Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................4
PHẦN 1. BÁN LẺ VÀ CẠNH TRANH BÁN LẺ.........................................6
1. Hệ thống bán lẻ........................................................................................6
1.1. Thương mại bán lẻ.............................................................................6
1.2. Qúa trình hình thành của thương mại bán lẻ......................................6
2. Cạnh tranh và cạnh tranh trong thương mại bán lẻ............................8
2.1. Cạnh tranh..........................................................................................8
2.2. Cạnh tranh trong thương mại bán lẻ...................................................9
Cơ sở hạ tầng.....................................................................................9
Chất lượng hàng hóa..........................................................................9
Phương thức phân phối......................................................................9
Chất lượng dịch vụ.............................................................................9
Hệ thống kho tàng..............................................................................9
Xúc tiến thương mại...........................................................................9
Công tác hậu cần...............................................................................9
Vấn đề nguồn nhân lực.......................................................................9
Quản lý chuyên nghiệp.......................................................................9
Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp...........................................9
3. Năng lực cạnh tranh của thương mại bán lẻ.......................................10
3.1. Năng lực cạnh tranh.........................................................................10
3.1.1. Năng lực cạnh tranh...............................................................10
3.1.2. Tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh................................11
giá cả sản phẩm và dịch vụ: đây là yếu tố đầu tiên tao lợi thế cạnh
tranh cho doanh nghiệp trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay,
doanh nghiệp tiết kiệm chi phí trong thu mua hàng hóa sẽ giảm thiểu
được chi phí cho hàng hóa khi đó sẽ có giá cả dịch vụ thấp hơn so
với đối thủ cạnh tranh;......................................................................11
doanh nghiệp, nếu một doanh nghiệp có lao động thấp kém thì doanh
nghiệp đó không thể tồn tại được, với các doanh nghiệp bán lẻ thì
nhân viên bán hàng có vị trí sống còn của doanh nghiệp, cách phục
vụ của người bán hàng cho khách sẽ đưa hình ảnh của doanh nghiệp
tới khách hàng, kéo khách hàng với doanh nghiệp lại gần nhau hơn,
SV: Trịnh Mai Hương
2
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
một doanh nghiệp có đội ngữ lao động mạnh sẽ là một doanh nghiệp
mạnh bới yếu tố con người là quan trọng trong mọi doanh nghiệp; 12
thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần: thể
hiện khả năng chiếm lĩnh thị phần của doanh nghiệp đến đâu, thị
phận càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp lớn mạnh có năng lực cạnh
tranh lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh;....................................13
vị thế tài chính: đây là yếu tố chính để doanh nghiệp phát triển mở
rộng quy mô hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của
doanh nghiệp cả hiện tại và tương lai;.............................................13
năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp: đây là yếu tố quyết định
sự lớn mạnh của doanh nghiệp.........................................................13
