LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu
Trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học - Mầm non đã tạo điều kiện
cho em nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo - ThS. Khổng Cát Sơn, người
đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ đạo tận tình cho em trong suốt quá trình làm khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo chủ nhiệm và tập thể lớp K52 - Đại
học giáo dục Tiểu học A đã động viên, khích lệ em làm khóa luận cùng toàn thể các
thầy cô giáo trong thư viện trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh Trường Tiểu học
Chiềng Sinh - Sơn La đã giúp đỡ em trong quá trình khảo sát thực tế và thể nghiệm
tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Phùn Thị Bích
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề..............................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................4
5. Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................................4
6. Phạm vi đề tài ..............................................................................................................4
7. Giả thiết khoa học ........................................................................................................4
8. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................4
9. Đóng góp đề tài............................................................................................................5
10. Cấu trúc đề tài ............................................................................................................5
3.1.2. Thời gian, địa bàn thể nghiệm .............................................................................42
3.1.3. Đối tượng thể nghiệm ..........................................................................................42
3.1.4. Nội dung và tiêu chí đánh giá thể nghiệm ...........................................................42
3.2. Kết quả thể nghiệm .................................................................................................44
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................................47
KẾT LUẬN ..................................................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
HS
:
Học sinh
GV
:
Giáo viên
SGK
:
Sách giáo khoa
cầu không thể thiếu của mỗi con người, nhờ có kỹ năng giao tiếp mà con người có thể
chung sống với nhau và hòa nhập trong một xã hội không ngừng biến đổi.
Đối với học sinh tiểu học, giao tiếp giúp học sinh trao đổi tri thức thông tin học
tập, rèn luyện, chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống hoạt động và vui chơi. Nhờ có hoạt
động giao tiếp, các em có điều kiện bộc lộ khả năng hiểu biết của mình cũng như được
phát triển các thao tác tư duy qua các hoạt động “ nghe - nói - đọc - viết”. Qua giao
tiếp học sinh biết bày tỏ thái độ và quan điểm của mình trong quan hệ gia đình, nhà
trường và xã hội.
Để thực hiện các mục tiêu giáo dục cho học sinh tiểu học cần thiết phải hình
thành và phát triển ở các em kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp này được rèn luyện
chủ yếu ở trong môn Tiếng Việt. Trong các giờ học tiếng việt, dạy cho học sinh biết
cách giao tiếp có hiệu quả chính là dạy cho các em biết cách nhận thức đúng đắn về
mình, nhận biết về đối tượng giao tiếp, biết cách tiếp cận với đối tượng giao tiếp và
biết bày tỏ thái độ, quan điểm của mình bằng lời nói cử chỉ, điệu bộ, nét mặt và bằng
cả những việc làm khi cần thiết.
Kỹ năng giao tiếp giúp học sinh biết cách giải quyết những tình huống trong
cuộc sống hàng ngày, giúp các em nói những điều muốn nói, làm những việc nên làm,
đồng thời biết lắng nghe và thấu hiểu người khác. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề giao tiếp
của học sinh Trường Tiểu học Chiềng Sinh còn chưa được thực sự quan tâm đúng
mức, đăc biệt là những học sinh dân tộc thiểu số. Kỹ năng giao tiếp của học sinh còn
hạn chế, các em chưa dám bày tỏ ý kiến của mình, còn chưa tự tin hòa mình vào cuộc
sống bạn bè, thầy cô, dẫn đến các em không thể học tập tốt được.. Nếu tình trạng này
không được khắc phục sẽ làm cho các em ngày càng tự ti, thu mình với thế giới xung
quanh. Đây là trở ngại lớn cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình học tập.
Từ ý nghĩa quan trọng của kỹ năng giao tiếp và thực trạng giao tiếp của học
sinh hiện nay tôi mạnh dạn tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề “Đề xuất biện pháp nâng
1
cao kỹ năng giao tiếp thông qua môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học
2
thuyết đó vào việc thiết kế giáo án, quy trình hoạt động rèn luyện kĩ năng nghe - nói đọc - viết cho học sinh tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học Lê Phương Nga (chủ
biên) đã đưa ra cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của dạy học tiếng Việt ở tiểu học và
trình bày chi tiết những mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, cơ sở khoa học của các
phương pháp dạy học. Trên cơ sở đó đề ra những phương pháp dạy học hiện đại hướng
tới rèn luyện kỹ năng cho học sinh tiểu học, giúp năng cao hiệu quả học tập của học sinh.
