SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA GIA ĐÌNH NHÀ TRƯỜNG - XÃ HỘI
NHẰM TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
THPT"
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Nền giáo dục Việt Nam từ rất xa xa, ông cha ta đã đề cao và coi trọng giáo dục đạo
đức “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ngày nay Đảng ta đã quan tâm đến sự nghiệp giáo dục,
xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, mục tiêu của giáo dục là “Đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc’.
Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người anh hùng giải phóng dân tộc- Danh nhân văn hoá
thế giới - Nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc ta, thời đại ta, lúc sinh thời cũng rất coi trọng
việc giáo dục toàn diện. Người chỉ rõ:“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết
phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Đó là những con người có lí tưởng cách mạng vững
vàng, đạo đức trong sáng, có kiến thức văn hoá, khoa học kĩ thuật và kĩ năng lao động,
có sức khoẻ, có ý chí vươn đến cái chân, thiện, mỹ. Bác xem đạo đức là cái gốc để nên
người, làm người: “Cũng như sông, có nguồn mới có nước, cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến
đâu cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn Đảng ta:
Cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ thành những
người kế thừa chủ nghĩa xã hội vừa“ Hồng” vừa “Chuyên”.
Thực hiện lời dạy của Bác, đường lối đổi mới của Đảng mục tiêu giáo dục của nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nhiệp hoá- Hiện đại hoá, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,
Từ những lí luận và thực tiễn đã khái quát trên tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lí
của gia đình – Nhà trường – xã hội nhằm tăng cường giáo dục đạo đức học sinh ở trường
trung học phổ thông Dương Quảng Hàm’’
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng công tác giáo dục đạo đức học
sinh trung học phổ thông Dương Quảng Hàm tỉnh Hưng Yên, đề xuất các biện pháp phối
hợp các lực lượng giáo dục nhằm giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu :
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
3.2. Đối Tượng nghiên cứu : Biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm giáo dục
đạo đức học sinh trung học phổ thông
4. Giả thuyết khoa học :
Nếu xây dựng được biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục đối với công tác giáo
dục đạo đức trong tình hình hiện, thì chất lượng, hiệu quả, giáo dục toàn diện trong nhà
trường sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông .
5.2. Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông
Dương Quảng Hàm
5.3. Đề xuất các biện pháp phối hợp nhằm tăng cường công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh trung học phổ thông Dương Quảng Hàm
4
6. Phương pháp nghiên cứu :
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết :
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá các tài liệu có liên quan đến đề tài.
cho học sinh. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu những biện pháp phối hợp
quản lí công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Dương Quảng
Hàm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, một tỉnh giàu truyền thống cách mạng và có nhiều tiềm
năng để phát triển kinh tế .
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài : Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về
quản lý, tác giả tổng hợp và trình bày theo quan điểm của mình
- Quản lí :
Quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lí lên
khách thể quản lí thông qua các cơ chế quản lí, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các
nguồn lực bên trong và bên ngoài, trong điều kiện môi trường luôn luôn có biến động, để
cho hệ thống ổn định và vận động theo chiều hướng phát triển tích cực, đạt được những
mục tiêu đề ra .
- Quản lí giáo dục:
Quản lí giáo dục là hoạt động quản lí điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội, nhằm
thúc đẩy công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
- Quản lí nhà trường:
6
Quản lí nhà trường thực chất là quản lí của Hiệu trưởng trên tất cả các hoạt động
diễn ra trên trường đó, như quản lí dạy - học, quản lí hoạt động giáo dục đạo đức, hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp, quản lí hoạt động xã hội, đồng thời quản lí việc sử dụng
cơ sở vật chất, kĩ thuật, tài chính nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu
của xã hội.
Vậy quản lí nhà trường là quản lí quá trình “Dạy chữ” và “Dạy người ”, đưa hoạt
động này ngày càng dần đến mục tiêu giáo dục của Đảng.
- Đạo đức:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, chuẩn mực, nhằm
điều chỉnh và đánh giá hành vi của con người trong mối quan hệ với nhau, quan hệ xã
Ngày nay giáo dục đạo đức cho học sinh là đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là tận
trung với Đảng, tận hiếu với dân, yêu quê hương, đất nước, có lòng vị tha, nhân ái, cần
cù, tiết kiệm, liêm khiết, công minh, chính trực. Đó là giáo dục truyền thống tốt đẹp của
ông cha ta qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, giáo dục bản sắc văn hoá của các
dân tộc Việt Nam .
