Sáng kiến kinh nghiệm SKKN hiệu trưởng với công tác xã hội hóa giáo dục tại trường TH b vĩnh trường - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"HIỆU TRƯỞNG VỚI CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TẠI
TRƯỜNG TH B VĨNH TRƯỜNG"

1


PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của đề tài
Xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng lớn của Đảng và Nhà nước ta. Tư
tưởng đó là một sự đúc kết truyền thống hiếu học, vì sự nghiệp “ Trăm năm trồng người”,
đề cao tính ham học, khả năng tìm tòi, nghiên cứu khám phá kiến thức văn hóa xã hội,
nhân loại, đồng thời cũng đề cao sự chăm lo việc học hành của dân tộc ta. Xã hội hóa
giáo dục vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện đại vì lợi ích Quốc gia, lợi ích
cộng đồng, lợi ích gia đình và từng cá nhân con người.
Giáo dục liên quan tác động trực tiếp đến mọi người, là lợi ích mọi người, của cộng đồng.
Đối với gia đình đó là lợi ích của mỗi công dân. Ai cũng có quá trình học tập nên chịu
ảnh hưởng ít nhiều của công tác giáo dục.
Trong các văn kiện của Đảng cũng xác định “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”
muốn tạo ra nguồn nhân lực thật tốt để đáp ứng sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, yêu
cầu của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Để đạt được mục tiêu đó
không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân,
phải có sự tham gia tích cực, phối hợp chặt chẽ của toàn xã hội. Sự tham gia phối hợp ấy
phải được tiến hành có tổ chức, khoa học, thường xuyên liên tục mới mang lại hiệu quả
cao. Phải đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực để phát triển
giáo dục và đào tạo “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”
Xác định mục tiêu xã hội hoá giáo dục là xây dựng môi trường giáo dục trong sạch, lành
mạnh; tăng cường sự phối hợp giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ
chức chính trị - xã hội và nhân dân; huy động nhân lực, vật lực, kinh phí đầu tư cơ sở vật

đơn vị thực hiện tốt công tác xã hội hóa.
Bằng những biện pháp nhà trường đã áp dụng vào công tác xã hội hóa giáo dục chẳng
những mang lại hiệu quả trước mắt mà còn định hướng phát triển lâu dài, bền vững, tạo
tiền đề làm thay đổi bộ mặt nhà trường và nâng cao chất lượng giáo dục, các hoạt động
phong trào trong đơn vị. Từ đó, tạo được hiệu quả lâu dài, vì cộng đồng xã hội cùng
chung tay xây dựng, tháo gỡ khó khăn trong các hoạt động trường học mới tạo điều kiện
tốt nhất cho nhà trường phát triển, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và các phong
trào thi đua khác. Khi mối quan hệ giữa nhà trường- gia đình và xã hội được gắn kết một
cách chặt chẽ đó là nguồn động lực, sức mạnh tổng hợp vượt qua mọi khó khăn, thử
thách, giải quyết công việc một cách chủ động đạt hiệu quả cao, đồng thời tính cộng đồng
trách nhiệm cũng thể hiện rõ nét hơn sự quyết tâm, làm đến nơi đến chốn. Mọi hành động
cho giáo dục sẽ mang tính tự giác, trách nhiệm, vì sự nghiệp chung, vì sự tiến bộ của
chính con em mình. Tất cả đều vươn tới mục tiêu “ Giáo dục cho mọi người, thì mọi
người phải làm giáo dục”.
III. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề xã hội hóa giáo dục là việc làm có tính xã hội rộng lớn trong phạm vi cả nước
mang tầm khái quát cao, nhưng trong đề tài này bản thân chỉ đề cập đến công tác xã hội
hóa giáo dục trong địa bàn nhà trường quản lý, gồm có hộ gia đình và công tác huy động
các nguồn lực từ các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm, các tổ chức, cá nhân trong,
ngoài xã có tâm huyết đối với công tác giáo dục của đơn vị.
3


IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp điều tra, so sánh, thống kê tổng hợp từ thực tiễn công
tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn qua từng năm có xem xét tổng thể về điều kiện phát
triển kinh tế-xã hội. Từ đó, tổng kết những mặt làm được, hạn chế tồn tại, học tập kinh
nghiệm từ các đơn vị thực hiện có hiệu quả công tác này.
Vận dụng và phát huy hơn nữa mối quan hệ giữa công tác xã hội hóa giáo dục với
công tác chống lưu ban, bỏ học, nâng cao chất lượng giáo dục.

nước.
Vì vậy, ngoài việc đầu tư của Nhà nước cho giáo dục, cần có sự đóng góp của nhân
dân, thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” bằng con đường xã hội hóa
giáo dục.
II. Thực trạng của vấn đề
Trường có 19 lớp, một điểm lẻ với tổng số học sinh 527 em, được đặt ở vị trí của 2 ấp,
Vĩnh Thành và La Ma. Nơi đây có dân tộc Chăm cùng sinh sống, điều kiện kinh tế lại
khó khăn. Là một xã cù lao đất chật người đông, dân cư sống chuyên canh nghề nông,
mua bán nhỏ, không đất canh tác đi làm thuê kiếm sống, họ thường đi làm ăn xa mang
con theo. Một số phụ huynh phó thác việc học tập của con em mình cho nhà trường.
Bên cạnh những khó khăn chung, học sinh phần lớn không có đủ tập vở, quần áo đi học,
các em học sinh lớp 4,5 phải phụ giúp gia đình, một số ít học sinh nhà xa trường (khoảng
cách 3km) phải đi qua một khu dân cư mới đến trường nên việc học tập của các em có
phần hạn chế. Sách giáo khoa không đủ để đáp ứng cho hoạt động dạy-học. Sân trường
không bằng phẳng để các em sinh hoạt vui chơi, học tập, phòng học xuống cấp, không đủ
ánh sáng. Vào những năm 2002-2003, 2004-2005 đến năm 2005-2006 học sinh bỏ học
bình quân 20 em/năm, phần nhiều do không đủ điều kiện đến trường. Chất lượng học tập
thấp so với bình quân chung của huyện, cụ thể: Năm 2003-2004 có 34 em xếp loại yếu;
năm 2004-2005 có 31 em; năm 2005-2006 có 29 em; năm 2006-2007 có 22 em.
Một bộ phận cha mẹ học sinh ở vùng nông thôn nhận thức về công tác xã hội hóa còn
hạn hẹp, nghĩ là việc đó của nhà nước, nhà trường. Dân ở nơi đây khó khăn về kinh tế,
phần đông làm thuê, bán vé số để sinh sống, nên công tác xã hội hóa không vận động
rộng rãi trong địa bàn, chỉ có một số ít nhà hảo tâm, mạnh thường quân đi làm ăn xa
thường xuyên đóng góp hỗ trợ cho nhà trường.
Công tác tuyên truyền vận động xã hội làm công tác xã hội hóa giáo dục chưa đi vào
chiều sâu, người dân thường giao khoán cho nhà trường.
Các phiên họp cha mẹ học sinh định kì do trường tổ chức, số lượng phụ huynh tham dự
rất ít nên việc trao đổi, bàn bạc về vấn đề học tập không được thuận lợi.
Nhu cầu về cơ sở vật chất vẫn chưa được đáp ứng kịp thời như: hàng rào, sân chơi, bãi
tập, ánh sáng trong lớp học,…rất cần sự đóng góp từ phía xã hội để chăm lo cho giáo dục.