Tác giả PGS. TS Nguyễn Trí trong cuốn sách Một số vấn đề về dạy hội thoại
cho học sinh tiểu học đã tập trung vào dạy và rèn luyện kĩ năng nghe - nói và luyện kỹ
năng trao lời, đáp lời cho học sinh. Hướng dẫn các em sử dụng các nghi thức lời nói,
vai xưng hô cho phù hợp với hoàn cảnh, vai giao tiếp của mình.
Tác giả Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn kỹ năng nói theo hướng giao
tiếp trong công trình Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo
hướng giao tiếp. Từ lý thuyết hội thoại, tác giả đã rút ra một số vấn đề quan trọng, để
học sinh có thể giao tiếp tốt, người giáo viên cần phải chú ý tới một số điểm sau: phải
chuẩn bị tốt nội dung bài nói, phải tạo được nhu cầu về hội thoại cho học sinh và phải
tạo được hoàn cảnh giao tiếp tốt.
Xét về phạm vi tìm hiểu, các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên đã
bàn đến mục tiêu, nội dung, biện pháp phát triển lời nói hoặc dạy học ngôn bản nói và
viết theo hướng giao tiếp song kỹ năng giao tiếp mới chỉ được nói một cách khái quát
ở chương cuối của các công trình hoặc chỉ đề cập có giới hạn ở một số bài viết mà vẫn
chưa hình thành nên một công trình nghiên cứu về rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học
sinh một cách hoàn chỉnh. Do vậy việc nghiên cứu để tìm biện pháp nâng cao kỹ năng
giao tiếp cho học sinh tiểu học là một việc làm cần thiết, nhằm đưa ra các hình thúc và
phương pháp để tổ chức hoạt động nâng cao kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học
Trường Tiểu học Chiềng Sinh - Sơn La.
3. Mục đích nghiên cứu
đề quan trọng nhằm phát triển lời nói cho học sinh. Đối với học sinh Trường Tiểu học
Chiềng sinh – Sơn La đây là vấn đề chưa thục sự được quan tâm, nhiều giáo viên chưa
nhận thức được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng và phát triển giao tiếp cho học sinh
trong khi dạy tiếng Việt cho các em.
Nếu đề tài đề xuất được biện pháp phù hợp sẽ giúp các em tự tin hơn khi sử
dụng ngôn ngữ tiếng Việt vào trong giao tiếp, từ đó giúp các em linh hoạt trong tư duy
và phát triển trí tuệ học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác trong nhà trường tiểu học.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
4
Nghiên cứu tài liệu liên quan tới đề tài, đọc và hệ thống hóa liên quan đến cơ sở
lí luận của vấn đề nghiên cứu và tài liệu lien quan đến cơ sở hình thành và nâng cao kỹ
năng giao tiếp cho học sinh tiểu học.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Dự giờ, quan sát và khảo sát thực trạng dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao
tiếp của giáo viên và học sinh lớp 3, Trường Tiểu học Chiềng Sinh – Sơn La.
Thể nghiệm sư phạm, thống kê kết quả điều tra, phân tích mô tả kết quả nghiên cứu.
9. Đóng góp đề tài
Về lí luận: Khẳng định dạy tiếng Việt phải chú ý tới dạy kỹ năng giao tiếp cho
học sinh; đề xuất các biện pháp dạy học theo tinh thần tích cực, quan điểm giao tiếp;
khẳng định đổi mới phương pháp dạy học hiện đại.
Về thực tiễn: Khảo sát, đánh giá thể nghiệm, thiết kế thể nghiệm.
Nhằm góp phần hoàn thiện mô hình bài giảng giờ học tiếng Việt theo quan
điểm giao tiếp.
10. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm
các chương.
nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi”.
1.1.1.2. Giao tiếp
Giao tiếp là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện sự
tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người. Thông qua đó con người trao đổi với
nhau thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng qua lại tác động với nhau. Nói
cách khác, “giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các mối quan hệ người với
người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”[4.Trang 38].
Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xảy ra với các hình
thức khác nhau.
- Giao tiếp các nhân với cá nhân.
6
- Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm.
- Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng…
Giao tiếp vừa mang tính chất xã hội, vừa mang tính chất cá nhân. Tính chất xã
hội của giao tiếp thể hiện ở chỗ, nó được nảy sinh, hình thành trong xã hội và sử dụng
các phương tiện do con người tào ra, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính
chất cá nhân được thể hiện ở nội dung phạm vi, nhu cầu, phong cách, kỹ năng… giao
tiếp của mỗi người.
Giao tiếp có nhiều chức năng
Chức năng thông tin: Qua giao tiếp, con người trao đổi, truyền đạt tri thức kinh
nghiệm với nhau. Mỗi các nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông
tin. Thu thập và xử lý thông tin là một con đường quan trọng để phát triển nhân cách.
Chức năng cảm xúc: Giao tiếp không chỉ thể hiện cảm xúc, mà còn tạo ấn
tượng, những cảm xúc mới giữa các chủ thể. Vì vậy giao tiếp là một trong những con
đường hình thành tình cảm con người.
Chức năng nhận thức lẫn nhau, đánh giá lẫn nhau: Trong giao tiếp mỗi cá nhân
bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen… của mình, do đó các chủ thể có nhận
thức được về nhau và làm cơ sở đánh giá lẫn nhau. Điều quan trọng hơn là trên cơ sở
tốt đòi hỏi người sử dụng phải thực hành thường xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh
mới có thể cải thiện tốt kỹ năng giao tiếp của mình.
Đây là kỹ năng không những liên quan đến qui tắc ứng xử mà còn liên quan đến
cách hình thành ngôn ngữ đúng, làm thế nào để sử dụng ngôn ngữ phát ngôn thích hợp
và vai trò của ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội. Kỹ năng này ở học sinh tiểu học nói
chung và học sinh lớp 3 nói riêng còn rất nhiều khó khăn khi nõi và viết. Khó khăn lớn
nhất là hả năng diễn đạt trong lời nói và khả năng tiểu kết câu trong lời viết nhất là đối
với học sinh tiểu học miền núi như học sinh Trường Tiểu học Chiềng Sinh - Sơn La.
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh
Môn Tiếng Việt ở tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hình
thành kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất
nhiều kết quả của Tâm lý học. Đó là các qui luật tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng,
kỹ xảo. Thầy giáo cần biết, sản phẩm lời nói được sản sinh ra thế nào, quá trình đọc
được thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp được hình thành như thế ở trẻ
em ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy ra sao, kỹ năng nói, viết
được hình thành thế nào… Tâm lý học đưa ra cho phương pháp những số liệu cụ thể
về quá trình nắm lời nói, về việc nắm ngữ pháp. Nhứng nghiên cứu tâm lý học cho
phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập.
8
Để qua trình giao tiếp đạt được hiệu quả cao thì yếu tố tâm lý cũng đóng vai trò
rất quan trọng. Ở giai đoạn này, các em vừa chuyển từ hoạt động chính là vui chơi
sang hoạt động chính là học tập. Mặc dù các em bước đầu đã biết sử dụng ngôn ngữ để
học tập và giao tiếp, tuy nhiên quá trình giao tiếp giữa học sinh và giáo viên, giữa học
sinh với bạn bè xung quanh còn gặp một số trở ngại nhất định. Học sinh Trường Tiểu
học Chiềng Sinh có rất nhiều em là người dân tộc thiểu số, vốn từ ngữ tiếng Việt còn
hạn chế, các em còn sử dụng tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ giao tiếp chính. Điều đó gây
trở ngại lớn cho việc hòa nhập cuộc sống cộng đồng của các em trong môi trường nhà
giao tiếp tích cực, mở rộng vốn từ của mình để các em được phát triển toàn diện qua
việc tích hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mới.