1.3. Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông là hoạt động có ý
nghĩa then chốt trong nhà trường:
- Tầm quan trọng của trường trung học phổ thông trong công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là công việc của toàn xã hội, kết hợp chặt chẽ của ba
lực lượng giáo dục, Song nhà trường vẫn là lực lượng quan trọng nhất. Bởi lực lượng
8
giáo dục trong nhà trường là một đội ngũ thầy cô giáo đã được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ, và giáo dục nhà trường luôn có tổ chức, có phương pháp, có chương trình, mục tiêu.
Giáo dục đạo đức trong trường trung học phổ thông là một bộ phận quan trọng trong quá
trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các bộ phận : Đức-Trí-Thể-Mỹ và lao
động, giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện.
- Một số đặc điểm tâm lí, nhân cách, hoạt động của học sinh trung học phổ thông
+ Về mặt thể lực và trí lực.
Có thể nói đây là thời kì hoàn kim của quá trình phát triển thể lực và trí lực. Khả
năng phân tích, tổng hợp, phán đoán và suy luận được nâng cao, thân hình phát triển,
chuyển hoá cơ thể mạnh mẽ, sinh lực dồi dào, hiếu động chân tay, trong hoạt động thi
đua luôn thể hiện tính ganh đua, thách đố, cùng với sự tự cao, ý thức hơi thái quá, nôn
nóng, tạo ra sự bất kham.
+ Về mặt tính cách: Là thời kì của sự bộc lộ hết sức mạnh mẽ về tính cách, các
trạng thái tâm lí rất không ổn định, dễ chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác từ
tích cực sang tiêu cực, yêu và ghét, vui vẻ và buồn chán luôn đan xen, thay đổi thất th ường.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DƯƠNG QUẢNG HÀM
2.1. Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông Dương
Quảng Hàm.
10
Để hiểu được suy nghĩ của các em về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức tôi đã lấy ý
kiến của 300 học sinh nhà trường, kết quả được thống kê như sau:
Bảng 1: Ý kiến của học sinh về sự cần thiết của giáo dục đạo đức ( 300 ý kiến)
Vai trò của đạo đức trong học sinh
Số ý kiến Tỷ lệ %
Rất cần thiết
243
81 %
Cần thiết
54
18 %
hành vi đạo đức
2
Vi phạm nội qui của nhà trườn, qui định của Đoàn, của 93
31%
lớp
3
Vi phạm những chuẩn mực đạo đức, văn hoá xã hội
11
37
12,4%
Như vậy đa số học sinh cho rằng việc đánh giá đạo đức của con người, phải chú trọng
đến mối quan hệ giữa những người trong gia đình, thầy cô giáo, bạn bè, trong cộng
đồng,..Trong quá trình giao tiếp, giao lưu, con người phải thể hiện nếp sống văn minh,
lịch sự, truyền thống tôn sư trọng đạo đã có từ lâu của dân tộc Việt Nam.
Bảng 3: Nhận thức của học sinh về phẩm chất đạo đức cần được giáo dục trong nhà
trường trung học phổ thông( Khảo sát 300 học sinh)
Mức độ
1
Rất quan Quan
187
60
53
4
Ý thức kỉ luật
175
69
56
5
Ý thức bảo vệ của công
94
166
40
6
Tham gia các hoạt động tập thể, xã hội
12
thầy cô được quan tâm hàng đầu. Tuy nhiên những phẩm chất như bảo vệ của công, sẵn
sàng tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, tham gia từ thiện nhân đạo, tính
khiêm tốn, khả năng tự kiềm chế thì học sinh ít quan tâm.
Để có thêm cơ sở kết luận về quan niệm đạo đức tôi tiếp tục điều tra và có kết quả ở
Bảng 4.
Bảng 4: Thái độ của học sinh với các quan niệm về đạo đức( 300 ý kiến)
Thái độ
Đồng ý
1
§¹o ®øc con người là do mỗi con người tự
quyết định
Phân
Không
vân
đồng ý
214
78
8
tiền
5
Ai có thân người ấy lo
163
120
17
6
Thật thà là cha đứa dại
123
140
37
7
Cha mẹ sinh con trời sinh tính
116
59
Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo
giấy
13
11
Đạt được mục đích bằng mọi giá
21
60
219
12
Sống vì mình bất cần đời
14
18
168
Qua phân tích tổng hợp 300 ý kiến của học sinh về các quan niệm đạo đức, tôi
thấy rằng đa số học sinh có thái độ đồng tình với các quan điểm: Đạo đức con người là
do cá nhân, do gia đình và xã hội quyết định, phù hợp với nguyên lí giáo dục của Đảng:
Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội và có sự cố gắng của bản thân.