3.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của thương mại bán
lẻ Việt Nam.............................................................................................13
PHẦN 2. THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA THƯƠNG MẠI BÁN LẺ VIỆT NAM.........15
1. Thực trạng môi trường kinh doanh.....................................................15
2. Kinh doanh của thương mại bán lẻ Việt Nam....................................18
doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh với các
doanh nghiệp trong nước nữa mà phải cạnh tranh với các đối thủ nặng ký từ
nước ngoài mạnh về tài chính và phương thức quản lý hiện đại…Không đứng
ngoài xu thế đó các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đang phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn trong khi đó thời điểm mở cửa thị trường đang đến gần. Thua
kém các doanh nghiệp nước ngoài về mọi mặt, từ cơ sở vật chất, đến cung
cách phục vụ, hoạt động quản lý…các doanh nghiệp bán lẻ trong nước đang
từng bước tìm chỗ đứng cho mình trên thị trường để có thể tồn tại được. Các
doanh nghiệp không ngừng mở rộng hệ thống kênh phân phối của mình để
tiếp cận thị trường đầy tiềm năng khi tốc độ tiêu dùng của người dân tăng cao
qua các năm. Không để thua trên sân nhà các doanh nghiệp bán lẻ trong nước
cần nỗ lực xây dựng hệ thống các kênh thương mại hiện đại phát triển một
cách bền vững, luôn luôn coi trọng yếu tố con người là hàng đầu. Xây dựng
tính chuyên nghiệp trong toàn bộ hệ thống: chuyên nghiệp trong bán hàng,
chuyên nghiệp trong phục vụ, chuyên nghiệp trong quản lý…từng bước cải
thiện vị trí kinh doanh của mình trên thị trường nhằm từng bước nâng cao
năng lực cạnh tranh. Không chỉ vậy việc xây dựng hệ thống quản lý chất
lượng trong doanh nghiệp là nhu cầu bức thiết hiện nay, đời sống được nâng
cao nên nhu cầu tiêu dùng cũng tăng theo, hàng hóa không chỉ đáp ứng nhu
cầu mà còn phải đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy lấy
SV: Trịnh Mai Hương
4
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
chất lượng làm đầu sẽ giúp cho doanh nghiệp đứng vững trong điều kiện cạnh
Các hình thức của thương mại bán lẻ:
- Phân phối từ nhà sản xuất → thương mại hiện đại ( siêu thị, trung tâm
thương mại, đại lý...) → người tiêu dùng
- Nhà sản xuất → chợ truyền thống → người tiêu dùng
1.2. Qúa trình hình thành của thương mại bán lẻ
Do sự phát triển của kinh tế hàng hóa, nhu cầu trao đổi hàng hóa của con
người tăng lên do vậy con người cần một thị trường để có thể trao đổi hàng
hóa, thông thương buôn bán với nhau và dần dần các chợ hàng hóa được hình
thành, ban đầu chỉ do tự phát họp thành nơi tập trung gọi là các “ chợ cóc”
sau đó hình thành các ban quản lý các “chợ” này.
Kinh tế phát triển, đời sống được nâng cao, nhu cầu của con người tăng
lên, không chỉ đòi hỏi có hàng hóa mà còn yêu cầu về chất lượng hàng hóa
dịch vụ, sự đa dạng về chùng loại dẫn đến sự ra đời của thương mại bán lẻ
hiện đại, các siêu thị, đại siêu thị, các trung tâm thương mại…
Theo kết quả điều tra của TNS cho thấy, tính đến tháng 6/2008, thương
mại hiện đại ở Việt Nam đã chiếm 18%. Các cửa hàng trên phố chiếm 61%,
hình thức chợ chiếm 13%, các hình thức còn lại chiếm 7%. Tuy nhiên, với tốc
SV: Trịnh Mai Hương
6
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
độ tăng trưởng như hiện nay, người ta cho rằng đến 2009 thương mại hiện đại
sẽ tăng trưởng nhanh và chiếm gấp đôi so với hình thức chợ.
Do cuộc sống bận rộn, đời sống được nâng cao, người dân có dần có thói
quen đi mua sắm cuối tuần dùng cho nhu cầu cả tuần của gia đình để tiết kiệm
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
hàng đến nhiều mà còn làm sao thỏa mãn được nhu cầu khách hàng một cách
tốt nhất, đem đến sự tiện ích cho khách hàng.