1.1.2.2. Đặc điểm giao tiếp của học sinh tiểu học
a. Đặc điểm giao tiếp của học sinh tiểu học
Đặc điểm của Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học quy định bởi đặc
điểm của học sinh lứa tuổi này. Giao tiếp giúp các em học tập tốt hơn, mở rộng tầm
hiểu biết của mình. Trong quá trình học tập đa số các em đều có hứng thú học tập, yêu
thích môn học. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng nhiều học sinh còn ngại phát biểu trong
giờ học tiếng Việt, không dám bày tỏ quan điểm của mình với banh bè, thầy cô giáo,
ngại giao tiếp với người lạ. Điều đó làm các em cảm thấy tự ti vào bản thân mình, dẫn
đến học tập không sôi nổi, ngày càng thu mình với mọi người
Đa phần các em học sinh tiểu học đều biết sử dụng tiếng Việt thành thạo khi
viết, nói nhờ đó các em có khả năng tự khám phá kiến thức, tìm hiểu thế giới xung
quanh. Tuy nhiên vẫn còn nhiều em gặp khó khăn khi sử dụng tiếng Việt. Các em còn
mắc lỗi về dùng từ, phát âm, đặt câu,… đặc biệt là học sinh dân tộc vùng cao. Học
sinh đầu tiểu học những lỗi tiếng Việt này càng phổ biến vì các em gặp khó khăn trong
việc chuyển chữ viết thành lời nói, vốn sống của các em còn ít, chưa được gia đình
quan tâm. Từ phân tích trên giáo viên cần quan tâm phát huy yếu tố tích cực và hạn
chế những tiêu cực trong giao tiếp của học sinh tiểu học, giúp các em phát triển ngày
càng tiến bộ, hòa nhập cuộc sống tốt hơn.
b. Đặc điểm giao tiếp của học sinh Trường Tiểu học Chiềng Sinh
Đặc điểm về vốn từ: Qua quá giao tiếp và kiểm tra phiếu điều tra với các em
học sinh tôi nhận thấy rằng các em học sinh có vốn từ tương đối phong phú, các em đã
biết sử dụng khá thành thạo tiếng Việt khi giao tiếp, một số em có vốn từ ngữ phong
phú hơn khi trò chuyện giao tiếp. Bên cạnh các em giao tiếp tốt nhiều em vẫn còn hạn
chế về ngôn ngữ giao tiếp. Đa số là các em dân tộc nên bị ảnh hưởng nặng bởi tiếng
mẹ đẻ, trong khi giao tiếp còn phát âm chưa chuẩn nhiều từ, tiếng như : l – đ (lần –
đần), v – b (vào – bào), th – t (thứ - tứ), n – l (no đói – lo đói),… hoặc khi nói chuyện
10
giai đoạn lứa tuổi có những đặc điểm phát triển riêng. Trong điều kiện sống và hoạt
động mới của cuộc sống nhà trường, dựa trên nền tảng của những thành tựu phát triển
về mọi mặt của các giai đoạn lứa tuổi trước đời sống tâm lí của học sinh tiểu học có
những biến đổi và phát triển để làm nên “chất tiểu học” trong mỗi đúa trẻ. Sự biến đổi,
11
phát triển này diễn ra trên tất cả các mặt của cấu trúc nhân cách cũng như mọi chức
năng tâm lí cảu các nhân trẻ, trong đó có nhận thức.
d. Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học
“Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện tượng, để
định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lý cần thiết cho hoạt động
tiến hành có hiệu quả”[1. Trang 137].
Sự chú ý của học sinh chưa bền vững, nhất là của học sinh các lớp đầu tiểu
học chủ yếu là chú ý không chủ định. Chú ý không chủ định được phát triển mạnh mẽ
và chiếm ưu thế ở học sinh tiểu học. Trong quá trình học tâp (nhất là môn Tiếng Việt),
những điều mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ đều dễ dàng cuốn hút sự chú ý của trẻ mà không
cần bất kì sự nỗ lực nào của chú ý.
Môn Tiếng Việt mang lại cho các em rất nhiều điều hấp dẫn thông qua cả kênh
hình và kênh chữ. Đó là hệ thống vô cùng phong phú của các hình ảnh trong mỗi bài
họ, dù là bài tập đọc, tập viết, luyện từ và câu hay các phân môn khác đều có hình ảnh
minh họa cho các em rất sinh động. Học tiếng Việt các em còn được nghe kể về các
câu chuyện ở những miền xa xôi, mới lạ mà các em chưa tùng biết đến. Giaos viên cần
khaithacs hết những thuận lợi này để cuốn hút các em vào bài học cũng chính là khắc
phục khó khăn về duy trì khả năng chú ý của học sinh trong các giờ học tiếng Việt.
d. Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học
“Tư duy là một quá trìn tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối
liên hệ, quan hệ bên trong có quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách
quan mà trước đó ta chưa biết”[1. Trang 122].