26
30
12
19
13
21
32
10
25
12
Trong mỗi con người phải coi 64
36
0
0
0
Trong mỗi con người cần cố gắng
học tập để thành tài
Trong mỗi con người cần cố gắng
học tập để có đạo đức
Giáo dục đạo đức chỉ có trong
môn học công dân
Giáo dục đạo đức có cả trong các
môn học xã hội
Giáo dục đạo đức là trách nhiệm
của giáo viên chủ nhiệm
Giáo dục đạo đức là nhiệm vụ của
gia đình
Giáo dục đạo đức không có trong
các môn khoa học tự nhiên.
Giáo dục đạo đức không có trong
hoạt động thể dục thể thao
Giáo dục đạo đức không có trong
hoạt động tham quan du lịch
Giáo dục đạo đức không có trong
trong các ngày lễ hội
32
46
0
14
8
16
21
21
17
2
5
16
34
27
18
25
27
13
16
19
3
56
41
0
Giáo dục đạo đức không có trong 0
15
sinh hoạt Đoàn -hội
15
16
Giáo dục đạo đức không phải là
nhiệm vụ chính của nhà trường
Giáo dục đạo đức không phải là
trách nhiệm của giáo viên bộ môn
0
0
58
42
triển, trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi con người có tài năng để chiếm
lĩnh tri thức của nhân loại. nhận thức ấy không sai nhưng chưa toàn diện, chưa đầy đủ.
Cũng có trên 50 % ý kiến cho rằng giáo dục đạo đức chỉ có trong môn giáo dục công
dân, không có trong các môn học khoa học tự nhiên. Chứng tỏ rằng trong quá trình dạy
học chúng ta chưa chú ý đến việc “dạy chữ” và “dạy người”, chưa thực hiện tốt các chức
năng của người làm công tác giáo dục, phải tạo ra một thế hệ công dân mới có đầy đủ
phẩm chất, đạo đức, năng lực và sức khoẻ để kế tục sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn
mới. Một bộ phận khá lớn học sinh cho rằng việc giáo dục đạo đức không có trong các
hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan du lịch, trong các ngày lễ hội,…Các em
16
không hiểu rằng trong các hoạt động xã hội ấy làm cho con người được giao lưu, học hỏi
và hoàn thiện nhân cách.
Thật đáng lo ngại cho một bộ phận học sinh cho rằng giáo dục đạo đức không phải là
trách nhiệm của giáo viên bộ môn, mà chỉ là nhiệm vụ của gia đình. Đây là một quan
điểm quá sai lệch mà chúng ta cần chấn chỉnh, không những chấn chỉnh từ nhận thức của
học sinh, mà chấn chỉnh ngay trong đội ngũ thầy cô giáo trong quá trình dạy lồng ghép ở
bộ môn của mình. Trong quá trình lồng ghép để giáo dục đạo đức cho học sinh, trong các
môn học cần được quan tâm bao nhiêu thì sẽ làm thay đổi nhận thức, những lệch lạc của
học sinh nêu trên tốt bấy nhiêu.
Đặc biệt có đến 3% các em cho rằng giáo dục đạo đức không có trong sinh hoạt Đoàn
và Hội thanh niên. Những em này chưa thấy tác dụng của Đoàn- Hội trong quá trình hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh. Đây là vấn đề chúng ta phải suy nghĩ, xem xét.
2.2. Thực trạng về hành vi đạo đức của học sinh trung học phổ thông
Để biết thêm thông tin về hành vi đạo đức của học sinh tôi khảo sát 300 học sinh
trong nhà trường và đã thu nhận được kết quả ở Bảng 6
Bảng 6. Thực trạng về hành vi đạo đức của học sinh
91.1
0
2
Trốn tiết vì lí do không 0
1.5
13.2
86.3
0
14.4
32.9
47.1
0
20.7
58.8
31.2
5.4
2.1
3.6
58.2
48.0
0
41.1
1.6
50.2
30.2
0.7
0
4.6
52.4
8
Sẵn sàng giúp đỡ bạn hết 21.5
lòng
9
Nói tục chửi thề trước bạn 0.2
bè
10
Lễ phép với ông bà cha mẹ, 57.3
thầy cô
11
Cố gắng hết sức để giúp đỡ 18.9
bố mẹ
12
Nói dối với cha mẹ, thầy cô, 0
bạn bè
18
13
2.1
3.7
làm cho cha mẹ buồn
14
Có hành vi hỗn láo làm thầy 0
cô buồn
15
Thương cảm, chia sẻ với 11.6
người gặp hoàn cảnh khó
khăn
16
Có tinh thần giúp đỡ người 8.2
già, trẻ em nơi công cộng
17
Hành vi sống sạch, đẹp
4.7
81.2
12.1
2.4
khác
19
Có hành vi tham lam của 0
người khác
20
Có hành vi phạm luật giao 0
thông
21
Tham gia đua xe trái phép
0
0
0.1
97.5
2.4
22
khi có lỗi
24
Tự xấu hổ khi có hành vi vi 16.7
phạm
19
25
Khiêm tốn học hỏi mọi 8.3
79.8
7.7
0.0
4.2
51.9
5.7
0
0
2.3. Nhận thức của giáo viên trung học phổ thông Dương Quảng Hàm về công tác
giáo dục đạo đức học sinh
Để có cơ sở đánh giá quá trình nhận thức của giáo viên về việc giáo dục đạo đức cho
học sinh trung học phổ thông, tôi khảo sát 65 giáo viên và thu được kết quả có ở Bảng 7.
