Nghiên cứu vai trò của quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch làng nghề ở Hà Nội - Pdf 39

TÓM TẮT LUẬN VĂN
1. Lý do và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, phát triển du lịch làng nghề đang là một hướng đi đúng đắn được
nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch. Ở Việt Nam
cũng vậy, nhiều làng nghề hiện nay đã có chủ trương phát triển gắn với du lịch. Các
làng nghề này đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nước nói chung và
đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng.
Hà Nội - Thủ đô của Việt Nam với lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa đa
dạng, giàu bản sắc, đây thực sự là trung tâm du lịch lớn của Việt Nam và luôn là
một trong những địa điểm thu hút khách du lịch. Sau khi mở rộng, Hà Nội trở thành
nơi nhiều làng nghề nhất trong cả nước cùng với lợi thế về vị trí chính trị, văn
hóa...Tuy nhiên, sau mười năm thực hiện chủ trương đưa làng nghề vào khai thác
du lịch thì chỉ có hai làng nghề Bát Tràng và Vạn Phúc đạt được những kết quả
đáng kể, các làng nghề khác gần như bị bỏ quên.
Du lịch làng nghề Hà Nội đang đứng trước nhiều rào cản như: các hoạt động
đều phát triển tự phát, thiếu định hướng; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của
làng nghề nói chung và phục vụ hoạt động du lịch nói riêng còn thiếu và yếu; người
dân chưa có kỹ năng và kiến thức chuyên môn cũng như ngoại ngữ để đón tiếp
khách; và các sản phẩm tại làng nghề chưa thích hợp cho khách du lịch, v.v...Chính
vì vậy mà hiệu quả đạt được của du lịch làng nghề còn nhỏ, chưa thật tương xứng
với tiềm năng.
Để giúp các làng nghề du lịch Hà Nội vượt qua những rào cản trên, quản lý
Nhà nước cần phát huy vai trò của mình trong việc quản lý các làng nghề. Nhận
thấy được sự cần thiết này trong phát triển du lịch làng nghề hiện nay ở Hà Nội, từ
đó tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu vai trò của quản lý Nhà nước đối với phát triển
du lịch làng nghề ở Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình, với mong muốn
góp phần đưa ra những đánh giá, mô hình và giải pháp trong quản lý Nhà nước với


phát triển du lịch làng nghề và áp dụng triển khai trong thực tế để khai thác có hiệu

cộng đồng cao.
Dựa trên những điều kiện để một làng nghề trở thành làng nghề du lịch, các
tiêu chí để xây dựng làng nghề du lịch kết hợp với vận dụng kiến thức đã học về du
lịch, tác giả đã hệ thống lại điều kiện để hình thành và phát triển kinh doanh du lịch
làng nghề bao gồm: Vị trí địa lí; Dân cư và lao động; Sự biến động thị trường khách
du lịch; Kết cấu hạ tầng; Nguồn vốn; Nguồn nguyên vật liệu; Công nghệ và kỹ thuật
sản xuất; Cơ chế chính sách.
Sản phẩm DLLN có tính văn hóa, xã hội rất cao và được xây dựng dựa trên
những đặc điểm cơ bản của làng nghề truyền thống. Ngoài những đặc điểm chung
của sản phẩm du lịch là tính không lưu kho được, quá trình sản xuất và sử dụng diễn
ra cùng thời điểm, v.v…, du lịch làng nghề truyền thống có những đặc trưng riêng
về thị trường và vị trí trong ngành du lịch: Sản phẩm DLLN chủ yếu được xây dựng
dựa vào nguồn tài nguyên du lịch phi vật thể của làng nghề; DLLN chỉ là điểm tham
quan trong ngày; Mức độ tham gia của cộng đồng cao; Tính thời vụ thấp; Cơ cấu
khách đơn giản.
Du lịch làng nghề có vai trò cả đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung
và hoạt động du lịch nói riêng. Với kinh tế xã hội, phát triển du lịch làng nghề giúp
phân phối lại nguồn thu nhập, kích thích phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, bảo tồn
nền văn hoá truyền thống, khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống đã
và đang bị mai một trong nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước, giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Đối với hoạt động
du lịch, du lịch làng nghề góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch của đất nước
với thế mạnh nguồn tài nguyên du lịch văn hóa, thêm vào đó hàng thủ công truyền
thống là một phần quan trọng của du lịch.
* Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về du lịch, du lịch làng nghề:
- Quản lý Nhà nước về du lịch là: quá trình tác động của Nhà nước đến du
lịch thông qua hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, hệ thống chính sách pháp luật
với mục tiêu phát triển du lịch đúng định hướng của Nhà nước, tạo nên trật tự trong