Không chỉ tăng trưởng mạnh về quy mô, trong vòng 4 năm qua giá trị
của thương mại hiện đại cũng tăng gấp đôi, chi tiêu của thương mại hiện đại
thường xuyên gia tăng 17%/ năm và chỉ tiêu/ lần là 87 nghìn đồng/ lần. Như
vậy thương mại hiện đại đang phát triển mạnh mẽ đang từng bước nâng cao
nhu cầu sống cho người dân, có thể nhận thấy thương mại hiện đại đã làm cho
cuộc sống của người dân dễ dàng hơn: 83% thích chất lượng sản phẩm; 83%
thích sự đa dạng; 82% đổi mới và khuyến mại; 76% thoải mái và sạch/an
toàn. Tuy nhiên nhiều người tiêu dùng không thích thương mại điện tử bởi vì
họ cho rằng giá đắt hơn và họ không biết rằng neus mua hàng với khối lượng
lớn giá cả sẽ rẻ hơn 8% so với hình thức mua hàng truyền thống. Chính vì vậy
để thương mại hiện đại phát triển hơn nữa, đi thực sự vào đời sống của người
dân, khi đó sẽ không còn các hình thức bán hàng truyền thống nữa mà thay
vào đó là hệ thống thương mại hiện đại. Đó sẽ là xu thế tất yếu của xã hội
hiện nay
Một bất lợi khác nữa được 47% khách hàng phản ánh là khó mang về;
40% ít nhận được tư vấn từ khách hàng; 34% xa nhà. Bên cạnh đó, hình thức
thương mại truyền thống ở Việt Nam dù sao vẫn có một lợi thế là đã hoạt
động rất nhiều năm nên người tiêu dùng quen sử dụng, và vì gần nhà họ.
2. Cạnh tranh và cạnh tranh trong thương mại bán lẻ
2.1. Cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung là sự phấn đấu , vươn lên không ngừng để giành
lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới,
tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất
doanh nghiệp khác để có thể tồn tại được trong xu thế toàn cầu như hiện nay
thì cạnh tranh là yếu tố không thể tránh khỏi, doanh nghiệp phải xây dựng
được hình ảnh, vị trí của mình trên thị trường. Để có thể cạnh tranh tốt doanh
SV: Trịnh Mai Hương
9
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
nghiệp không ngừng tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình ở mọi quá trình, mọi
khâu.
3. Năng lực cạnh tranh của thương mại bán lẻ
3.1. Năng lực cạnh tranh
3.1.1. Năng lực cạnh tranh
Có rất nhiều khái niệm về năng lực cạnh tranh được đưa ra:
Theo OECD ( Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ) đưa ra định nghĩa:
Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử
dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành,
các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện
cạnh tranh quốc tế.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ
được nhanh chóng trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên
cùng thị trường. Hay nói cách khác năng lực sản phẩm được đo bằng thị phần
của sản phẩm đó, năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng
của nó, tốc độ cung ứng, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu
quảng cáo, điều kiện mua bán…
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra
được lợi thế cạnh tranh có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn
mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các
lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản
xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy nhiên, để đánh
giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các
yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau
và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng. Các doanh
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có
các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy, vẫn có thể
tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
bao gồm:
•giá cả sản phẩm và dịch vụ: đây là yếu tố đầu tiên tao lợi thế cạnh tranh
cho doanh nghiệp trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, doanh nghiệp tiết
kiệm chi phí trong thu mua hàng hóa sẽ giảm thiểu được chi phí cho hàng hóa
khi đó sẽ có giá cả dịch vụ thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh;
SV: Trịnh Mai Hương
11
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
•chất lượng sản phẩm và bao gói: vấn đề chất lượng sản phẩm hiện nay
tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp nào có chất lượng tốt, tạo nên hình
ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng, là lợi thế cho doanh nghiệp
tồn tại và phát triển bền vững trong điều kiện môi trường kinh doanh biến
động;
•kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng: đây là biện pháp mà
doanh nghiệp tiếp cận khách hàng,hệ thống kênh phân phối thuận tiện, nhanh
chóng đem đến lợi ích cho khách hàng một cách nhanh nhất, thuận tiện cho
nghiệp;
•thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần: thể
hiện khả năng chiếm lĩnh thị phần của doanh nghiệp đến đâu, thị phận càng
lớn chứng tỏ doanh nghiệp lớn mạnh có năng lực cạnh tranh lớn hơn so với
các đối thủ cạnh tranh;
•vị thế tài chính: đây là yếu tố chính để doanh nghiệp phát triển mở rộng
quy mô hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp
cả hiện tại và tương lai;
•năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp: đây là yếu tố quyết định sự
lớn mạnh của doanh nghiệp.
