí
- Đổ bỏ bùn thải vào đại dương: phương pháp này có thể tạo ra các đại dương
chết
- Khí hóa: là phương pháp sử dụng bùn thải tại các nhà máy khí hóa sinh khối,
chuyển đổi bùn thải thành khí tổng hợp. Ưu điểm của phương pháp này là khi năng
lượng được tái tạo, bùn thải có thể được tích tụ vào hệ thống xử lý nước thải làm
cho các nhà máy xử lý nước thải trở thành mạng lưới xuất khẩu năng lượng tái tạo
thay vì sử dụng điện năng từ các nhà máy cung cấp điện như hiện nay.
- Ủ hiếu khí bùn thải nhằm tái sử dụng bùn thải làm phân bón
1.2. Tổng quan về các chủng vi sinh vật ưa nhiệt
1.2.1. Vi sinh vật ưa nhiệt
Khái niệm
đơn bào,…
Thành phần chủ yếu của nhóm này là vi khuẩn (ví dụ như Synechococus eximius,
Bacillus stearothermophilus,…), xạ khuẩn, một số ít là tảo và nấm.
10
Bảng 1: Thành phần một số nguyên tố chủ yếu trong tế bào một số nhóm vi sinh vật
(% trọng lượng khô) [8]
Nguyên tố
Vi khuẩn
Nấm men
Nấm sợi
C
~ 50
~ 50
~ 40
H
~8
~7
Hình 3:Phạm vi nhiệt độ sinh trưởng của vi sinh vật
1.2.2. Vi sinh vật ưa nhiệt và vai trò trong ủ phân hữu cơ
a. Vai trò của vi sinh vật ưa nhiệt trong các pha (phase) của quá trình ủ phân
hữu cơ
Quá trình ủ phân compost nhiệt trải qua 4 pha (phase):
11
- Pha ưa nhiệt trung bình (Mesophilic phase): Pha này là giai đoạn chiếm ưu thế
của các nhóm vi sinh vật ưa nhiệt trung bình, chúng sẽ phân huỷ các chất dễ hoà
tan. Nhiệt mà chúng sản xuất ra là nguyên nhân làm cho nhiệt độ của đống ủ tăng
lên nhanh chóng. Ở pha này nhiệt độ tăng đến 42oC. Thời gian kéo dài từ khi bắt
đầu ủ cho đến sau khoảng vài ba ngày
- Pha ưa nhiệt cao (Thermophilic phase): Khi nhiệt độ tăng trên 40oC, những
nhóm vi sinh vật ưa nhiệt trung bình sẽ mất dần tính cạnh tranh và được thay vào đó
bởi nhóm vi sinh vật ưa nhiệt cao hay còn gọi là vi sinh vật ưa nhiệt. Khi nhiệt độ
đạt đến 55oC và có thể lên đến 65oC, nhiều vi sinh vật gây hại cho người và cây
trồng sẽ bị chết. Bởi vì nhiệt độ vượt quá 65oC sẽ giết chết nhiều nhóm vi khuẩn và
quá trình phân huỷ cũng bị giới hạn. Vì vậy chúng ta phải sử dụng các biện pháp
như thông khí, đảo trộn để giữ nhiệt độ luôn ở mức này. Trong suốt pha nhiệt, nhiệt
độ cao sẽ giúp cho các vi sinh vật phân huỷ các hợp chất protein, lipid và các
carbohydrate phức tạp như cellulose và hemicellulose- là thành phần cấu trúc chính
của tế bào thực vật. Thời gian có thể kéo dài đến vài tháng.
- Pha lạnh (Cooling phase): Khi những hợp chất cung cấp năng lượng đó giảm,
nhiệt độ của đống ủ cũng sẽ giảm và các vi sinh vật ưa nhiệt trung bình lại một lần
nữa quay trở lại chiếm ưu thế.
- Pha chín (Maturing phase): Phân hữu cơ chín được sản xuất tại pha này với sự
tiếp tục giảm nhiệt độ xuống đến nhiệt độ môi trường xung quanh. Hoạt động vi
sinh vật rất thấp với sự hình thành tiếp tục của chất mùn và sự ổn định xảy ra. [7]
b. Thành phần và vai trò của vi sinh vật ưa nhiệt trong đống ủ
trong đống ủ bao gồm chủ yếu các chủng vi sinh vật phân huỷ celluose, vi sinh vật
phân giải protein, vi sinh vật phân giải tinh bột, vi sinh vật phân giải phosphate.