tế, các cá nhân, đặc biệt là cá nhân có uy tín, các “mạnh thường quân”...
Trong quá trình huy động đối tượng thực hiện hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục cần
thực hiện tốt nguyên tắc huy động cộng đồng tham gia xây dựng giáo dục gồm:
Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của cả hai phía:
nhà trường và cộng đồng, mỗi bên tham gia đều cần tìm thấy lợi ích chung của cá nhân,
tập thể.
Nhà trường cũng như các lực lượng xã hội, các tổ chức,... đều có những chức năng và
trách nhiệm riêng. Để khai thác, phát huy, khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động
nào đó thì phải phát hiện và nhằm đúng chức năng, trách nhiệm của đối tác. Thí dụ: Đối
với cấp ủy và chính quyền địa phương thì nội dung huy động phải là chủ trương, văn bản
chỉ đạo, hoặc đất xây dựng,...
6


Tạo môi trường công khai, bình đẳng để cộng đồng hiểu đúng về giáo dục và nhà trường
hơn, đồng thời góp phần thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
các hoạt động xã hội hóa giáo dục để mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả thiết thực.
Cán bộ quản lý giáo dục phải biết lựa chọn thời gian thích hợp nhất để đưa ra một chủ
trương xã hội hóa giáo dục. Tuy nhiên, để thực hiện nguyên tắc này là phải xây dựng cho
được kế hoạch cụ thể và kế hoạch mang tính định hướng.
Khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu học, tôn trọng đạo lý, đề cao sự học, đề cao giá
trị của học vấn... của mỗi gia tộc, dòng họ; niềm tin của cá nhân vào sự nghiệp phát triển
chung của giáo dục, của từng nhà trường để có thể huy động nhiều nguồn lực khác nhau
chăm lo cho sự nghiệp giáo dục đào tạo.
Cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa phương và ngành giáo dục, “nhà trường gắn liền
với xã hội”.
Kế hoạch hóa là một trong bốn chức năng quản lý và là một chức năng mang tính chủ đạo
trong quá trình quản lý của người Hiệu trưởng. Kế hoạch xã hội hóa giáo dục được xây
dựng trên một số yếu tố sau: Mục tiêu của việc huy động xã hội; xác định đối tượng huy

Vào dịp khai giảng mỗi năm học, trường phải nêu được những việc cần làm, tham khảo ý
kiến để hoàn chỉnh các điều kiện thực hiện, khi mọi người có ý kiến, tham gia hiến kế thì
trong triển khai, tổ chức thực hiện sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn.
Lưu ý: trường học chỉ dừng lại xin “chủ trương” thực hiện chứ không “xin tiền”, vì khi
xã hội thấy điều đó cần làm, thiết thực, giải quyết được bức xúc nào đó trong hoạt động
dạy học, thì mọi việc sẽ nhận được sự hỗ trợ đến nơi đến chốn.
Ví dụ: Đặt vấn đề về xây dựng sân chơi để các em có được các hoạt động vui chơi bổ ích
góp phần giáo dục toàn diện, tránh được những thói hư tật xấu. Hỗ trợ trang thiết bị phục
vụ cho công tác dạy-học; giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để các em
được cắp sách đến trường đảm bảo quyền được học hành của trẻ,….Những vấn đề đó khi
nhà trường đưa ra bàn bạc thì các lực lượng sẽ đồng tình ủng hộ ngay.
Nếu nhà trường làm được như vậy, các tổ chức, cá nhân cảm thấy mình được tôn trọng,
nhận rõ trách nhiệm vì sự phát triển chung, dám đầu tư suy nghĩ làm và làm cho bằng
được, bổ sung những vấn đề chưa được, hiệu quả cao, ngày càng thấy gắn bó với trường
lớp hơn phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường-gia đình và xã hội.
Qua nhiều năm thực hiện, các tổ chức cá nhân đã có sự chuyển biến tích cực, cùng làm
giáo dục, xem giáo dục là của mỗi gia đình, mỗi người. Mọi sự huy động đóng góp cho
nhà trường đều được tiến hành thuận lợi, mọi người cảm thấy tự hào khi mình có đóng
góp vào cái chung ấy.
Tạo ra vấn đề bức xúc cần giải quyết:
Ngoài định hướng mục tiêu phát triển như trên, bản lĩnh của người quản lý nhà trường là
phải biết tạo ra tình huống thật sự, việc làm trước mắt mọi người để lôi cuốn tất cả các
lực lượng vào cuộc, chung vai gánh vác với nhận thức trách nhiệm cùng nhau làm, không
đắn đo, so sánh mà muốn trường được đẹp hơn, hoàn thiện hơn.
Khơi dậy tính tập thể, tính quần chúng trong giải quyết công việc, không được đứng riêng
lẻ. Xem phối hợp các lực lượng thường xuyên, liên tục là trọng tâm trong quản lý giáo
8