Đặc điểm nổi bật trong tư duy của học sinh tiểu học là chuyển từ tính trực quan,
ngôn ngữ, xã hội không thể tồn tại. Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, trao đổi tư
tưởng, tình cảm thì nghiên cứu nó phải nghiên cứu hệ thống hoạt động chức năng.
Mục đích của nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường là phải để cho học sinh sử dụng
ngôn ngữ làm phương tiện sắc bén để giao tiếp. Vì vậy, phát triển năng lực giao tiếp
bằng ngôn ngữ (phát triển lời nói) là nhiệm vụ quan trọng nhất của việc dạy học trong
nhà trường. Đồng thời, vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động
giao tiếp làm phương tiện để dạy và học tiếng Việt. Vậy Lênin đã chỉ ra chức năng
giao tiếp của ngôn ngữ. Đó là phương tiện giao tiếp quan trọng và ưu việt nhất của con
người. Nó hơn hẳn các phương tiện giao tiếp khác về tiện lợi và tính hiệu quả đối với
hiệu quả giao tiếp. Không một phương tiện giao tiếp nào (cử chỉ, các loại kí hiệu, các
tác phẩm nghệ thuật…) có thể thay thế được ngôn ngữ. Chỉ có ngôn ngữ mới truyền
đạt được những nội dung, yêu cầu chính xác, rõ ràng. Chỉ có ngôn ngữ mới có thể
truyền đạt được những cung bậc cảm xúc tinh tế, sâu sắc nhất của con người. Chỉ có
13
ngôn ngữ mới đáp ứng được những nhu cầu giao tiếp phong phú, sinh động và đa dạng
của con người.
Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy “Ngôn ngữ là hiện thực trực
tiếp của tư tưởng” (C.Mác). Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức logic, lí tính. Tư
duy của con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ. Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ
nhằm tạo ra những tiền đề để phát triển tư duy. Phải thường xuyên luyện tập cho học
sinh khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau.
Lời nói cần có nội dung, đó chính là tư duy. Tư duy tốt thì giao tiếp sẽ tốt.
Nhận thức của chủ nghĩa Mác – Lênin dạy rằng: Con đường biện chứng của
nhận thức chân lí khách quan đi qua hai giai đoạn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lí
tính, đông thời cũng chỉ ra thực tiễn là cuội nguồn, động lực của nhận thức, cũng là
tiêu chuẩn của chân lí, là đỉnh cao và mục đích cuối cùng của nhận thức. Đây là cơ sở
của nguyên tắc trực quan trong dạy học tiếng Việt và cũng là cơ sở đề ra nguyên tắc
nhau tham gia thảo luận để tìm ra tri thức mới và khi có những thắc mắc các em sẽ nhờ
đến thầy cô giáo giải đáp vấn đề, chính nhờ quá trình trao đổi mà học sinh sẽ tạo ra và
tiếp thu ngôn ngữ giao tiếp, lời nói diễn đạt trau chuốt, phong phú hơn. Từ đó, khả
năng giao tiếp của các em tốt hơn và các mà kiến thức sẽ được khắc sâu hơn trong tâm
trí của các em.
Theo quan điểm triết học Mác- Lênin “ngôn ngữ là phương tiện để tư duy” do
vậy để có thể tư duy sáng tạo thì vốn từ của các em phải phong phú và ngược lại khi
vốn từ của các em phong phú thì khả năng giao tiếp của các em sẽ tốt hơn, từ đó giải
quyết các yêu cầu của giáo viên tốt hơn. Như vậy quan điểm giáo dục hiện đại góp
phần vào việc nâng cao năng lực giao tiếp cho các em, rèn cho các em khả năng tự tin,
trình bày tốt các vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống.
b. Các nguyên tắc dạy học hiện đại
Theo quan điểm dạy học hiện đại hiện nay thì việc dạy học phải hướng đến lấy
người học làm trung tâm, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho người học muốn vậy phải
đổi mới cách thức dạy và học. Phải có phương pháp dạy học mới để phát huy tối đa
tính tịch của người học. Tuy nhiên cũng không phủ nhận hoàn toàn các phương pháp
dạy học cũ mà là sự kết hợp nhịp nhàng giữa phương pháp mới và cũ để bổ sung và
khắc phục nhược điểm cho nhau. Một số phương pháp dạy học hiện đại như: phương
pháp rèn luyện theo mẫu, giao tiếp, phân tích ngôn ngữ, thảo luận nhóm, trò chơi học tập.
