Sáng kiến kinh nghiệm SKKN phương pháp tạo hứng thú trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 - Pdf 39

\

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12"

1


\

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Bộ môn giáo dục công dân ở trường THPT có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng. Đó là
một trong những môn học góp phần tạo nên nội dung dạy học, giáo dục trên toàn diện.
Việc hình thành và giáo dục thường xuyên phương pháp luận khoa học, đạo đức và pháp
luật cho học sinh do tất cả các môn học, các hình thức, giáo dục của nhà trường thực
hiện. Song, chỉ có môn giáo dục công dân mới có thể giáo dục trực tiếp cho học sinh
những tri thức theo một hệ thống xác định, toàn diện. Đặc biệt, môn giáo dục công dân ở
lớp 12 chủ yếu giúp học sinh hiểu về pháp luật, sống theo pháp luật, biết được những
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy,
kiến thức môn giáo dục công dân ở lớp 12 tương đối khô khan, nhiều khái niệm, khó học,
khó nhớ.
Mặt khác, thực tế dạy học môn giáo dục công dân hiện nay cho thấy, phương pháp dạy
học chủ yếu là lối truyền thụ một chiều, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của người học. Với phương pháp dạy học như vậy, sẽ không đáp ứng được yêu
cầu, nhiệm vụ môn học và làm giảm sút vị trí của môn học.
Từ những yêu cầu và thực trạng trên đã thôi thúc tôi cần phải có sự thay đổi về phương
pháp dạy học để tạo hứng thú học tập cho học sinh, và đó cũng là lý do tôi chọn đề tài:
“Những phương pháp tạo hứng thú trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 ở

tất cả các phương pháp, mà chỉ nêu một số phương pháp đặc trưng nhất, phù hợp nhất với
giảng dạy môn giáo dục công dân lớp 12, đó là các phương pháp sau:
- Sử dụng những hình ảnh trực quan sinh động.
- Kể những câu chuyện gần gũi trong cuộc sống.
- Phương pháp xử lý tình huống kết hợp với tiểu phẩm.
1.4. Vị trí, vai trò của phương pháp tạo hứng thú trong học tập trong dạy học giáo
dục công dân lớp 12.
- Vị trí và nhiệm vụ của môn giáo dục công dân lớp 12.
+ Vị trí: Cùng với môn học khác, môn giáo dục công dân lớp 12 góp phần đào tạo ra
những con người lao động mới, có tri thức khoa học, có đạo đức, có năng lực hoạt động
thực tiễn, có phẩm chất chính trị, tư tưởng, có ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, với
gia đình và với chính bản thân mình. Môn giáo dục công dân lớp 12 góp phần hình thành
và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.
+ Nhiệm vụ: Môn giáo dục công dân lớp 12 có nhiệm vụ giáo dục trực tiếp cho học sinh
kiến thúc về pháp luật một cách tương đối có hệ thống, toàn diện, giúp học sinh hiểu rõ
bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất nước và nhân
loại; hiểu rõ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
- Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 12 ở trường THPT.
Quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức của học sinh. Quá trình nhận thức
của học sinh về cơ bản diễn ra theo quy luật nhận thức là: “ Từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của
3


\

nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”. ( V.I Lênin, toàn tập, tập 29 trang
152 – 153)
Đối với học sinh lớp 12 bậc PTTH ở vào lứa tuổi 17, 18 các em đã tương đối trưởng


