Biện pháp sử dụng trò chơi học tập trong dạy học tiếng việt 4 ở trường tiểu học quyết tâm thành phố sơn la – sơn la - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

CAO VIẾT CHUNG

BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG
DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 4 Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC
QUYẾT TÂM THÀNH PHỐ SƠN LA – SƠN LA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

CAO VIẾT CHUNG

BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG
DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 4 Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC
QUYẾT TÂM THÀNH PHỐ SƠN LA – SƠN LA

Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng

Sơn La, năm 2015



SGK

:

Sách giáo khoa

NXBGD

:

Nhà xuất bản giáo dục

PGS

:

Phó giáo sƣ

TS

:

Tiến sĩ

TCHT

:

Trò chơi học tập

1.1.2. Nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập Tiếng Việt ...................................................8
1.1.3. Cách tổ chức, những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt .........9
1.1.3.1. Cách tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt...................................................9
1.1.3.2. Những yêu cầu cơ bản khi tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt ..............10
1.2. Đặc điểm sinh lí và nhận thức của học sinh tiểu học .............................................11
1.3. Đặc điểm môn Tiếng Việt, vị trí của dạy học tiếng Việt ở nhà trƣờng tiểu học ....12
1.3.1. Đặc điểm môn Tiếng Việt ...................................................................................12
1.3.2. Vị trí của dạy học tiếng Việt ở nhà trƣờng tiểu học ........................................13
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ................................................................................................14
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ......................15
2.1. Khảo sát nội dung chƣơng trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 .........................15
2.2. Khảo sát thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt ở lớp 4 trƣờng
tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La – Sơn La ..........................................................17
2.2.1. Mục đích khảo sát ................................................................................................17
2.2.2. Nội dung khảo sát ................................................................................................17
2.2.3. Phƣơng pháp khảo sát ..........................................................................................17


2.2.4. Đối tƣợng, thời gian, địa điểm khảo sát ..............................................................17
2.3. Kết quả khảo sát .....................................................................................................18
2.3.1. Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên trƣờng Tiểu học Quyết Tâm
thành phố Sơn La – Sơn La ...........................................................................................18
2.3.2. Thực trạng sử dụng trò chơi học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 4 Trƣờng
Tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La – Sơn La .........................................................22
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ................................................................................................26
CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG VIỆC
DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 4 TRƢỜNG TIỂU HỌC QUYẾT TÂM THÀNH
PHỐ SƠN LA – SƠN LA ............................................................................................27
3.1. Biện pháp thiết kế trò chơi ở một số phân môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 .....27
3.1.1. Biện pháp thiết kế trò chơi trong phân môn Chính tả .........................................27

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh; trong những năm gần đây nhà nƣớc ta đã từng bƣớc đổi mới phƣơng pháp
giáo dục ở các nhà trƣờng phổ thông nói chung, ở nhà trƣờng tiểu học nói riêng
nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học. Hiện nay, nhiều biện pháp dạy học mới đã
và đang đƣợc áp dụng trong nhà trƣờng tiểu học. Trong đó, có sự kết hơp hài hòa
giữa việc sử dụng các phƣơng pháp dạy học truyền thống và vận dụng có hiệu quả
các phƣơng pháp dạy học tích cực. Một trong những các phƣơng pháp dạy học tích
cực đang đƣợc GV chú trọng là phƣơng pháp trò chơi học tập. Hoạt động trò chơi
học tập (TCHT) góp phần giúp GV tổ chức dạy học tiếng Việt theo định hƣớng nói
trên, thông qua hoạt động thực hành và các trò chơi sẽ giúp cho học sinh hứng thú
học tập, với các thiết bị sử dụng cho trò chơi có thể tự tạo từ các vật liệu đơn giản,
dễ kiếm ở địa phƣơng.
1.2. Mục tiêu giáo dục tiểu học là nhằm “giúp học sinh (HS) hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con ngƣời Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, bƣớc đầu xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị
cho HS tiếp tục học Trung học cơ sở” (theo Điều 23 – luật giáo dục – 1998). Để đáp
ứng đƣợc mục tiêu đó, đòi hỏi GV phải tiếp nhận phƣơng pháp dạy học dựa trên hoạt
động dạy và học, đòi hỏi phải đổi mới trong phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy
học. Mới tạo đƣợc sự chuyển biến hƣớng tới nâng cao chất lƣợng dạy học.

