Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh - Pdf 39

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

======

CẤN THỊ LAN HƢƠNG

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG
THPT DỰA TRÊN PHONG CÁCH HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH
(ÁP DỤNG PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI - SGK LỊCH SỬ
LỚP 10, CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NINH THỊ HẠNH

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ThS Ninh Thị Hạnh đã nhiệt tình
hƣớng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình em thực
hiện khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Lịch sử, trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ, dìu dắt em trong suốt thời gian em học tại trƣờng
giúp em có kiến thức chuyên sâu về Lịch sử.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Thƣ viện Quốc gia Hà Nội, Thƣ viện Hà Nội,
Thƣ viện trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, Thƣ viện trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà


SGK

Sách giáo khoa

DHLS

Dạy học Lịch sử

THPT

Trung học phổ thông

PP

Phƣơng pháp


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 7
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 7
6. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................ 8
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................ 8
8. Bố cục khóa luận ........................................................................................ 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THIẾT KẾ VÀ SỬ

2.2.2. Sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS hỗ trợ việc tổ chức DH theo
góc ............................................................................................................... 52
2.3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................................ 54
2.3.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................ 54
2.3.2. Chọn đối tƣợng thực nghiệm .............................................................. 55
2.3.3. Nội dung và phƣơng pháp thực nghiệm .............................................. 55
2.3.4. Tiến hành thực nghiệm ....................................................................... 56
2.3.5. Kết quả thực nghiệm........................................................................... 58
Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................ 64
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 65
1. Kết luận .................................................................................................... 65
2. Khuyến nghị ............................................................................................. 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 67


PHỤ LỤC 1 PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN
PHỤ LỤC 2 PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN HỌC SINH
PHỤ LỤC 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
PHỤ LỤC 4 GIÁO ÁN ĐỐI CHỨNG
PHỤ LỤC 5 PHIẾU PHẢN HỒI Ý KIẾN HỌC SINH SAU GIỜ HỌC
THỰC NGHIỆM
PHỤ LỤC 6 BÀI KIỂM TRA SAU GIỜ HỌC THỰC NGHIỆM VÀ ĐỐI
CHỨNG
PHỤ LỤC 7 BỘ CÂU HỎI VAK
PHỤ LỤC 8


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay việc dạy và học Lịch sử đang trở thành mối quan tâm lớn của toàn

giới cận đại có nội dung tƣơng đối khó với nhiều mốc thời gian, khái niệm và vấn
đề lịch sử quan trọng. Nếu các giờ dạy vẫn đƣợc tiến hành đồng loạt, áp dụng nhƣ
nhau cho mọi đối tƣợng HS thì sẽ có nhiều HS yếu, kém không nắm đƣợc kiến thức
và kỹ năng cơ bản. Chính vì vậy, để giúp HS tìm hiểu nội dung kiến thức này, GV
cần cung cấp những công cụ hƣớng dẫn HS nhằm nâng cao chất lƣợng DH.
Bên cạnh đó, khi đứng trƣớc một tình huống học tập, mỗi HS đều có PCHT
riêng biệt nhằm tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. PCHT ảnh hƣởng rất lớn đến
hiệu quả học tập và thành công của mỗi cá nhân. Hiểu rõ về phong cách của HS,
GV có thể chủ động về chuyên môn và lựa chọn đƣợc PPDH phù hợp nhằm giúp
HS tiếp cận với những thông tin, kiến thức một cách dễ dàng hơn, đáp ứng nhu cầu,
sở thích, năng lực và kinh nghiệm của các em. Thiết kế và sử dụng PHT dựa trên
PCHT của HS là một con đƣờng, một cách có thể khắc phục những hạn chế này.
Xuất phát từ những lí do trên, cùng với nhu cầu bản thân muốn trang bị cho
mình kĩ năng thiết kế và sử dụng PHT vào dạy học môn Lịch sử lớp 10 THPT nên
chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong DHLS ở trƣờng
THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh (Áp dụng phần Lịch sử thế giới
cận đại - SGK Lịch sử lớp 10, chƣơng trình Chuẩn)”.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Xung quanh vấn đề đổi mới PPDH Lịch sử và thiết kế công cụ hỗ trợ hƣớng
HS học tập trong môn Lịch sử ở trƣờng THPT đã đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và trình bày trong các công trình nghiên cứu của mình.
Thứ nhất sách chuyên khảo về PPDH Lịch sử.
Các giáo trình về PPDH Lịch sử nhƣ: “Phương pháp dạy học lịch sử phần
đại cương”, tập 2 của các tác giả Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên (NXB
Giáo dục 1992), Cuốn “ Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm”
của Hội khoa học lịch sử Việt Nam do GS Phan Ngọc Liên chủ biên đã đề cập đến
phƣơng hƣớng, biện pháp để nâng cao chất lƣợng DHLS ở trƣờng phổ thông hiện