3.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của thương mại bán lẻ
Việt Nam
Theo cam kết WTO, đến ngày 1/1/2009 sẽ mở của hoàn toàn thị trường
bán lẻ khi đó Việt Nam sẽ cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài trong lĩnh vực phân phối và bán lẻ được hoạt động trên thị trường VN.
Cạnh tranh trên thị trường phân phối bán lẻ VN tăng cao khi xuất hiện nhiều
tập đoàn quốc tế. Nhận định hoạt động phân phối và bán lẻ tại thị trường VN
sẽ phát triển mạnh sau năm 2009. Các doanh nghiệp nước ngoài vào sẽ là
thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Trong khi đó
đây là thị trường rất tiềm năng trong năm 2008, hiện nay Việt Nam đứng thứ
1 trong bảng xếp hạng có môi trường hấp dẫn, hàng năm dịch vụ phân phối
bán lẻ chiếm 15% GDP. Điều đó cho thấy thị trường này như một cái bánh
ngọt chưa được khai thác hết và dường như cái bánh này sẽ được chia nhỏ
trong thời gian tới khi có sự xuất hiện của các tập đoàn lớn trên thế giới vào
Việt Nam đặc biệt là tập đoàn bán lẻ khổng lồ Wal-mart. Do vậy để tồn tại
SV: Trịnh Mai Hương
13
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
PHẦN 2. THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA THƯƠNG MẠI BÁN LẺ
VIỆT NAM
1. Thực trạng môi trường kinh doanh
Mặc dù toàn cầu hóa làm các nền kinh tế trên thế giới xích lại gần nhau,
nhưng ở mỗi nền kinh tế vẫn tồn tại sự khác nhau. Nền kinh tế Việt Nam đang
từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, đời sống dân cư được từng bước
nâng cao, khoảng cách giàu nghèo ngày càng được rút ngắn. Do vậy môi
trường kinh doanh của ngành bán lẻ tăng trưởng rất nhanh qua các năm gần
đây đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì mức độ tăng này lại càng
lớn.
Thứ nhất, thị trường bán lẻ Việt Nam là thị trường tiềm năng, có sức hấp
dẫn lớn. Tốc độ tăng trưởng của thị trường bán lẻ trung bình các năm đều đạt
20% riêng năm 2007 tăng 25-27%. Trong năm 2008 tốc độ tăng trưởng thị
trường lên đến 30,9% tuy nhiên lạm phát lại rất cao nên tốc độ tăng thực của
thị trường chỉ vào khoảng 10% đó cũng là con số tích cực của thị trường bán
lẻ trong điều kiện hiện nay. Bên cạnh đó theo kết quả đánh giá mức độ hấp
dẫn của thị trường bán lẻ trong 30 nền kinh tế mới nổi đối với các tập đoàn
bán lẻ do hãng tư vấn Mỹ A.T.Kearney tiến hành khảo sát, mức độ hấp dẫn
của thị trường bán lẻ Việt Nam đã tăng 5 bậc so với năm 2005, 2006 Việt
Nam đứng vị trí số 3 đứng sau Ấn Độ, Nga, trên bảng xếp hạng và đến năm
2007 Việt Nam đã tụt một bậc đứng vị trí thứ 4 sau Ấn Độ, Nga, Trung Quốc.
Năm 2008 này lần đầu tiên Việt Nam vươn lên ngôi vị thị trường hấp dẫn
nhất thế giới vượt qua Ấn Độ. Đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt
Nam trong việc phát triển hoạt động kinh doanh và chiếm lĩnh thị trường
nhưng cũng là thách thức không nhỏ khi thị trường mở cửa áp lực cạnh tranh
Châu Á với hơn 79 triệu người ở tuổi dưới 65, dân cư có độ tuổi dưới 30
chiếm trên 50% dân số cả nước tiêu thụ tăng 75% trong giai đoạn 2000-2007.