khác nhau để điều tiết hoạt động kinh doanh du lịch nói chung, DLLN nói riêng, xử
lý đúng đắn mâu thuẫn của các quan hệ.
+ Vai trò giám sát: Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh
DLLN cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó, cũng như giám sát chế độ quản
lý của các cơ quan Nhà nước.
Những cơ sở lý luận về khái niệm làng nghề, du lịch làng nghề, những điều
kiện để phát triển một làng nghề du lịch sẽ là cơ sở để tác giả phân tích, đánh giá
hiện trạng phát triển, cũng như tình trạng quản lý Nhà nước đối với du lịch làng
nghề ở Hà Nội.
Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu thập,
phân tích, tổng hợp tài liệu; phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp thống
kê; phương pháp thực địa; phương pháp phỏng vấn nhanh. Các phương pháp này rất
có ý nghĩa trong việc đem lại tính thực tế, cụ thể cho luận văn.
3. Những kết quả nghiên cứu của luận văn:
Con số 1350 làng nghề và làng có nghề của Hà Nội, với 272 làng nghề đã
được công nhận đến nay cho thấy tiềm năng phát triển du lịch gắn với các làng nghề
là vô cùng lớn, việc khái quát “hình ảnh” các làng nghề trong hoạt động kinh tế
cũng như trong hoạt động du lịch có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc đưa ra những
giải pháp mang tính đồng bộ cho phát triển du lịch làng nghề ở địa phương này.
- Tình hình du lịch Hà Nội: Là một trong những trung tâm du lịch trọng điểm
của cả nước, Thủ đô Hà Nội đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch
của cả nước nói chung và của Bắc Bộ nói riêng, làm gia tăng đáng kể lượng khách
của cả nước cũng như đóng góp lượng lớn ngoại tệ từ thu nhập du lịch. Nằm ở vị trí
địa lý quan trọng, với vị trí là đô thị loại đặc biệt, một trong hai trung tâm du lịch
lớn nhất của cả nước, trong thời gian qua Hà Nội có tốc độ phát triển về khách khá
cao: năm 2000 đón 3,79 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế 0,56 triệu lượt, nội
địa 3,23 triệu lượt; năm 2005 đón 8,06 triệu lượt khách tăng 2,13 lần so với năm
2000 trong đó 1,25 triệu lượt khách quốc tế; năm 2010 đón 12,3 triệu lượt khách du




công nhận danh hiệu làng nghề (255 làng do Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây trước
đây công nhận và 01 làng thuộc huyện Mê Linh do Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
công nhận), trong đó có 198 làng nghề truyền thống được công nhận. Khu vực các
làng nghề của Hà Tây cũ là nơi có mức độ tập trung các làng nghề cao, điều này sẽ
tạo thuận lợi cho việc quy hoạch, kết nối giữa các làng nghề để lập tour DLLN.
Yếu tố truyền thống của các làng nghề cùng với những lợi thế về cảnh quan
thiên nhiên và nét văn hóa dân tộc đặc sắc của Hà Nội tạo tiềm năng cho việc khai
thác, phát triển làng nghề gắn với du lịch. Phát triển DLLN đem lại lợi ích cho xã
hội về nhiều mặt. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của việc phát triển các làng
nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống; bởi vậy mà liên tục trong những năm
gần đây Nhà nước luôn chú trọng đưa ra các chính sách thúc đẩy và phát triển các
làng nghề truyền thống. Sau mười năm thực hiện chủ trương đưa làng nghề vào khai
thác du lịch, làng nghề Hà Nội đã đạt được những kết quả ban đầu, tuy nhiên vẫn
chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và còn nhiều hạn chế.
+ Về khách du lịch: khách du lịch đến làng nghề với động cơ du lịch chiếm
46,60%, kết hợp du lịch với mua sắm 34,95%, du lịch kết hợp với nghiên cứu khoa
học 11,65% và khách có động cơ khác chiếm 6,8%. Theo kết quả điều tra khách du
lịch đến làng nghề, khách du lịch là nữ chiếm 36,89%, nam giới là 63,11%; đối
tượng khách là học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ cao với 23,3% tổng số khách, giới
nghiên cứu thấp nhất 5,83%. Hiện nay, tỷ lệ khách đến DLLN Hà Nội qua các hãng
lữ hành chiếm 38,83% tổng số khách và số khách tự tổ chức là 61,17%.
Khách du lịch đến làng nghề thường có nhu cầu chi tiêu trung bình. Có sự
chênh lệch lớn trong mức chi giữa các đối tượng khách khác nhau, bình quân mỗi
khách quốc tế đến làng nghề chi khoảng 21USD/1 ngày và khách du lịch nội địa là
180.000 VNĐ/1ngày.
+ Tình hình kinh doanh DLLN:
Theo số liệu điều tra thực tế tại các làng nghề du lịch Hà Nội, số đơn vị vừa
tiến hành sản xuất đồ thủ công truyền thống vừa có gian hàng bán đồ thủ công mỹ
nghệ có tỷ lệ trung bình là 38,46% tổng số đơn vị sản xuất trong làng. Còn lại