2



3


của Gardner đã chỉ ra rằng: mỗi con người chúng ta đều tồn tại một vài kiểu
thông minh tuy nhiên sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người... Trường
học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua vận động, thị giác...
đồng thời lèo lái tất cả mọi HS đi theo cùng một con đường. Nhiều HS đã có thể
học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của
mình. Thuyết đa trí tuệ đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu
gọi GV tôn trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi HS. GV phải là ngƣời giúp đỡ, khơi
gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hƣớng khác nhau ở HS.
Theo cuốn “Phương pháp giáo dục cho người học đa trình độ” của tác
giả Dunn có nói: cách thức mỗi cá nhân tập trung và ghi nhớ những thông tin
mới và khó liên quan tới quá trình nhận thức của họ. Một số HS học dễ dàng hơn
khi những thông tin được trình bày theo từng bước trong một sơ đồ liên tục.
Những người khác học dễ dàng hơn cả khi học hiểu khái niệm sau đó tập trung
vào chi tiết. Hay nhƣ cuốn “Các phong cách học tập: trí tuệ đa phương tiện” của
Miller đã đề cập đến cách phân loại PCHT dựa vào bán cầu não trái và bán cầu
não phải. Điều này ảnh hƣởng rất lớn đến xu hƣớng học tập của HS. Nhƣ vậy,
các tác giả đã chỉ ra rằng mỗi cá nhân đều có PCHT riêng biệt nhằm tiếp thu kiến
thức một cách tốt nhất. Hiểu rõ về phong cách của ngƣời học, ngƣời dạy có thể
điều chỉnh PP giảng dạy nhằm tận dụng tốt nhất tình huống đang diễn ra để giúp
ngƣời học tiếp nhận thông tin, kiến thức mới một cách dễ dàng hơn.
Các công trình nghiên cứu trên là những gợi mở quý báu về mặt lí luận giúp
chúng tôi tìm đƣợc hƣớng giải quyết các nhiệm vụ của khóa luận.
Thứ hai một số công trình khoa học khác có cùng hướng nghiên cứu
Trong luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh
với đề tài “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong phương pháp thảo luận nhóm
môn giáo dục học tại trường THSP Thanh Hóa” tác giả đã nhấn mạnh: PHT là một

và Trịnh Đình Tùng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 5/1991, “ Về biện pháp nâng
cao chất lượng dạy học lịch sử” của PGS Trịnh Đình Tùng đăng trên tạp chí nghiên
cứu giáo dục số 5/1994, “ Hướng dẫn làm bài tập lịch sử” của tác giả Nguyễn Thị
Côi và Phan Thị Kim Anh trên tạp chí nghiên cứu giáo dục số 6/1994… đã đi sâu
vào các vấn đề khác nhau của PPDH Lịch sử nói chung và vấn đề công cụ hỗ trợ
trong DHLS nói riêng mà cụ thể là PHT.