Nghe thuyết trình

5%

Đọc

10%
4


\

Nghe nhìn

20%

Trình diễn

30%

Nhóm thảo luận

50%

Thực hành bằng cách làm thực tế

75%

Xử lý tình huống kết hợp với tiểu 90%


Loại khá

Từ 6.5 đến 7.9

150

60,7

89

36,0

Loại

trung Từ 5.0 đến 6.4

học

Tỉ lệ %

5


\

bình
Loại yếu kém

Dưới 5.0

t


thầy
giảng
rất
hấp
dẫn


Cộng
do tỉ lệ
khá
(%)
c

10

5

0

11

4

1

40 HS
Lớp


16=38

3

2

26= 62


khó
học,
khó
nhớ

21

Khôn
g trả
lời

6


\

Lớp
12A9:
39 HS
Lớp12A


18 =45 16

4

2

22 =55

12

2

0

14
=37,8

14

3

6

23 =
62,2

13

4

\

- Đa số học sinh chưa nhận thức đúng về vị trí, vai trò và tầm quan trọng trong việc học
tập môn GDCD, nhiều học sinh cho rằng đó chỉ là môn học phụ, học cũng được, không
học cũng được.
- Đa số học sinh còn chưa hứng thú trong việc học tập môn GDCD, chiếm 60,7%. Thậm
chí còn có một số học sinh chán học môn này.
- Có hai nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng học sinh không thích học môn GDCD là
do nội dung môn học khó học, khó nhớ và do thầy giảng bài không hấp dẫn.
Do nhận thức chưa đúng vị trí, vai trò của môn GDCD và do giáo viên giảng bài không
hấp dẫn lại thêm nội dung môn học khó học, khó nhớ dẫn đến một thực trạng phổ biến là
học sinh chưa thích học môn GDCD và do vậy kết quả xếp loại học tập cũng chưa cao.
Đa số học sinh trường THPT Đông Sơn 1 chỉ xếp loại khá và trung bình, chiếm 96,7% số
học sinh.
2.2. Thực trạng việc dạy học của giáo viên.
Đi sâu tìm hiểu về các phương pháp dạy học của giáo viên môn GDCD tôi nhận thấy còn
nhiều hạn chế sau:
Thứ nhất: Giáo viên chưa chú ý đến việc tìm hiểu thật kỹ nội dung để từ đó lựa chọn
phương pháp phù hợp. Việc lựa chọn phương pháp tùy tiện, không có cơ sở khoa học,
chưa thấm nhuần tư tưởng. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung việc sử
dụng các phương pháp không theo một quy trình chặt chẽ, trên cơ sở khoa học. Với nội
dung có thể vận dụng. Phương pháp dạy học tích cực như trực quan, thảo luận, xử lý tình
huống, kết hợp tiểu phẩm ... nhưng phần lớn giáo viên vẫn chỉ sử dụng phương pháp
thuyết trình là chủ yếu.
Thứ hai: Giáo viên chuẩn bị bài lên lớp còn sơ sài, chưa đầu tư thời gian, công sức và
tâm huyết vào khâu chuẩn bị này nên việc áp dụng các phương pháp để tạo hứng thú cho
học sinh còn chưa được thường xuyên.
Thứ ba: Qua việc dự giờ của một số giáo viên, tôi nhận thấy:
Về cấu trúc của giờ học, đa số giáo viên đều làm theo một khuôn mẫu, một trình tự nhất
định ( gọi là các bước lên lớp), ổn định tổ chức ( hỏi xem có em nào vắng mặt không?),

Nếu là tranh ảnh minh họa bằng giấy thì đơn giản hơn, nhưng với những hình ảnh sử
dụng ở máy tính thì giáo viên nắm chắc khâu kỹ thuật để trình chiếu.
- Khi trình diễn các hình ảnh trực quan, giáo viên nên kết hợp với các câu hỏi kèm theo
để học sinh vừa quan sát vừa suy nghĩ tìm tòi kiến thức ẩn chứa trong đó.
Bước 3: Học sinh xem hình ảnh trực quan và suy nghĩ trả lời:
- Giáo viên phải dành một khoảng thời gian nhất định để học sinh cả lớp có thể tiếp cận
được với các hình ảnh trực quan.
- Khi học sinh trả lời câu hỏi, giáo viên hãy tỏ ra hài lòng đối với các câu trả lời của các
em và luôn luôn khen ngợi các câu trả lời đúng. Học sinh sẽ cảm thấy tự tin hơn khi giáo
viên cười hay có lời khen. Nếu câu trả lời bị sai, giáo viên nên nêu ra lý do tại sao lại sai (
mà không vứt bỏ câu trả lời này), sau đó đặt câu hỏi khác để đưa học sinh trở lại đúng
hướng.
Bước 4: Kết luận
9


\

Giáo viên phải biết thu về những hình ảnh trực quan đúng lúc và biết kết luận về những
hình ảnh đã đưa ra, thống nhất lại nội dung (chốt lại vấn đề). Đây là giai đoạn cuối rất
quan trọng để học sinh căn cứ vào đó điều chỉnh, bổ sung thêm kiến thức mà mình đã suy
nghĩ.
3.2. Kể những câu chuyện gần gũi trong cuộc sống.
Bước 1: Chuẩn bị.
- Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy.
- Giáo viên chuẩn bị sẵn sàng những câu chuyện mà mình sẽ kể.
Những câu chuyện minh họa cho bài giảng pháp luật rất nhiều. Giáo viên có thể sưu tầm
trên mạng, trên sách báo, đặc biệt là báo tuổi trẻ, báo an ninh. Những câu chuyện mà giáo
viên được chứng kiến trong trường lớp, trong cuộc sống.
Bước 2: Giáo viên kể chuyện minh họa cho học sinh nghe.

bản nhỏ.
Kịch bản này, theo tôi giáo viên nên phác thảo ý tưởng và phần mở đầu, phần còn lại nên
để học sinh tự thảo luận trong nhóm và xây dựng tiếp, có như vậy mới phát huy được cao
độ óc sáng tạo và tính tự khẳng định mình của học sinh.
Ví dụ:
Khi dạy học bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật ở mục 2. Công dân bình đẳng về
trách nhiệm pháp lý.
- Nội dung của phần này là giúp học sinh hiểu rõ: Công dân dù ở địa vị nào làm bất cứ
nghề gì khi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp
luật. Khi công dân vi phạm pháp luật với tính chất và mức độ vi phạm như nhau, trong
một hoàn cảnh như nhau thì từ người giữ vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước cho
đến người lao động bình thường đều phải chịu trách nhiệm pháp lí như nhau, không phân
biệt đối xử.
- Với nội dung như trên, giáo viên có thể xây dựng một tiểu phẩm nhỏ như sau:
Nhân vật:
Công an
Công dân 1: là người lao động bình thường
Công dân 2 là cháu của một cán bộ cấp tỉnh.
+ Nội dung kịch bản: Cả 2 công dân đều vượt đèn đỏ ở Ngã tư Phú Sơn và bị công an
mời về bốt điều khiển ở đó để giải quyết. Công an đã làm đúng nhiệm vụ của mình và
yêu cầu cả 2 công dân phải nộp tiền phạt vì vi phạm luật an toàn giao thông.
Tình huống xảy ra là: Công dân 1 nộp phạt, còn công dân 2 không nộp phạt, gọi điện cho
chú là cán bộ cấp tỉnh để xin không bị phạt, người chú đó gọi điện lại cho công an.
+ Người chú đó nói gì với công an?
+ Công an đó đã xử lý như thế nào?
- Phần nội dung còn lại đó giáo viên chia lớp thành 2 tổ, mỗi tổ tự thảo luận, đưa ra
phương án giải quyết của công an và sau đó tự cử 3 bạn lên diễn toàn bộ tiểu phẩm.
11