Du lịch làng nghề hiện nay được xây dựng dựa trên nguyên tắc tự phát nên
thiếu quy hoạch đồng bộ và chuyên nghiệp. Hà Nội là địa phương có nhiều làng
nghề nhất trong cả nước nhưng hoạt động du lịch cũng chỉ diễn ra ở một số ít làng
hội tụ được những yếu tố như có truyền thống công nghệ đặc sắc, đậm nét cảnh
quan truyền thống và thuận tiện thiết lập các tour và các tuyến du lịch.
Việc tạo dựng các sản phẩm du lịch trọn gói, hấp dẫn khách du lịch và lập
chương trình cho các tuyến, chương trình du lịch làng nghề còn chưa được quan tâm
thỏa đáng. Chính vì vậy, các làng nghề Hà Nội chưa có những sản phẩm mang đặc
trưng du lịch, mà nhìn chung sản phẩm phục vụ du lịch không khác gì so với hàng
bán ngoài thị trường, từ đó tính hấp dẫn của làng nghề đối với du khách giảm đi.
Việc quảng bá về các làng nghề Việt Nam nói chung, làng nghề Hà Nội chưa
thực sự là một điểm nhấn về văn hóa lịch sử, chưa tạo được ấn tượng mạnh thu hút
sự quan tâm của khách du lịch quốc tế. Trên thực tế phát triển các làng nghề du lịch
tại nước ta thời gian qua cho thấy các làng nghề chưa nhận thức rõ ràng sâu sắc
những động cơ, kinh nghiệm, sở thích của khách du lịch đối với du lịch làng nghề
truyền thống.
Về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, chỉ có một số làng nghề được quan tâm, hỗ
trợ đầu tư của Nhà nước về hệ thống giao thông đường làng, điện nước...còn hầu hết
các làng nghề cơ sở hạ tầng yếu và thiếu, chưa đủ đáp ứng yêu cầu kinh doanh du
lịch.
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề bức xúc đối với các làng nghề. Hầu hết
các làng nghề sản xuất đồ gốm, dệt nhuộm, đúc đồng...hiện nay đều trong tình trạng
ô nhiễm ở mức báo động.
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế. Công tác đào tạo nguồn
nhân lực ở đây còn đề cập đến cả công tác phát triển đội ngũ nghệ nhân, công nhân
lành nghề, hướng dẫn viên du lịch địa phương...đều chưa được quan tâm và chú ý
đúng mức.
- Một số vấn đề trong QLNN về phát triển DLLN:

mức đối với các nghệ nhân. Hiện nay, những người khi được phong danh hiệu


“nghệ nhân” vẫn chưa được hưởng bất kỳ chế độ đãi ngộ nào. Họ chưa được tạo
điều kiện để mở các lớp đào tạo truyền nghề cho thế hệ trẻ.
Chưa xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ giữa làng nghề với Hiệp hội làng
nghề, giữa Hiệp hội làng nghề và Tổng cục du lịch, giữa các công ty du lịch với các
làng nghề để các công ty du lịch đưa khách đến các làng nghề. Các công ty du lịch
chưa gắn bó chặt chẽ với các làng nghề du lịch trong việc xác định sản phẩm du lịch
đặc trưng của làng nghề du lịch, phương thức khai thác du lịch, nghiên cứu, xây dựng
các chương trình du lịch đa dạng, hấp dẫn mới lạ, phù hợp với từng đối tượng khách
du lịch.
Từ những nghiên cứu, điều tra để tìm ra đâu là vấn đề đặt ra cho phát triển
du lịch làng nghề ở Hà Nội, thực trạng vấn đề quản lý Nhà nước đối với làng nghề
du lịch ra sao, để từ đó đề xuất các định hướng, mô hình và giải pháp khắc phục
nhằm đạt được mục đích là phát triển du lịch làng nghề tương xứng với tiềm năng
của nó.
* Những điểm đóng góp mới và hạn chế của luận văn:
Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu đưa ra những giải pháp phát triển
đối với du lịch làng nghề truyền thống của Hà Tây trước đây, hay với du lịch làng
nghề Hà Nội ngày nay, tuy nhiên đây là những giải pháp cho du lịch làng nghề nói
chung.
Ở luận văn này, tác giả đã cố gắng thông qua sự kế thừa các công trình
nghiên cứu trước và những tìm tòi, suy ngẫm của riêng mình để đưa ra những giải
pháp sát với thực trạng vấn đề nghiên cứu mà cụ thể ở đây là ngoài việc đưa ra các
giải pháp chung thì luận văn có một điểm mới là đề xuất được mô hình quản lý Nhà
nước nhằm phối hợp giữa các ngành khác nhau để phát triển loại hình du lịch rất
đặc trưng của vùng đất “trăm nghề” này.
Tuy nhiên với vốn kiến thức có hạn, những định hướng, mô hình và giải
pháp mà tác giả đề xuất sẽ không tránh khỏi những sai sót. Các định hướng, mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status