dục ở đơn vị. Tuy nhiên, không phải việc gì cũng huy động mọi lực lượng, tổ chức qui

công khai, dân chủ trong ngày khai giảng, họp cha mẹ học sinh đầu năm học. Qua thống
nhất ý kiến chung, tất cả các bên chắc lọc những vấn đề trọng tâm cần giải quyết trước
mắt cũng như lâu dài theo khả năng thực tế, đồng thời tuyên truyền rộng rãi trong toàn
9


thể cộng động nhằm tranh thủ sự đồng thuận chung trong tổ chức thực hiện. Với quy
trình tham mưu, tuyên truyền xã hội hóa giáo dục như trên, nhìn chung hàng năm nhà
trường đều huy động tốt các nguồn lực để giải quyết cơ bản những yêu cầu bức thiết đặt
ra, tích lũy thêm kinh nghiệm thực tiễn nhằm cải tiến, đổi mới cách làm đem lại hiệu quả
cao.
Xây dựng mối quan hệ, phối hợp:
Trong Điều lệ trường Tiểu học cũng đã qui định trường Tiểu học có nhiệm vụ phối hợp
với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo
dục. Trách nhiệm của nhà trường phải chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với
gia đình, Ban đại diện cha mẹ học sinh để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất
nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục. Huy động mọi lực lượng của cộng đồng
chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục
lành mạnh.
Từ đó, đơn vị đã xây dựng được mối quan hệ theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Chỉ có
quan hệ tốt, phối hợp đồng bộ thì công việc chung của nhà trường mới được giải quyết,
xử lý kịp thời đạt hiệu quả.
Nhà trường là môi trường “Văn hóa giáo dục” của địa phương, nơi trực tiếp tiến hành
công tác giáo dục và phối hợp các lực lượng xã hội, gia đình cùng chăm lo công tác giáo
dục từ xây dựng cảnh quan sư phạm, cơ sở vật chất, nền nếp kỉ cương, chất lượng giảng
dạy, học tập,…cho đến việc giám sát, đánh giá các hoạt động giáo dục do trường tổ chức.
Tham mưu với cấp ủy, Ủy ban nhân dân địa phương đề ra được các Nghị quyết về giáo
dục, giúp Ủy ban nhân dân chỉ đạo, huy động các lực lượng xã hội tham gia vào xã hội
hóa giáo dục, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả cao.
Trường học luôn thực hiện xã hội hóa giáo dục, xây dựng được môi trường đồng bộ từ

phương hướng cụ thể xã hội hóa giáo dục trong thời gian tới. Mặc dù, chủ trương xã hội
hóa giáo dục được mọi người đánh giá là đúng đắn, tuy nhiên trong quá trình thực hiện,
vẫn còn nhiều người chưa hiểu và ủng hộ công tác xã hội hóa giáo dục như: tham gia
cùng với nhà trường hỗ trợ ủng hộ việc dạy và học, tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho
các học sinh, chăm lo cơ sở vật chất điều kiện dạy và học… để công tác xã hội hóa giáo
dục đạt hiệu quả cao hơn.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua ba năm áp dụng các biện pháp tiến hành công tác xã hội hóa giáo dục (từ năm
2008 đến năm 2011), nhà trường đã vận động các nguồn lực trong và ngoài địa phương
với tinh thần chủ động, thực hiện theo mục tiêu cụ thể đã đề ra, các thành phần tham gia
công tác này được mở rộng, nguồn đóng góp ngày càng tích cực hơn, cụ thể:
Mỗi dịp lễ, tết nhà trường cùng các đoàn thể tổ chức thăm hỏi, tặng quà nhằm khích lệ
tinh thần đối với sự nghiệp giáo dục, tạo tình cảm gắn bó, thân thiết, gần gũi giữa nhà
trường với cả cộng đồng.
Đối với tổ chức cá nhân có nhiều thành tích, đóng góp to lớn cho nhà trường phát triển,
đơn vị đã thể hiện sự tri ân, lòng trân trọng bằng cách đề nghị khen thưởng cho lực lượng
ngoài ngành đã có nhiều thành tích trong công tác xã hội hóa giáo dục.