1


1.3. Phƣơng pháp dạy học ở tiểu học phải làm sao phát huy đƣợc tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm lứa tuổi. Hoạt
động trò chơi là phƣơng pháp giúp học sinh khám phá và chiếm lĩnh kiến thức,
hình thành kỹ năng một cách tự nhiên, nhẹ nhàng làm cho các em hứng thú trong
học tập hơn.
1.4. Dạy tiếng Việt ở tiểu học là hƣớng đến mục đích giao tiếp, chú trọng đến

trực tiếp cụ thể là:
Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Khắc Tuân (tham gia cuộc thi “viết sách
bài tập và sách tham khảo” của NXBGD) nêu lên những vấn đề cơ bản: đƣa trò
chơi vào lớp học nhằm mục đích gì? Trò chơi nào có thể đƣa vào lớp học? Trò chơi
đƣợc sử dụng vào lúc nào? Tổ chức trò chơi trong giờ học nhƣ thế nào?.
Trần Mạnh Hƣởng với công trình nghiên cứu “Vui học tiếng Việt”
(NXBGD,2002) tác giả đã cung cấp những trò chơi, những bài tập vui nhẹ nhàng về
tiếng Việt theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc tiểu học để
HS có thể tự học hoặc tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần “Học
vui, vui học”, “Học mà chơi, chơi mà học” một cách hứng thú bổ ích.
Trần Thị Minh Phƣơng với công trình nghiên cứu trò chơi tiếng Việt “Hoạt
động trò chơi tiếng Việt lớp 2” (NXBGD, 2004) giới thiệu đa dạng các loại trò chơi
để rèn kỹ năng phát âm, vận dụng từ ngữ, đọc hiểu cho HS. Các hoạt động trong
sách nhằm hỗ trợ giáo viên các lớp, với các ý tƣởng mang tính thực tế giúp vận
dụng học tập chủ động trong môn Tiếng Việt. Các ý tƣởng này giúp cho việc triển
khai chƣơng trình tiểu học mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo kể từ năm 2002.
Đàm Hồng Quỳnh với cuốn “Hướng dẫn sử dụng và tự làm thiết bị dạy học
môn Tiếng Việt bậc tiểu học” (NXBGD, 2003) bao gồm nhiều loại hình thiết bị dạy
học khác nhau trong đó có các trò chơi về phân môn Tiếng Việt lớp 2. Nội dung
cuốn sách đƣợc biên soạn theo chƣơng trình và SGK 165 tuần nên một số ngữ liệu
minh họa không còn xác thực với SGK thuộc chƣơng trình 2000. Tuy vậy những
vấn đề đƣa ra vẫn có tác dụng gợi ý giúp giáo viên tiểu học dạy tốt bộ môn Tiếng
Việt theo chƣơng trình hiện hành.
“Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học” (NXB Đại học sƣ phạm –
2002) với mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức cơ bản hiện đại và các kĩ
năng giảng dạy tiếng Việt ở tiểu học. Giáo trình cung cấp thông tin về những vấn
đề chung của phƣơng pháp dạy học tiếng Việt và phƣơng pháp dạy học trong các
phân môn của tiếng Việt ở tiểu học. Bên cạnh đó tác giả còn đƣa ra nhiều phƣơng
pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực chủ động của
HS trong từng phân môn cụ thể. Trong đó có sử dụng phƣơng pháp dạy học trò

- Một số biện pháp áp dụng trò chơi trong dạy học tiếng Việt lớp 4 ở Tiểu học.
- Tiến hành thiết kế mẫu dạy học ở một số trƣờng tiểu học.
- Tổng hợp so sánh đối chiếu kết quả thể nghiệm bƣớc đầu, rút ra tính khả thi
của vấn đề nghiên cứu.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu “Biện pháp sử dụng trò chơi học tập trong dạy
học Tiếng Việt 4”.
4