Thứ tư, chưa bao giờ thị trường bán lẻ lại sôi động như hiện nay.Các
doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam không chỉ đối mặt với các đồi thủ trong nước
mà còn phải cạnh tranh rất lớn đối với doanh nghiệp nước ngoài. Sắp tới
1/1/2009 sẽ có một cuộc thay đổi lớn đối với thị trường bán lẻ Việt Nam.
SV: Trịnh Mai Hương
16
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
Theo đó, các tập đoàn, nhà đầu tư quốc tế sẽ có thể thành lập công ty bán lẻ
100% vốn nước ngoài thay vì phải xin phép hoặc liên doanh như trước. Điều
đó cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt trực
tiếp với các tập đoàn đa quốc gia mạnh về tài chính, nguồn lực, cung cách
quản lý hiện đại và tiềm lực vượt trội về thị trường.
Hàng loạt các siêu thị mọc lên, rất nhiều “ đại gia” bán lẻ trên thế giới đã
có mặt tại Việt Nam như Big C, Metro Cash & Carry (Đức), Bourbon (Pháp),
Diary Farm, Parkson thuộc tập đoàn Lion (Malaysia), Zen Plaza (Nhật Bản),
Diamond Plaza ( Hàn Quốc)… và theo như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện đã
có thêm nhiều tập đoàn đa quốc gia khác có kế hoạch xâm lược thị trường
Việt Nam như Carefour (Pháp), Tesco (Anh), Lotte Shopping, South Asia
Investment (Singapore) và đặc biệt là sự xuất hiện của tập đoàn bán lẻ lớn
nhất thế giới Wal-Mart ( Mỹ ) sẽ làm cho mức độ cạnh tranh trong ngành tăng
lên thậm chí là khốc liệt ở đó chỉ có doanh nghiệp nào mạnh thì tồn tại còn
doanh nghiệp yếu không trụ vững được sẽ phải rút lui.
cạnh đó cần có các chiến lược hoạt động thích hợp, đổi mới phương thức
quản lý để thích ứng mới có thể tồn tại được.
2. Kinh doanh của thương mại bán lẻ Việt Nam
2.1. Quá trình phát triển của thương mại bán lẻ
Đời sống được nâng cao kéo theo nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng
lên dẫn đến thương mại bán lẻ nhanh chóng phát triển. Ban đầu chỉ là các “
chợ cóc ” nhỏ lẻ họp một cách tự phát không có sự quản lý do nhu cầu mua
bán hàng hóa phát sinh. Sau đó phát triển thành các quầy bán lẻ, siêu thị, đại
siêu thị và trung tâm thương mại như hiện nay và hiện nay thương mại bán lẻ
trở thành một lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm năng và không ngừng lớn mạnh.
Mô hình siêu thị xuất hiện tại Việt Nam những năm đầu thập kỷ 90 của
thế kỷ 20, nhưng chỉ dừng ở mức độ tương đối sơ khai của một mô hình bán
hàng hiện đại. Tức là mới chỉ có các siêu thị hoặc chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện
ích mà chưa có đại siêu thị, tổng kho phân phối.
Theo thống kê của Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam, năm 1995 cả nước mới có
10 siêu thị và và 2 trung tâm thương mại thì đến 2007 cả nước có trên 140
SV: Trịnh Mai Hương
18
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
siêu thị và đại siêu thị, 20 trung tâm thương mại đang hoạt động và gần 1 triệu
m2 mặt bằng kinh doanh bán lẻ đang được đầu tư phát triển.