11


Năm 2008 đến nay đều có cá nhân được Ủy ban nhân dân huyện khen thưởng thành tích
trong phong trào xã hội hóa giáo dục của đơn vị.
Nhiều năm qua phát huy công tác xã hội hóa giáo dục, mọi lực lượng xã hội cùng tham
gia làm giáo dục, nên bước đầu đã tháo gỡ được khó khăn, tạo ra môi trường thuận lợi
nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học.
Sự đồng thuận của toàn xã hội đối với các hoạt động nhà trường rất rõ nét, khi được
thống nhất, triển khai đều nhận được sự đồng tình, hưởng ứng mạnh mẽ, duy trì được
hoạt động thường xuyên, lâu dài.
Ngoài ra, các lực lượng xã hội chẳng những tham gia đóng góp tiền của, công sức mà còn

3.670.000đ

Mạnh thường quân

700 m3 cát San lắp mặt bằng sân trường
trị
giá điểm chính.
17.500.000đ

Ban đại diện cha mẹ học sinh

2.800.000đ

Bổ sung đèn và quạt cho 17
phòng học.

Xây bồn hoa điểm chính.

42 bộ SGK
Mạnh thường quân (Anh tư TV và Toán Trao cho 42 em HS nghèo.
Quận công an giao thông tỉnh) trị
giá
12


1.784.000đ.
40 bộ chữ
lớp1 trị giá Trao cho 40 em HS nghèo
1.200.000đ lớp 1.
50 bộ đồ thể

21.250.000đ hiện vào tháng 12/2011.
Bệnh viện đa khoa An Phú.

4.000.000đ

Ban đại diện cha mẹ học sinh.

3.245.000đ

Hỗ trợ 7 chiếc xe đạp cho
HS.

Xây bờ kè nhà để xe và sân
trường điểm chính sạc lở
Chùa Vĩnh Quang và chùa 1.780 quyển đất.
Phước Trường ấp Vĩnh Nghĩa tập, 100 cây
Tặng 8 quyển và 1 cây
xã Vĩnh Trường
viết.
viết/HS cho 190 HS của 19
13


lớp.
* Về chất lượng học tập và công tác duy trì sĩ số:
Phong trào xã hội hoá giáo dục đã góp phần quan trọng động viên, khích lệ giáo viên, học
sinh nỗ lực vươn lên đạt thành tích cao trong giảng dạy và học tập. Số lượng học sinh
giỏi tăng qua các năm, cụ thể:
Năm
học


2009407/415 94
2010

23,10 178 43,73 127 31,30 8

1,97 8

1,97%

2010470/485 131 27,87 228 48,51 109 23,19 2
2011

0,42 3

0,61%

* Kết quả thi đua các phong trào:
Có thể nói, bậc tiểu học chúng tôi là nơi phát hiện ra tài năng, còn vun đắp cho nó phát
triển là gia đình và xã hội, nhờ vào sự vận động gia đình và xã hội tham gia xã hội hóa
giáo dục nên mới có được kết quả:

KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Năm
Năm
học
Năm học 2009-2010 2011
2008-2009

học

05 cấp huyện

01 giải
huyện

A

cấp

03 giải
huyện

C

cấp

- Học sinh giỏi
Không
lớp 5

02 giải C cấp 04 giải cấp huyện
huyện; 01 giải KK và 03 cấp tỉnh
cấp tỉnh.