4.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm của học sinh lớp 4 khi học môn Tiếng Việt và phƣơng
pháp dạy học Tiếng Việt của GV ở Trƣờng Tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La Sơn La.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu các trò chơi thƣờng đƣợc sử dụng, ý nghĩa
và tác dụng trò chơi trong dạy học tiếng Việt 4 ở Tiểu học. Tìm hiểu thực trạng từ
đó đƣa ra những đóng góp để nâng cao hiệu quả áp dụng trò chơi trong dạy học
Tiếng Việt 4 ở tiểu học Trƣờng Tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La – Sơn La.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các nhóm phƣơng pháp sau:
- Đọc tài liệu tham khảo, phân tích, tổng hợp hóa, khái quát hóa các vấn đề, tài
liệu liên quan làm cở sở lí luận cho đề tài.
- Phƣơng pháp thống kê khảo sát thực tế nhằm củng cố cơ sở thực tiễn cho đề
tài bằng cách dự giờ trò chuyện, trắc nghiệm, phiếu điều tra.
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp lí thuyết và thực tiễn để
khái quát và rút ra những kết luận, đề xuất một số biện pháp áp dụng trò chơi trong
dạy học tiếng Việt.
- Phƣơng pháp thể nghiệm và đối chứng.
7. Giả thuyết khoa học của đề tài



NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trò chơi học tập tiếng Việt
1.1.1. Vai trò của trò chơi học tập tiếng Việt
1.1.1.1. Khái niệm trò chơi học tập tiếng Việt
Trò chơi thì ai cũng thích, bất kể là ngƣời già, hay trẻ nhỏ, ở địa vị xã hội nào.
Trò chơi mang lại cho con ngƣời những giây phút thƣ giãn sau những vất vả, bộn
bề của cuộc sống, đó là phƣơng tiện giải trí có hiệu quả. Đối với trẻ em hoạt động
chơi có vai trò hết sức quan trọng, vừa là phƣơng tiện để giải trí, vừa là phƣơng tiện
để phát triển tƣ duy, thể lực.
- Trò chơi nói chung là một sự đáp ứng nhu cầu giải trí thông qua các hình thức
vận dụng hành động hoặc trí tuệ nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân tham gia.
Trò chơi là phƣơng pháp giáo dục thực hành hiệu nghiệm nhất đối với việc hình
thành nhân cách , trí lực của trẻ em.
- Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung trí thức gắn với hoạt động học tập của
học sinh; và gắn với nội dung bài học, giúp HS khai thác vốn kinh nghiệm của bản
thân để chơi và để học.
- Trò chơi học tập tiếng Việt là trò chơi có nội dung liên quan đến tiếng Việt,
nhằm củng cố kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho việc học tiếng Việt.
1.1.1.2. Vai trò của trò chơi học tập tiếng Việt
Ở lứa tuổi tiểu học, hoạt động chơi không còn giữ vai trò chủ đạo nhƣng vui
chơi vẫn còn chiếm vị trí đáng kể trong đời sống của các em, đặc biệt ở giai đoạn
bậc đầu tiểu học. Trong dạy học nói chung và dạy học tiếng Việt nói riêng thì trò
chơi học tập có vai trò vô cùng quan trọng vì:
Thứ nhất: Việc sử dụng trò chơi học tập vào dạy học tiếng Việt làm thay đổi
hình thức học tập, tạo bầu không khí trong lớp học trở nên sôi nổi, thoải mái hơn.
HS tiếp thu kiến thức tự giác và tích cực hơn. Học sinh thấy vui hơn, dễ chịu khỏe
mạnh hơn. Đồng thời giúp HS tự tin, sáng tạo hơn.