Cho đến năm 2005, theo thống kê của Bộ Công thương, cả nước mới có
khoảng 200 siêu thị, 30 trung tâm thương mại và gần 1.000 cửa hàng tiện ích
họat động tại 30/64 tỉnh thành. Đến tháng 4.2008 này, con số đã tăng gấp đôi,
đang gia tăng tốc độ “phủ sóng” ở các địa phương. Mạng lưới rộng và có
doanh thu lớn nhất Việt Nam hiện nay là hệ thống Co-opmart với 30 siêu thị
và gần 100 cửa hàng tự chọn. Ông Nguyễn Ngọc Hoà, tổng giám đốc Sài Gòn
Co-op cho biết: đến năm 2010 Co-opmart sẽ mở rộng hệ thống thành 50 siêu
thị và đến 2015 là 100 siêu thị trên toàn quốc.
Kế đến là Vinatexmart có 45 siêu thị đang kinh doanh. Bà Nguyễn Thị
Hồng Hương, tổng giám đốc Vinatexmart khẳng định: từ nay đến năm 2010
sẽ lập 80 siêu thị. Hệ thống Hapro đã có 11 siêu thị, 16 cửa hàng tiện ích và sẽ
nâng lên thành 5 đại siêu thị, trung tâm thương mại, 70 siêu thị, 800 cửa hàng
tiện ích trong thời gian từ nay đến 2010. Tập đoàn bán lẻ Phú Thái cũng sẽ
phát triển lên 100 siêu thị, 5.000 đại lý bán buôn, 50.000 cửa hàng bán lẻ trên
toàn quốc...
Không chỉ các doanh nghiệp Việt Nam ráo riết mở rộng hoạt động kinh
doanh để tiếp cận thị trường dễ dàng hơn, các doanh nghiệp nước ngoài cũng
không chịu ngồi yên. Cuối tháng 9, Tập đoàn Metro (Ðức) khai trương Trung
tâm phân phối thứ tám và đầu tháng 10, Tập đoàn Dairy Farm (Hồng Công) ra
mắt siêu thị đầu tiên. Trước đó là Bic C (Pháp) và tiếp theo là Wal-Mart
(Mỹ), Parson (Malaysia)... những tên tuổi lớn trong ngành phân phối thế giới
và khu vực đang gấp rút chuẩn bị cuộc "đổ bộ" vào thị trường nước ta.
Trước tình trạng phát triển mạnh mẽ như một “ cuộc cách mạng mới ”
trong ngành bán lẻ hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam không nên phát triển
một cách ồ ạt mà nên có quy củ, liên kết với nhau để phát triển lớn mạnh cả
về số lượng cũng như chất lượng tạo ra sức mạnh cạnh tranh chứ không nên
chỉ chạy theo số lượng như hiện nay.
2.2. Thực trạng kinh doanh của thương mại bán lẻ hiện nay
Trong khi các doanh nghiệp nước ngoài “ bành trướng thế lực” của mình
thì các doanh nghiệp trong nước cũng đang ráo riết chuẩn bị kế hoạch “ chạy
SV: Trịnh Mai Hương
sức thu hút hơn so với các siêu thị trong cả nước. Trong khi đó các doanh
nghiệp bán lẻ trong nước cũng đẩy mạnh hoạt động phân phối, mở rộng quy
mô, thiết lập hệ thống chuỗi cửa hàng… nhanh chóng tiếp cận người tiêu
dùng.