- Học sinh tham
gia HKPĐ

1 huy chương bạc
cờ vua nam. 01 HS
dự thi HKPĐ cấp


cấp

Tham gia vào công tác xã hội hóa giáo dục, vận động học sinh bỏ học, tổ chức nhiều hoạt
động phong trào, cùng nhiều đóng góp khác mang lại hiệu quả thiết thực, tạo nên phong
trào xã hội hóa giáo dục sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân.

15


Tuy nhiên, trong việc thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục với những giải pháp tiến
hành như trên vẫn còn một số tồn tại nãy sinh cần tiếp tục nghiên cứu, tháo gỡ là: các lực
lượng xã hội tham gia vào các hoạt động nhà trường bằng công sức, tiền của là chính, chứ
chưa hiến kế hay để giúp nhà trường đột phá phát triển mạnh hơn, nhanh hơn. Việc nắm
bắt kịp thời thông tin, dư luận trong cộng đồng nhằm bổ sung, điều chỉnh công việc còn
nhiều hạn chế.
* Nguyên nhân thành công và những tồn tại.
a) Nguyên nhân thành công.
- Tạo được lòng tin với xã hội, trong đó khâu quan trọng nhất là nâng cao chất lượng dạyhọc, duy trì sĩ số hàng năm, không có học sinh bỏ học giữa chừng và sự chuyển biến của
đội ngũ cán bộ giáo viên.
- Sự quan tâm và hỗ trợ kịp thời của cấp Ủy,chính quyền và Phòng Giáo dục.
- Ban Đại diện cha mẹ học sinh nhiệt tình, năng nổ, đặc biệt là vai trò của trưởng Ban đại
diện cha mẹ học sinh đã làm tốt cầu nối giữa nhà trường với doanh nghiệp và phụ huynh.
- Nhà trường có định hướng và xây dựng kế hoạch vận động xã hội hóa giáo dục rõ ràng.
- Tác động đúng lúc, đúng chỗ các nhà hảo tâm và phụ huynh, các mạnh thường quân.
- Công tác tuyên truyền vận động phù hợp, không gây tâm lí căng thẳng, phụ huynh thể
hiện sự đóng góp tự nguyện.
b) Những tồn tại.
- Vận dụng nguồn quỹ đối lưu gặp nhiều khó khăn, nghĩa là xã hội hóa 2 phần trường
cũng phải đầu tư vào1 phần.

I. Những bài học kinh nghiệm
. Làm tốt công tác tham mưu cho địa phương, ngành giáo dục về hoạt động xã hội
hóa giáo dục của nhà trường trong từng năm học, định hướng đúng đắn các nguồn lực cần
huy động để giải quyết các vấn đề bức xúc của nhà trường sẽ góp phần cho công tác xã
hội hóa giáo dục đạt kết quả cao.
. Thực hiện tốt mối quan hệ chặt chẽ, thường xuyên giữa ba môi trường: Nhà
trường, gia đình và xã hội để kịp thời thông tin, chia sẻ trách nhiệm, kích thích sự tham
gia đóng góp vào công việc chung.
. Các ý tưởng đề ra phải được thảo luận, bàn bạc công khai dân chủ trong nội bộ và
ngoài nhân dân, lắng nghe ý kiến để các giải pháp thực hiện hợp lòng dân, thể hiện ý chí
quyết tâm không bỏ dở giũa chừng.
. Kịp thời biểu dương, đề xuất khen thưởng các tập thể, cá nhân tích cực tham gia
vào họat động xã hội hóa giáo dục, tạo sự phấn khởi, tự giác, vận động lôi cuốn mọi
người cùng thực hiện.
II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
17