5


Cụ thể hơn trong bài viết “Phiếu học tập – phương pháp dạy học có sử dụng
phiếu học tập” của tác giả Nguyễn Thị Dung đƣợc đăng trên thông tin khoa học
giáo dục số 45/1994;“Phương pháp sử dụng phiếu học tập trong dạy học Địa lí lớp
10 nhằm phát huy tính tích cực và độc lập của học sinh” của tác giả Đậu Thị Hòa,
Tạp chí giáo dục số 195/2008, cho biết: Phiếu học tập là công cụ để GV tổ chức
hoạt động khai thác và lĩnh hội kiến thức theo hƣớng định trƣớc của GV.
Ngoài ra, trong bài viết “Mỗi người một kiểu học” (Bản tin đại học Quốc gia
Hà Nội, số 216/2009) PGS.TS Nguyễn Công Khanh đã đòi hỏi GV bằng các chiến
lƣợc dạy và học tích cực nhƣ sử dụng PHT dựa trên PCHT của ngƣời học, học
thông qua hành động, học qua trải nghiệm, tìm cách đặt ra cho ngƣời học những
nhiệm vụ phải giải quyết để các em suy nghĩ, tìm lý thuyết, PP phù hợp... Có nhƣ
vậy, ngƣời học mới có nhiều cơ hội để phát triển các chiến lƣợc học hiệu quả tạo
thành PCHT tích cực.
Bài viết của Ths.Nguyễn Thị Đỗ Quyên trong Lý thuyết phong cách học tập
và khả năng ứng dụng và dạy học (Bản tin khoa học, cao đẳng Thương Mại,
23/9/2009) đã chỉ ra những đặc điểm cốt lõi của PCHT. Và đây cũng là cơ sở lí luận
quan trọng để GV đổi mới PP giảng dạy theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học thông
qua các mô hình PCHT phù hợp với đặc điểm môn học và giúp HS ý thức rõ hơn về
PCHT ƣu thế của bản thân để có PP tự học phát huy và hạn chế tối đa các ƣu khuyết
điểm trong thói quen học tập. Đây là các nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho đề

5.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Quá trình DHLS ở trƣờng THPT với việc sử dụng PHT dựa trên PCHT của
HS.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: nghiên cứu việc sử dụng PHT nhằm sử dụng có hiệu quả dựa
trên PCHT của HS trong phần Lịch sử thế giới cận đại (SGK Lịch sử lớp 10,
chƣơng trình Chuẩn).
- Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm:
+ THPT Tùng Thiện (Hà Nội)
+ THPT Thạch Thất (Hà Nội)
+ THPT Hƣng Nhân (Thái Bình)

7


+ THPT Tiên Hƣng (Thái Bình)
6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu vận dụng đƣợc cách thức thiết kế và sử dụng dựa trên PCHT của HS
một cách hợp lí sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng DHLS nói chung và phần Lịch sử
thế giới cận đại (SGK Lịch sử lớp 10, chƣơng trình Chuẩn) nói riêng.
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng kết hợp các nhóm phƣơng pháp nghiên cứu sau đây:
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa… tài liệu có liên quan.
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Tìm hiểu, quan sát quá trình dạy và học môn Lịch sử ở trƣờng phổ thông.
+ Điều tra, phỏng vấn, trao đổi, hỏi ý kiến của các GV trƣờng THPT.
+ Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm.
+ Phƣơng pháp chuyên gia: tham khảo, tiếp thu ý kiến đóng góp của các
chuyên gia giáo dục trong quá trình nghiên cứu; xin ý kiến nhận xét, đánh giá của