- Vi sinh vật phân hủy cellulose: Trong tự nhiên có nhiều nhóm vi sinh vật có khả
năng phân huỷ cellulose nhờ có hệ enzyme cellulase ngoại bào. Trong đó vi nấm là
nhóm có khả năng phân giải mạnh vì nó tiết ra môi trường một lượng lớn enzyme
có đầy đủ các thành phần. Nấm mốc có hoạt tính phân giải celluose, đáng chú ý là
Tricoderma. Hầu hết các loài thuộc chi Tricoderma sống hoại sinh trong đất, rác và
có khả năng phân huỷ celluose. Trong nhóm vi nấm, ngoài Tricoderma còn có rất
nhiều chi khác có khả năng phân giải cellulose như Aspergillus, Fusarium, Mucor...
Nhiều loài vi khuẩn cũng có khả năng phân huỷ cellulose, tuy nhiên cường độ
không mạnh bằng vi nấm. Nguyên nhân là do số lượng enzyme tiết ra môi trường
của vi khuẩn thường nhỏ hơn, thành phần các loại enzyme không đầy đủ. Thường ở
trong đống ủ có ít loài vi khuẩn có khả năng tiết ra đầy đủ bốn loại enzyme trong hệ
enzyme cellulose. Nhóm này tiết ra một loại enzyme, nhóm khác tiết ra loại khác,
chúng phối hợp với nhau để phân giản cơ chất trong mối quan hệ hỗ sinh. Ngoài vi
13
nấm và vi khuẩn, xạ khuẩn và niêm vi khuẩn cũng có khả năng phân huỷ cellulose.
Người ta thường sử dụng xạ khuẩn, đặc biệt là Streptomyces trong việc phân huỷ
rác thải sinh hoạt. Những xạ khuẩn này thường thuộc nhóm ưa nóng, sinh trưởng và
phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 45-50oC, rất thích hợp với quá trình ủ rác thải.
- Vi sinh vật phân hủy protein: Trong môi trường đống ủ, N tồn tại ở các dạng
khác nhau, từ N phân giải ở dạng khí cho đến các hợp chất hữu cơ phức tạp có trong
cơ thể động thực vật. Trong cơ thể sinh vật, N tồn tại chủ yếu dưới dạng các hợp
chất đạm như protein, acid amin. Khi cơ thể sinh vật chết đi, lượng N này hữu cơ
này tồn tại trong đất (chất thải hữu cơ). Dưới tác dụng của các nhóm vi sinh vật hoại
sinh, protein được phân giải thành các acid amin. Các acid amin này lại được một
nhóm vi sinh vật phân giải thành NH3 hoặc NH4+ gọi là nhóm vi khuẩn amon hoá.
Quá trình này gọi là sự khoáng hoá chất hữu cơ vì qua đó, N hữu cơ được chuyển
các hợp chất hữu cơ một cách tự nhiên không được kiểm soát, nhiệt độ trong đống ủ
chất thải có thể tự gia tăng do hoạt động của các vi sinh vật ưa nhiệt trung bình (2540°C) và ưa nhiệt cao (50-70°C). Sản phẩm cuối cùng của ủ hiếu khí là một sản
phẩm sinh học ổn định như mùn (compost), được sử dụng làm phân bón hữu cơ.
Mục tiêu chính của quá trình này là ổn định, giảm lượng chất thải, loại bỏ các tác
nhân gây bệnh và giảm thiểu hàm lượng kim loại nặng (nếu có) trong chất thải hữu
cơ. Hầu hết chất thải hữu cơ đều có thể được xử lý bằng phương pháp này. Việc xử
lý sơ bộ các chất thải hữu cơ bằng ủ hiếu khí trước khi chôn lấp có thể hạn chế sự
phát thải các khí nhà kính.
Phương pháp ứng dụng vi sinh vật rất quan trọng trong quá trình ủ hiếu khí. Trên
thực tế, hệ vi sinh vật cần thiết cho quá trình này đã có sẵn trong nguyên liệu hữu
cơ, chúng có thể tự thích nghi và phát triển theo từng giai đoạn của quá trình ủ hiếu
khí. Tuy nhiên, việc bổ sung vi sinh vật hoặc enzyme của chúng cùng với việc kiểm
soát tốt các điều kiện môi trường cho hoạt động của vi sinh vật chính là nhân tố
quyết định sự thành công của quá trình ủ hiếu khí.
Gaur (1982) đã nghiên cứu bổ sung vào đống ủ các nấm phân hủy cellulose và
lignin, đó là Trichuris spiralis, Paeciliomyces fusisporus, Trichoderma và
Aspergillus spp. Kết quả cho thấy việc bổ sung này đã làm giảm đáng kể thời gian
15