Trong công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường đã nêu thực trạng, đánh giá
đúng nguyên nhân và tổng hợp kết quả đạt được, đề ra một số biện pháp tiến hành, để từ
đó mong muốn cùng với địa phương thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục đạt hiệu quả
cao hơn nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
theo chủ trương của Đảng, Nhà nước đề ra. Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục cũng
đồng nghĩa với việc hạn chế hiệu quả tình trạng học sinh lưu ban, bỏ học, từng bước góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục. Bộ mặt nhà trường thay đổi nhanh chóng, cảnh quan
sư phạm trường học càng thêm khang trang, đẹp mắt hơn, tạo tiền đề cơ bản trong việc
xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, sớm đạt các tiêu chí trường tiểu học
đạt chuẩn quốc gia. Tác động tích cực đến mọi hoạt động của đơn vị.
Đối với ngành: Có cơ sở chỉ đạo, hướng dẫn các trường học vận dụng có hiệu quả
công tác xã hội hóa giáo dục vào điều kiện cụ thể đơn vị mình; thực hiện tốt phương

IV. Những kiến nghị, đề xuất
. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp của các cấp, các ngành
trong công tác xã hội hóa giáo dục nhằm tạo được sức lan tỏa cả bề rộng lẫn chiều sâu,
nâng cao hiệu quả, chuyển biến tích cực qua từng năm.
. Thường xuyên chú trọng đến việc sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân rộng mô
hình xã hội hóa giáo dục tốt cho các đơn vị học tập, vận dụng vào thực tiễn công tác.
Kết luận: Xã hội hóa giáo dục là một việc làm cần thiết cần đẩy mạnh hơn nữa, làm cho
cuộc vận động này được tiến hành sâu rộng, xuyên suốt trong các hoạt động của nhà
trường, nhằm nâng cao nhận thức, thống nhất về tư tưởng trong các lực lượng xã hội, các
tầng lớp nhân dân góp phần đưa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng về xã hội hóa giáo
dục đi vào cuộc sống xã hội. Thực tiễn đã chứng minh nơi nào có sự quan tâm chỉ đạo
của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước, các Hội nghề nghiệp (như Hội khuyến
học, Ban Đại diện cha mẹ học sinh,…) được củng cố và hoạt động tốt, sự đồng thuận của
Ban ngành đoàn thể, cộng đồng dân cư thì nới đó có phong trào xã hội hóa giáo dục tốt.
Xác định mục tiêu xã hội hoá giáo dục là xây dựng môi trường giáo dục trong sạch, lành
mạnh; tăng cường sự phối hợp giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ
chức chính trị - xã hội và nhân dân; huy động nhân lực, vật lực, kinh phí đầu tư cơ sở vật
chất, hỗ trợ cho giáo dục, huyện đã tập trung xây dựng môi trường giáo dục nền nếp, văn
minh trong và ngoài nhà trường thông qua quy chế, nội quy đối với thầy và trò, thông qua
các tổ chức Đoàn, Đội. Vài năm trở lại đây, hoạt động phối hợp với các ban, ngành, đoàn
thể được ngành chú trọng, tranh thủ sự quan tâm của nhiều cấp, ngành tham gia quản lý
con em học sinh ở gia đình và cộng đồng. Ngoài ra còn chỉ đạo các ấp, tổ tự quản, xây
dựng các quy ước, hương ước và thực hiện tốt nội dung, tiêu chí giáo dục trong phong
trào xây dựng làng xóm, ấp văn hoá. Các hoạt động vui chơi lành mạnh cho các em học
sinh được duy trì.
Vai trò quản lý, chỉ đạo:
Xã hội hóa công tác giáo dục là cuộc vận động lớn trong xã hội có sự lãnh đạo chặt chẽ
của cấp ủy Đảng, sự quản lý điều hành của Uỷ ban nhân dân xã, trong đó vai trò nồng cốt

19

cầu học tập của nhân dân, xây dựng nhà trường thành trung tâm văn hóa của địa
phương./.
Người viết
Huỳnh Ngọc Thu Hưởng
20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status