ngƣời sử dụng [39, tr 780].
Học tập là học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng [39, tr.454].
Kết hợp cách giải nghĩa từ phiếu và từ học tập, ta có thể khái quát: Phiếu học
tập là những tờ giấy rời in sẵn những nội dung, nhiệm vụ học tập.
Thứ hai, một số quan điểm về PHT của các nhóm tác giả:
Nhà nghiên cứu Đậu Thị Hòa và tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh đều thống nhất
với ý kiến :
Phiếu học tập là những thông tin bằng giấy hoặc dạng giấy do giáo viên
thiết kế, gồm một hoặc một số tờ có vai trò học liệu để bổ sung cho sách và tài liệu
giáo khoa quy định, có chức năng hỗ trợ giảng dạy, vừa như là công cụ hoạt động,
vừa tạo điều kiện cho hoạt động của người học và người dạy mà trước hết như một
nguồn thông tin học tập [20, tr.22]. Trong mỗi PHT giao cho HS là những nhiệm vụ
nhận thức cụ thể nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, tập dƣợt một kỹ năng, rèn luyện
một thao tác tƣ duy hoặc thăm dò một thái độ của HS trƣớc một vấn đề.

9


Theo nhóm tác giả Nguyễn Thành Đạt, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Xuân
Viết trong tài liệu bồi dƣỡng thƣờng xuyên giáo viên THPT chu kì III 2004- 2007
lại cho rằng: Phiếu học tập là những tờ giấy rời in sẵn những công tác độc lập,
được phát cho từng học sinh, nhóm học sinh, tự lực hoàn thành trong một thời gian
ngắn của tiết học [tr 45]. Cách quan niệm tƣơng đối khái quát nhƣng tác giả chỉ giới
hạn phạm vi sử dụng của PHT là ở trên lớp học.
Còn với nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà và Phạm Đình Thực lại nhìn
nhận PHT nhƣ một công cụ đƣợc sử dụng khá linh hoạt trong mọi thời gian chứ
không chỉ ở phạm vi trong giờ học trên lớp: Phiếu học tập là những mảnh rời được
giáo viên thiết kế sẵn các yêu cầu để học sinh trả lời bằng cách điền vào. Thời điểm
sử dụng rất linh hoạt, giáo viên có thể cho học sinh làm ở nhà hay làm tại lớp [24].
Nhìn chung, các tác giả khá thống nhất với nhau trong việc xác định bản chất

những thành tựu tiêu biểu của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu.
Thứ hai là công cụ để GV và HS giao tiếp trong học tập.
Hoạt động DH là hoạt động giao tiếp giữa GV và HS. GV và HS có thể sử
dụng nhiều phƣơng tiện để giao tiếp, trong đó PHT là một công cụ hữu hiệu. Thông
qua những tờ giấy rời phát đến tận tay từng HS thì GV sẽ giao tiếp với HS, nắm bắt
đƣợc tâm tƣ nguyện vọng cũng nhƣ khả năng của học trò. Thông qua đó mà không
khí lớp học sẽ sinh động hơn chứ không đơn điệu ở hình thức thầy đặt câu hỏi – trò
nghe và trả lời. Mặt khác, qua PHT với PP học tập trao đổi và hợp tác, HS có thể
trao đổi với nhau, giao lƣu kiến thức với nhau, chỉnh sửa kiến thức cho nhau để quá
trình khám phá tri thức đƣợc thực hiện một cách hiệu quả.
Ví dụ: Khi dạy nội dung Cách mạng công nghiệp ở Anh trong bài Cách
mạng công nghiệp ở châu Âu. GV thiết kế một PHT cho HS hoạt động nhóm với
nhiệm vụ là thống kê các thành tựu của cuộc các mạng công nghiệp trên các lĩnh
vực khác nhau: công nghiệp dệt, máy móc và giao thông vận tải. HS mỗi nhóm làm
về một thành tựu và trình bày, các nhóm khác theo dõi, trao đổi, đặt câu hỏi dƣới sự
hƣớng dẫn của GV. Sau đó cả lớp thống nhất ghi vào phần nội dung trống trong
phiếu.
Nhƣ vậy, thông qua các hoạt động học tập đƣợc tổ chức ở lớp, GV có thể
nắm bắt đƣợc khả năng nhận thức và diễn đạt của HS, tâm tƣ nguyện vọng của HS.
Mặt khác, khi cho HS hoạt động hợp tác, trao đổi với nhau thông qua PHT các em