SV: Trịnh Mai Hương
21
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
Thứ hai, doanh thu bán lẻ tăng nhanh chóng
Theo số liệu từ tổng cục thống kê
Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng
2003
2004
2005
2006
2007
Doanh thu 333809.3 398524.5 480293.5 596207.1 726113
2008
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
không được giải quyết, 49% được doanh nghiệp cho đổi lại hàng, 20% không
được giải quyết dứt khoát để dây dưa kéo dài. Nhiều doanh nghiệp kinh
doanh hàng hóa nhập lậu, hàng hóa không rõ nguồn gốc hoặc không có bộ
phận bảo hành nên không thực hiện tốt nghĩa vụ bảo hành. Một số doanh
nghiệp lại thực hiện nghĩa vụ bảo hành không đầy đủ như, vi phạm thời gian
sửa chữa, bắt người tiêu dùng phải chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển…và
theo thống kê cho biết với 94% khách hàng yêu cầu bảo hành, chỉ có 8%
doanh nghiệp chu đáo với khách hàng, 36% doanh nghiệp không chịu trách
nhiệm bảo hành. Về thái độ giải quyết của nhân viên, chỉ có 24% vui vẻ, 42%
khó chịu và 34% không tỏ thái độ. Ngoài ra nhiều nhân viên bán hàng còn tỏ
thái độ thách thức, gây ức chế khiến người tiêu dùng nản lòng và bỏ cuộc
không muốn kiện cáo.
Đó là những vấn đề nổi cộm nhất trong kinh doanh bán lẻ hiện nay, các
doanh nghiệp cần nhìn nhận lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình
để có thể xác định được doanh nghiệp mình đã làm được gì và chưa làm được
gì. Từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh thích hợp đáp ứng xu hướng kinh
doanh hiện nay.
3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
3.1. Đánh giá năng lực cạnh tranh qua các chỉ tiêu chủ yếu
3.1.1. Thị phần
Thị phần là phần thị trường mà doanh nghiệp đáp ứng. Hiện nay thị
trường bán lẻ rất nhiều tiềm năng, với tốc độ tiêu dùng tăng mạnh tập trung ở
các thành phố lớn, trong khi các thị trường nhỏ, lẻ hãn còn bỏ ngỏ hoặc chưa
chú trọng đến. Với quy mô và lợi thế của mình các tập đoàn bán lẻ nước
ngoài đã nhanh chóng chiếm 10% thị phần bán lẻ trong nước nhưng tập trung
tại các thành phố lớn đông dân cư, phần còn lại là do kênh phân phối của các
doanh nghiệp Việt Nam và một phần vẫn chưa được khai thác đó là các chợ
mãi. Những tập đoàn nước ngoài đã mang phương thức cạnh tranh về dịch vụ
đến Việt Nam, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng và được người tiêu dùng
ủng hộ. Các doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì không thể
ở bên ngoài quy luật cạnh tranh này.
Điểm yếu nổi bật trong các siêu thị ở Việt Nam chính là thái độ phục vụ
của nhân viên bán hàng bao gồm việc nhân viên siêu thị quan tâm đến khách
SV: Trịnh Mai Hương
24
Lớp: QTKD tổng hợp 47B
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
hàng, đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, giải quyết các
thắc mắc than phiền, cách cư xử lịch sự với khách hàng nhã nhặn, tạo niềm
tin, cung cấp đứng dịch vụ, có kiến thức về sản phẩm và dịch vụ cung cấp…
Những yếu tố này tạo nên chất lượng dịch vụ cao cho khách hàng.Nhân viên
bán hàng không hiểu được tầm quan trọng của hoạt động bán hàng nên chưa
xây dựng được văn hóa doanh nghiệp trong quá trình bán hàng, thiếu tính
chuyên nghiệp, thái dộ thiếu niềm nở với khách, hay gắt gỏng cư xử thiếu nhã
nhặn. Trong khi đó lại không hiểu biết về sản phẩm hàng hóa mà mình đang
bán, không biết ngoại ngữ. Tuy nhiên đây lại là điểm yếu kém của doanh
nghiệp Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Nhân viên bán
hàng hình thức bề ngoài không bắt mắt, trang phục đầu tóc chưa gọn gàng,
không được đào tạo bài bản, không có kiến thức về sản phẩm, hàng hóa…khi
khách hàng hỏi lại có thái độ gắt gỏng với khách. Chính các yếu tố này đã làm
hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước làm giảm uy
tín, lẫn độ tin cậy của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Trưng bày hàng hóa đẹp mắt, tạo thuận tiện cho người mua cũng là yếu