+ Nhiệt tình, tích cực, hào hứng,...
+ Nghiêm chỉnh chấp hành luật chơi.
+ Cố gắng vƣơn lên để “thắng”.
+ Luôn giữ vững tinh thần đoàn kết, thân ái dù “thắng” hay “thua”.
+ Giúp HS tập trung vào bài học và chiếm lĩnh đƣợc kiến thức thông qua hình
thức “chơi mà học, học mà chơi”.
Mỗi trò chơi có một tên gọi ngộ nghĩnh, hấp dẫn, chứa đựng yếu tố may rủi, kích
thích ngƣời tham gia, bộc lộ kiến thức và kỹ năng thực sự. Sử dụng hình thức thƣởng phạt sáng tạo hài hƣớc, có ý nghĩa giáo dục.
8


Mỗi trò chơi phải phù hợp với quỹ thời gian học tập trong các giờ học tiếng Việt
để giúp HS “chơi mà học”.
1.1.3. Cách tổ chức, những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt
1.1.3.1. Cách tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt
Khi tổ chức một trò chơi học tập môn Tiếng Việt thƣờng đƣợc tiến hành theo
5 bƣớc nhƣ sau:
* Bƣớc 1: Giới thiệu trò chơi:
- Nêu tên trò chơi: Tên của trò chơi là yếu tố kích thích trí tò mò, tƣởng tƣợng,
hấp dẫn học sinh; đồng thời tên trò chơi cũng phần nào nói lên đƣợc nội dung của trò
chơi.
- Giới thiệu đồ dùng để tham gia chơi: Hầu hết trò chơi học tập tiếng Việt đều
cần sử dụng đồ dùng, thiết bị, dụng cụ chơi.
- Hƣớng dẫn cách chơi (vừa mô tả, vừa thực hành).
- Phân chia nhóm chơi (đội chơi): Số lƣợng HS tham gia vào trò chơi tùy thuộc
vào nội dung kiến thức cần củng cố, cách thức tổ chức và chú ý của GV, hình thức tổ
chức trò chơi; những HS còn lại làm khán giả cổ vũ, trọng tài (do GV đề cử).
* Bƣớc 2: Chơi thử (nếu cần) đối với những trò chơi mới, phức tạp GV có thể
cho HS chơi thử trƣớc. Khi đó GV theo dõi, hƣớng dẫn thêm cho các đội chơi.
* Bƣớc 3: Nhấn mạnh luật chơi (nhất là những lỗi thƣờng gặp ở phần chơi thử)

những tri thức tổng hợp cho cả một chủ điểm.
Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò
chơi một cách linh hoạt tạo cho GV nhiều cơ hội tổ chức một cách phù hợp với đối
tƣợng HS của mình.
Các trò chơi thƣờng đƣợc tổ chức theo nhóm ở ngay trong lớp học với thời gian
từ 5 đến 10 phút. Việc chuẩn bị cho các trò chơi đơn giản, dễ làm, dễ kiếm.
GV phải hƣớng dẫn cụ thể cách chơi rồi sau đó các nhóm tự đánh giá, giám sát
lẫn nhau. Ngoài ra GV phải có nhận xét, khích lệ, không để thời gian chơi quá nhiều
ảnh hƣởng đến giờ học.
Khi tổ chức chơi GV phải lƣu ý tránh cho HS những phản ứng không tích cực và
kịp thời sửa chữa (nếu có); lƣu ý khuyến khích, động viên khen thƣởng những HS có
phản ứng tích cực.
Cụ thể phản ứng tích cực trong HS có thể là:
+ Hăng say chơi hết mình.
+ Ý thức trách nhiệm cá nhân cao.
+ Dễ bỏ qua sai phạm của ngƣời khác.
+ Tôn trọng kỷ luật.
+ Giúp đỡ, nâng đỡ đồng đội, gắn bó với đồng đội, nhóm của mình.
+ Tích cực hoạt động và sẵn sàng “hy sinh” vì danh dự đội.
GV nên giáo dục HS tránh những tƣ tƣởng, phản ứng không tích cực:
+ Ngƣời mạnh lẫn át ngƣời yếu.
10


+ Sẵn sàng chừng phạt ngƣời thua.
+ Chơi gian lận để đƣợc thắng.
+ Dễ ganh tị dẫn đến ghét nhau.
+ Chơi quá đà không giới hạn; chia bè, nhóm...
Thời gian tổ chức chơi, thời điểm chơi GV phải có sự chuẩn bị kỹ càng và tạo
đƣợc sự thu hút cuộc chơi, trong quá trình chơi luôn có không khí bình đẳng, tôn