+ Kết quả học tập cũng thu được tốt hơn, tất nhiên giáo viên phải có phương pháp kiểm
tra, đánh giá theo tình thần đổi mới.
+ Bản thân chính giáo viên cũng thấy vui hơn, yêu nghề và yêu học sinh hơn vì được gần
gũi, được cùng nhau chia sẻ trong các câu chuyện, các tình huống của bài học.
12


\

4.1. Tiến hành thực nghiệm.
Đối tượng thực nghiệm: Lớp 12A9, 12A10, 12A11
Nội dung thực nghiệm:
Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật
Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản
Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ
Lớp đối chứng: 12A7, 12A8, 12A12
4.2. Kết quả thực nghiệm.
- Kết quả xếp loại học kỳ I của 3 lớp thực nghiệm cao hơn 3 lớp đối chứng.
Cụ thể: ở lớp thực nghiệm có 3 học sinh được xếp loại giỏi môn GDCD, không có học
sinh xếp loại yếu kém, số học sinh xếp loại khá chiếm hơn 70%.
Ở các lớp đối chứng, không có học sinh nào xếp loại giỏi, vẫn còn 5 em xếp loại yếu kém
và số học sinh xếp loại khá chỉ chiếm 50%.
Đặc biệt, sang học kỳ II của năm học 2011 – 2012, ở các lớp thực nghiệm, kết quả bài
kiểm tra 15 phút và bài kiểm tra 1 tiết đều rất cao.
Cụ thể: Ở lớp 12A9 bài kiểm tra 1 tiết có 28/39 học sinh được điểm từ 8 -> 10, không có
học sinh bị điểm dưới trung bình.
Trong khi đó, ở lớp đối chứng như 12A8, cũng bài kiểm tra 1 tiết, không có học sinh nào
được điểm 8 trở lên, ở bài kiểm tra 15 phút vẫn còn 8/42 học sinh bị điểm dưới trung
bình.
Như vậy: Sau khi thực nghiệm và có kiểm tra, đánh giá kết quả, so sánh với lớp đối

Để vận dụng tốt phương pháp gây hứng thú học tập cho học sinh thì chính học sinh phải
có ý thức học tập một cách tự giác, tích cực và sáng tạo. Sẽ không thể vận dụng được tốt
nếu học sinh học tập một cách thụ động, giáo viên bảo như thế nào thì miễn cưỡng làm
theo mà không động não, không suy nghĩ. Bản chất của quá trình dạy học là biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quá trình truyền thụ kiến thức của giáo viên
thành quá trình tự học của học sinh. Học sinh phải chủ động tiếp thu kiến thức, phải có
nhu cầu muốn tìm hiểu, tìm tòi những kiến thức mới.
Xét đến cùng, học sinh mới là chủ thể của quá trình tiếp nhận kiến thức mới.
5.3. Chương trình và SGK.
Từ năm học 2011 – 2012, Bộ Giáo dục đào tạo đã có công văn về điều chỉnh nội dung
dạy học theo hướng tinh giảm các nội dung, để giáo viên và học sinh dành thời gian cho
các nội dung khác. Đây là điều kiện rất thuận lợi để giáo viên và học sinh có nhiều thời
gian hơn cho việc áp dụng một số phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh như đã
trình bày.
5.4. Thiết bị dạy học.
Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được khi vận dụng những phương pháp dạy
học tích cực. Khi giáo viên muốn trình chiếu các hình ảnh để phục vụ bài giảng nhất thiết
phải có máy chiếu, những phương tiện này hiện nay ở trường THPT Đông Sơn 1 chỉ có ở
một số phòng học, thường là dành cho các buổi thao giảng, còn ở tất cả các phòng học

14


\

bình thường đều không có, điều này là một khó khăn lớn khi giáo viên muốn vận dụng
phương pháp dạy học có sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học.
III. KẾT LUẬN.
Tạo hứng thú học tập cho học sinh nói chung và trong môn GDCD, nói riêng là việc làm
mang lại ý nghĩa và hiệu quả cao trong công tác giảng dạy. Những hình ảnh thuyết phục,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status