11


có thể mở rộng, giao lƣu kiến thức. Từ đó, HS sẽ trƣởng thành hơn thông qua hoạt
động giao tiếp này.
1.1.1.3. Phân loại
Tùy theo các căn cứ khác nhau mà ta có các dạng PHT khác nhau
- Căn cứ vào chức năng của phiếu học tập, ta có thể phân phiếu học tập
thành 2 dạng sau:

đó mà HS phải giải quyết trong một thời gian nhất định.
+ Yêu cầu trả lời câu hỏi: phiếu ghi những câu hỏi mà HS phải trả lời.
+ Yêu cầu rèn luyện kĩ năng: phiếu yêu cầu HS phải thực hiện một hoặc một
vài kĩ năng nhất định.
Ở đây, trong đề tài, chúng tôi sử dụng cách phân loại PHT căn cứ vào mục
đích sử dụng.
1.1.1.4. Cấu trúc
PHT đƣợc thiết kế dƣới dạng tờ giấy rời, tuỳ thuộc vào từng loại phiếu, nội
dung bài học và mục đích sử dụng của GV. Tuy nhiên cấu trúc của phiếu gồm các
nội dung cơ bản sau:
- Thông tin chung: thông tin chung của HS (họ và tên, lớp, trƣờng)
- Nhiệm vụ cần thực hiện: Tuỳ thuộc vào nội dung bài học, đối tƣợng HS
và mục đích sử dụng mà GV sẽ đƣa ra nhiệm vụ cho HS.
- Phần để HS thực hiện nhiệm vụ: đƣợc GV thiết kế dƣới nhiều hình thức,
tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng của phiếu.
- Thời gian hoàn thành: Các thao tác nêu trên phải thực hiện trong khoảng
thời gian nhất định. Tùy khối lƣợng công việc, nội dung bài học và thời gian quy
định của tiết học mà GV đƣa ra mức thời gian cho hợp lí.
Có thể tham khảo mô hình cấu trúc PHT dƣới đây:

13


PHIẾU HỌC TẬP
Họ và tên:………………....

Lớp……………………….

Nhiệm vụ cần thực hiện:
……………………………………………………………………………………

Tháng 10/1777
Năm 1781
Năm 1782
Thời gian hoàn thành: 5 phút
Trên đây là một vài quan niệm, cách hiểu về PHT trong DH. Tuy nhiên, trong
DH, muốn sử dụng một PPDH, hình thức tổ chức DH, hay lựa chọn phƣơng tiện,
công cụ hỗ trợ học tập một cách hiệu quả nhất thì ngƣời GV cần phải quan tâm đến
đặc trƣng từng môn học mà mình phụ trách. Mỗi môn học có mục tiêu, đặc trƣng
khác nhau, chính vì vậy hiểu đƣợc mục tiêu, đặc trƣng của môn học sẽ góp phần
giúp GV lực chọn và sử dụng những hình thức tổ chức DH, PP, phƣơng tiện và
công cụ hỗ trợ học tập đạt đƣợc hiệu quả cao nhất.
1.1.2. Phong cách học tập
1.1.2.1. Khái niệm
PCHT đƣợc dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Learning Styte”, là một lý thuyết
học tập hiện đại đang đƣợc quan tâm hiện nay. Trên thế giới có hàng trăm mô hình
PCHT khác nhau, mỗi tác giả của mỗi mô hình khi xây dựng lý thuyết của mình lại
đƣa ra một định nghĩa riêng cho PCHT.