b1. Phương pháp rèn luyện theo mẫu
Phương pháp rèn luyện theo mẫu là phương pháp giáo viên rèn cho học sinh
dựa theo mẫu lời nói để giải quyết các bài tập, rèn kỹ năng hoặc tạo ra lời nói của
mình. Các em dựa vào đơn vị ngôn ngữ, lời nói mô phỏng của giáo viên, sách giáo
khoa để tạo ra lời nói của mình. Phương pháp này có nhiều dạng bài tập khác nhau: đặt
15
câu theo mẫu, luyện phát âm, đọc diễn cảm theo mẫu của giáo viên. Những phương
pháp này đều được sử dụng nhiều nhất trong phân môn tập đọc, tập làm văn, kể
chuyện, luyện từ và câu. Giáo viên cần nắm vững mục tiêu dạy học của từng bài, có
giáo viên hướng dẫn các em nhận xét, đánh giá về chính bản thân và bạn bè. Do đó
phương pháp giao tiếp là phương pháp dự vào lời nói, vào những thông báo sinh động,
vào tổ chức quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệu quả trong những tình
huống giao tiếp cụ thể. Dạy học tiếng Việt theo phương pháp dạy học phát triển lời nói
cho cá nhân học sinh.
Phương pháp giao tiếp này coi trọng sự phát triển lời nói trong khi giao tiếp.
Đây có thể coi là phương quan trọng, tạo điều kiện tốt cho học sinh được thực hành
giao tiếp, được vận dụng các dạng lời nói đa học vào từng hoàn cảnh cụ thể. Do đó, để
nắm bắt được năng lực giao tiếp của từng học sinh, giáo viên nên dành nhiều thời gian,
tạo đều kiện cho các em học tốt hơn.
b4. Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp đưa ra vấn đề sau đó chia lớp thành các nhóm
để thảo luận giải quyết vấn đề. Giáo viên phải tổ chức tốt hoạt động chia nhóm, phân
công công việc, báo cáo kết quả tổng kết. Có như vậy hoạt động nhóm mới thành
công, đạt hiệu quả cao. Thảo luận nhóm các em được trao đổi, bàn bạc, trình bày với
bạn bè những quan điểm, suy nghĩ của mình mà không ngại ngùng, lo sợ, đồng thời
các em cũng rèn luyện thói quen lắng nghe ý kiến của người khác. Đây cũng là
phương pháp rất tốt để rèn luyện tinh thần đồng đội, sự đoàn kết, gắn bó giữa các
thành viên trong nhóm với nhau. Vậy nó không chỉ rèn luyện kỹ năng nghe nói mà còn
góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em.
Đây là phương pháp hiệu quả để giáo viên rèn kỹ năng nghe – nói cho học sinh,
khi làm việc nhóm các em được trao đổi, bàn bạc nhờ đó mà vốn từ ngày càng phong
phú, ngôn ngữ sinh động tạo điều kiện để các em giao tiếp tốt hơn. Ngoài ra thảo luận
nhóm còn hình thành ở các em cách làm việc hợp tác với nhau.
b5. Trò chơi học tập
Trò chơi học tập là dạng hoạt động thông qua các trò chơi. Thường sử dụng sau
khi dạy học bài mới sau phần luyện tập. Trò chơi vừa giúp các em được giải trí, giảm
căng thẳng mệt mỏi vừa giúp các em củng cố kiến thức, đem lí thuyết vận dụng vào
1
Đọc đúng và rõ rang bài
Viết đúng chữ
Nghe hiểu lời
Nói rõ rang, trả
văn đơn giản (tốc độ
thường, chép
giảng và hướng
lời được câu
khoảng 30 tiếng/phút)
đúng chính tả
dẫn học tập của
hỏi dạng đơn
hiểu nghĩa và các từ
đoạn văn
thường, chữ hoa,
trong học tập,
đúng câu hỏi,
chính của đoạn văn,
viết bài chính tả
giao tiếp, ý
kể được một
đoạn thơ.
(khoảng 50
chính, nội dung
đoạn truyện đã
chữ/15 phút)
cưa câu
đọc hay sự việc
chuyện.
của người đối
nêu ý kiến cá
chính của bài.
chính tả (khoảng
thoại.
nhân, kể được
70 chữ/15 phút).
một đoạn
Biết thu ngắn
truyện đã học,
theo mẫu, kể lại
đã nghe hay
chuyện theo
việc đã làm.
tranh, kể lại công
việc đã làm.
cảm đoạn văn, đoạn thơ
hiểu nội dung và ý nghĩa
để thông báo
của bài học.
tin tức, sự việc
đã biết.