Bảng 7: Nhận thức của giáo viên về việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông
Mức độ (%)
Rất
đồn
gý
Rất
Không
Đồng
Phân
không đồng
ý
vân
đồng ý ý
69
30
0
1
0
4
Học tập để thành tài
71
22
2
5
0
5
Học tập để có đức
67
24
3
16
0
91
9
10
Giáo dục đạo đức là nhiệm vụ
của gia đình
Giáo dục đạo đức không có trong
các môn khoa học tự nhiên
8
56
46
9
9
32
57
43
51
49
74
15
Giáo dục đạo đức không có trong
tham quan du lịch
Giáo dục đạo đức không có trong
các ngày lễ hội
Giáo dục đạo đức không có trong
sinh hoạt Đoàn-Hội
Giáo dục đạo đức không phải
nhiệm vụ chính của nhà trường
Giáo dục đạo đức không phải là
16
trách nhiệm của giáo viên bộ
môn
Giáo dục đạo đức phải kết hợp
17
giữa gia đình, nhà trường và xã 100
hội
22
0
0
niềm tin và ý chí, có nhu cầu thấp hèn dẫn đến những hành vi không phù hợp với chuẩn
mực đạo đức của xã hội.
Mặt khác, xét về thuộc tính sinh vật qui định nhân cách thì các yếu tố như khí chất,
giới tính, lứa tuổi, bệnh lí,.. Cũng là những nguyên nhân khiến học sinh dễ lâm vào tình
trạng không điều chỉnh, không chiến thắng về hành vi của mình. Những học sinh này cần
được phát hiện sớm, phải biết cách giáo dục và điều trị mới có kết quả.
Một lí do nữa là do sự tác động ồ ạt của văn hoá nước ngoài như phim ảnh, sách báo,
thông tin trên mạng, những tiêu cực ngoài xã hội khiến cho một bộ phận học sinh chưa
có thái độ chín chắn trong suy nghĩ, không phân biệt được cái đúng, cái sai, dẫn đến
những hành động bộc phát, thái quá, thiếu trách nhiệm, không lường trước được hậu quả
của mình.
Chúng ta không thể không nói đến nguyên nhân từ nhà trường như: Cơ sở vật chất
còn quá thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa mang hết nhiệt huyết phục vụ cho giáo dục,
cán bộ quản lí giáo dục chưa có những biện pháp thích hợp và nội dung sinh động trong
quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.
Đây là kết quả khảo sát về những nguyên nhân dẫn đến sai phạm của học sinh
Bảng 10: Những nguyên nhân dẫn đến hành vi sai phạm của HS
TT
Nguyên nhân
Tỷ lệ (%)
24
1
Do buồn vì cha mẹ
gia đình không quan tâm chiếm trên 23%, do thầy cô không nhắc nhở chiếm 14.9%,
buồn vì cha mẹ 6.5%. Như vậy phần lớn các em do nhận thức chưa đúng đắn, tính cách
không ổn định, suy nghĩ và hành động thiếu lành mạnh dẫn tới dễ bị cám dỗ, không có
sức đề kháng trước những thói hư, tật xấu, dần dần hình thành những hành vi tiêu cực,
tạo ra sự biến đổi về nhân cách.
* Những nguyên nhân khách quan
+ Về phía xã hội:
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đã kéo theo sự biến đổi hệ thống định hướng
giá trị đạo đức của con người trong xã hội, ảnh hưởng định hướng giá trị đạo đức của học
sinh. Mặt khác đất nước ta vừa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, bao cấp cho nên
một bộ phận thế hệ trẻ dễ có tâm lí hưởng thụ.
Sự bùng nổ thông tin, sự giao lưu và hội nhập kéo theo những tác động tiêu cực, những
độc hại của văn hoá phương tây, làm lu mờ truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, tạo ra lối sống buông thả trong lớp trẻ. Những văn hoá đồi truỵ ấy hằng ngày, hằng
25