15


Thứ nhất, theo các tác giả nước ngoài
Rita Dunn (1960) đƣa ra định nghĩa về PCHT nhƣ sau: PCHT như là cách
thức mỗi người bắt đầu chú ý, xử lý, thu nhận và tái hiện nội dung kiến thức mới.
Keefe (1979) quan niệm: PCHT là những đặc trưng về mặt nhận thức, tính
hiệu quả và các hành vi tâm lý học có liên quan, mang tính ổn định, chỉ dẫn cho
người học cách tiếp nhận thông tin, tương tác với thông tin và phản ứng lại môi
trường học tập (F.Romaneli, 2009).
Reid (1995) thì cho rằng: PCHT là những cách thức ưu thế có tính chất tự
nhiên, thói quen của cá nhân khi tiếp nhận, xử lý và lưu giữ thông tin, kĩ năng mới

PCHT là những đặc điểm riêng của cá nhân

-

PCHT bao gồm các đặc điểm về nhận thức, xúc cảm, sinh lý

-

PCHT chỉ ra cách thức ƣu thế của cá nhân tiếp nhận, xử lí và lƣu giữ thông

tin trong môi trƣờng học tập
-

PCHT tƣơng đối bền vững
Nhƣ vậy, PCHT có thể hiểu là những đặc điểm riêng có tính ưu thế, tương

đối bền vững của cá nhân quy định cách tiếp nhận, xử lý lưu giữ và phản hồi thông
tin trong môi trường học tập.
1.1.2.2. Mô hình PCHT VAK
Theo nghiên cứu của Coffield, hiện nay có 71 mô hình PCHT đã đƣợc xây
dựng và công bố, đƣợc phân loại thành 5 nhóm:
- Nhóm 1: PCHT dựa vào yếu tố gen – môi trƣờng
- Nhóm 2: PCHT phản ánh các đặc điểm bên trong của cấu trúc nhận thức
- Nhóm 3: PCHT là tập hợp các kiểu nhân cách tƣơng đối bền vững
- Nhóm 4: PCHT là các ƣu thế linh hoạt trong học tập
- Nhóm 5: PCHT là các chiến lƣợc, định hƣớng trong học tập
Một số mô hình đƣợc nghiên cứu và sử dụng trong giáo dục nhƣ mô hình
của Kolb, mô hình của Honey – Mumford, mô hình VARK: Visual – Auditory –
Reading and Writing – Kinesthetic (Quan sát – Lắng nghe – Ghi chép – Hành
động). Tiêu biểu nhất phải kể đến mô hình VAK của Neil Fleming (Đại học


Bài giảng, ghi âm, chuyện kể, âm nhạc, động

(Auditory)

từ hoá, đặt câu hỏi…

Người học vận động

Hành động, đóng vai, làm mô hình đất sét…

(Kinesthetic)

18


Người học kiểu nhìn (Visual Learners)
Ngƣời học kiểu nhìn học tốt nhất qua việc quan sát. Những ngƣời thích kiểu
học này sẽ thấy thích thú với những thông tin đƣợc trình bày dƣới dạng hình ảnh
hơn là dạng chữ viết. Đặc điểm của ngƣời học kiểu nhìn là cần theo dõi nét mặt và
ngôn ngữ cơ thể của GV để hiểu sâu bài giảng, có khả năng suy nghĩ bằng hình ảnh
và nhớ nhanh từ những thứ giàu hình ảnh.
Người học kiểu nghe (Auditory Learners)
Ngƣời học kiểu nghe học tốt nhất học tốt nhất bằng việc nghe thông tin. Họ
có xu hƣớng nắm bắt thông tin tốt từ bài thuyết trình và có khả năng ghi nhớ rất tốt
các thông tin mà họ đƣợc nghe. Ngƣời học kiểu nghe thích trao đổi trực tiếp dạng
nghe - nói; nhạy cảm với giọng nói, âm lƣợng, ngữ điệu và các dạng bài viết có ít
giá trị thông tin cho đến khi đƣợc đọc lên.
Người học kiểu vận động (Kinesthetic Learners)
Ngƣời học kiểu vận động (hoặc xúc giác) học tốt nhất bằng việc chạm vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status