5
Đọc rành mạch, lưu loát
Viết bài văn
Biết lắng nghe
Biết dùng lời
bài văn (khoảng 150
miêu tả, bước
và biết làm rõ
nói phù hợp với
tiếng/phút). Đọc có biểu
Theo định hướng giao tiếp, việc dạy học tiếng Việt chú ý cả hai mặt: kỹ năng và kiến
thức. Về kỹ năng, chú ý rèn luyện cho học sinh các kỹ năng mà “trọng tâm là kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết trong đó tập trung hơn vào đọc và viết”[1.24]. Cần chú ý là kỹ
năng nghe trong các chương trình trước không được quan tâm, kỹ năng nói tuy có
19
được đề cập đến nhưng không có nội dung cụ thể để rèn luyện, không dành được thời
gian thỏa đáng để học sinh luyện nói.
Dạy kỹ năng sử dụng ngôn ngữ chương trình mới quan tâm đầy đủ đến cả ngôn
ngữ nói và ngôn ngữ viết. Thòi gian dành cho hai mặt kỹ năng này được điều chỉnh
hợp lí, khoa học từ lớp dưới đến lớp trên.
Nội dung chương trình được thiết kế theo hai giai đoạn nhằm phù hợp với đặc
điểm nhận thức của học sinh. Giai đoạn thứ nhất dành cho các lớp 1, 2 – tập trung học
các kỹ năng đọc, viết và phát triển các kỹ năng nghe, nói nhằm đạt được những yêu
cầu cơ bản sau: Đọc thông thạo và hiểu đúng một văn bản ngắn, viết rõ ràng và đúng
chính tả các chữ thông thường, thông qua thực hành nhận biết được một số kiến thức
sơ giản về từ và câu.
Giai đoạn thứ hai dành cho các lớp 3, 4, 5. Nội dung của giai đoạn này, một mặt
phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết ở mức có ý thức cao hơn. Mặt khác, trang bị
cho học sinh một số kiến thức sơ giản về tiếng Việt trong đó chủ yếu là các kiến thức
về từ và câu để đọc nói, nghe, viết tốt hơn. Các em có nhiều cơ hội để luyện kỹ năng
giao tiếp tốt hơn, do các em được học nhiều phân môn khác nhau: tập đọc, luyện từ và
câu, tập làm văn,… các phân môn này đều tập trung nhiều vào thực hành giao tiếp, rèn
các kỹ năng tiếng Việt. Đặc biệt các em còn được rèn luyện các nghi thức lời nói: nói
lời cảm ơn, xin lỗi, nói trong các văn bản hành chính… Ngoài ra các em còn được rèn
các kỹ năng giao tiếp qua hình thức hỏi đáp, thảo luận, trò chuyện với bạn bè,… để trả
lời các câu hỏi trong bài học, nội dung chủ đề bài học, về bản thân mình, gia đình,…
hoặc cũng có thể là trao đổi về một vấn đề diễn ra trong cuộc sống xung quanh bản
thân các em.
bằng nhiều hình thức khác nhau như: trao đổi, thảo luận, thuyết trình, đóng vai,… có
lúc thầy, cô giáo lại tổ chức cho từng em làm việc với sự hỗ trợ của các thiết bị học tập
như: làm việc với SGK, phiếu học tập, bảng con,… Từ đó tạo điều kiện cho học sinh
có ngôn ngữ phong phú và lời nói diễn đạt được chau chuốt hơn trong qúa trình học tập.
1.2.2. Nội dung chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3
Chương trình SKG Tiếng Việt cải cách giáo dục ở lớp 3 gồm có hai tập (tập 1 +
tập 2) gồm có 15 chủ điểm, các chủ điểm được học trong hai hoặc ba tuần.
* Tập 1: Gồm 8 chủ điểm có tên gọi như sau:
+ Măng non (tuần 1, 2)
+ Mái ấm (tuần 3, 4)
+ Tới trường (tuần 5, 6)
+ Cộng đồng (tuần 7, 8)
+ Quê hương tuần 10, 11)
+ Bắc – Trung – Nam (tuần 12, 13)
21