đây định ra cho hoạt động đầu bậc tiểu học có những mục đích và động cơ hoạt
động cụ thể. Vì vậy, GV cần tạo ra mục đích, động cơ học tập nhẹ nhàng, sinh động
giúp học sinh hứng thú học tập nhất là đối với môn Tiếng Việt.
Hơn nữa HSTH nghe giảng hiểu nhanh nhƣng sẽ quên ngay khi chúng không
tập trung cao độ. Việc hiểu rõ đặc điểm tâm lí của HS là điều rất quan trọng đối với
ngƣời GV đặc biệt là GV tiểu học. Vì vậy, ngƣời GV phải luôn tạo ra hứng thú học
tập cho HS, giúp HS có tâm thế và sự hứng khởi tiếp thu bài học tốt.
Mặt khác, việc học tập môn Tiếng Việt đối với HSTH là mới mẻ, khả năng tƣ
duy, phân tích là vấn đề khó đối với các em, sự chú ý tập trung vào môn học bị chi
phối bởi ngoại cảnh, các yếu tố bên ngoài nên các em dễ bị phân tán từ đối tƣợng
này sang đối tƣợng khác. Trí nhớ của HSTH còn hạn chế, máy móc nên các từ khó,
từ trừu tƣợng các em ghi nhớ chậm và nhanh quên… Vì vậy, một số HS đã có tâm
lí sợ học môn Tiếng Việt hoặc không thích học môn Tiếng Việt tâm lí đó ảnh
hƣởng tới hiệu quả tiếp thu kiến thức cho các em.
Để khắc phục những vấn đề nêu trên, GV cần lựa chọn các phƣơng pháp dạy học
tích cực, tạo hứng thú học tập cho HS, tạo cho HS có tâm lí thoải mái, sôi nổi, tạo điều
kiện cho HS tiếp thu kiến thức tiếng Việt một cách nhẹ nhàng. Phƣơng pháp TCHT là
phù hợp với tâm lí của trẻ, đồng thời vừa rèn thể lực, vừa rèn luyện các giác quan cho
HS, tạo cơ hội cho HS giao lƣu với bạn bè và nâng cao hiệu quả học tập.
1.3. Đặc điểm môn Tiếng Việt, vị trí của dạy học tiếng Việt ở nhà trƣờng tiểu học
1.3.1. Đặc điểm môn Tiếng Việt
Môn Tiếng Việt là môn học đƣợc xây dựng theo quan điểm tích hợp. Sự tích
hợp đƣợc thể hiện trong việc rèn các kỹ năng tiếng Việt. Mỗi loại bài học có một
kỹ năng trọng tâm cần rèn luyện (bài tập viết rèn kỹ năng viết chữ, bài tập đọc rèn
kỹ năng đọc...) nhƣng vẫn kết hợp rèn các kỹ năng khác (dạy tập đọc cần kết hợp
dạy cả kỹ năng nghe, nói, viết...). Chƣơng trình nhấn mạnh kết hợp dạy học tiếng
Việt khi dạy học các môn học khác, nhấn mạnh yêu cầu lồng ghép, kết hợp vào ngữ
liệu học tiếng Việt các nội dung tự nhiên và xã hội, văn hóa và khoa học, các vấn
đề cộng đồng quốc tế quan tâm... phù hợp với nhận thức của HSTH. Chƣơng trình
đặc biệt chú trọng kết hợp dạy tiếng Việt với dạy cả văn hóa và dạy văn chƣơng.

và là cơ sở để học sinh học tiếp các bậc học trên. Môn Tiếng Việt ở tiểu học góp
phần rất quan trọng vào việc rèn luyện phƣơng pháp suy nghĩ, phƣơng pháp suy
luận, phƣơng pháp giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc
lập, sáng tạo cho HS. Đồng thời môn học này còn góp phần vào việc hình thành
những phẩm chất lao động: cần cù, cẩn thận, có trí vƣợt khó khăn làm việc có nề
nếp và tác phong khoa học. Từ đó bồi dƣỡng cho các em tình cảm tốt đẹp đối với
quê hƣơng, đất nƣớc, con ngƣời.
13


TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Học sinh lứa tuổi tiểu học rất thích trò chơi học tập bởi lẽ nó phù hợp với đặc điểm
tâm, sinh lý của các em: Trò chơi học tập giúp các em có hứng thú học tập với môn
học này, rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan và tạo cơ hội cho HSTH giao lƣu
với bạn bè, nâng cao hiệu quả học tập.
Môn Tiếng Việt là môn học khó, đƣợc xây dựng theo quan điểm tích hợp với các
môn học khác và tích hợp trong các phân môn của môn học, là môn học đƣợc xây
dựng theo hƣớng đồng tâm, thực hiện theo định hƣớng đổi mới từ đó tạo điều kiện tối
đa cho GV đổi mới phƣơng pháp dạy học. Đây cũng là môn học có nhiều ứng dụng
trong đời sống, cần thiết cho tất cả mọi ngƣời, góp phần quan trọng trong việc bồi
dƣỡng tình cảm của con ngƣời với con ngƣời, với quê hƣơng, với đất nƣớc.
Trò chơi học tập là một phƣơng pháp đƣợc áp dụng trong quá trình dạy học nhằm
nâng cao hiệu quả dạy và học. Sử dụng trò chơi học tập tạo không khí lớp học sôi động
(học mà chơi), vui vẻ làm cho việc tiếp nhận các kiến thức của môn Tiếng Việt trở nên
nhẹ nhàng, hấp dẫn. Để phát huy tối đa vai trò, tác dụng của trò chơi học tập thì ngƣời
GV phải tìm tòi, sáng tạo trong việc thiết kế, tổ chức trò chơi học tập để gây hứng thú
và tránh sự nhàm chán cho HS. Đồng thời nắm bắt các yêu cầu cơ bản khi tổ chức trò
chơi học tập để đạt đƣợc hiệu quả mong muốn. Nhƣ vậy, việc đƣa trò chơi học tập vào
dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học là việc làm phù hợp và thiết thực đối với việc dạy
và học. Góp phần vào việc thực hiện nguyên lý giáo dục “học đi đôi với hành”.

2

3

Luyện từ và câu

2

4

Kể chuyện

1

5

Tập làm văn

2

Qua bảng 1 ta thấy đƣợc học sinh lớp 4 trên cả nƣớc nói chung, học sinh khối
lớp 4 của trƣờng Tiểu học Quyết Tâm nói riêng mỗi năm học 35 tuần. Một tuần học 6
môn cơ bản nhƣ đã kể trên. Việc bố trí, sắp xếp thời khóa biểu trong một tuần học tùy
thuộc vào mỗi trƣờng nhƣng đều đảm bảo đúng số lƣợng tiết do Bộ Giáo dục và Đào
tạo quy định. Trong các môn học này môn Tiếng Việt lớp 4 là một trong những môn
học có ý nghĩa quan trọng để giáo dục HS phát triển đầy đủ các kỹ năng: nghe, nói,
đọc, viết, tƣ duy và sáng tạo qua đó giúp các em có thể hoàn thiện bản thân một cách
tốt nhất. Bởi vậy, trong một tuần HS đƣợc học 8 tiết tiếng Việt thể hiện qua 5 phân
môn của môn học trong đó: phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn 2
tiết/tuần, Chính tả, Kể chuyện 1 tiết/tuần. Mỗi phân môn có nội dung chƣơng trình

4

Ngƣời ta là hoa đất

3

Vẻ đẹp muôn màu

3

Những ngƣời quả cảm

3

Khám phá thế giới

3

Tình yêu cuộc sống

3

Tập 1

Tập 2

Qua bảng 2 ta thấy đƣợc về SGK Tiếng Việt lớp 4 có 2 tập (tập 1 và tập 2), đƣợc
chia thành 10 đơn vị học, mỗi đơn vị ứng với chủ điểm, học trong 3 tuần (trừ chủ
điểm Tiếng sáo diều học trong 4 tuần). Các chủ điểm trong SGK Tiếng Việt 4 là
những vấn đề về đời sống tinh thần của con ngƣời nhƣ phẩm chất (nhân ái, trung thực,

thành phố Sơn La – Sơn La
- Thực trạng sử dụng trò chơi học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 4 Trƣờng
Tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La – Sơn La
2.2.3. Phƣơng pháp khảo sát
Để khảo sát các nội dung trên chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp:
- Phƣơng pháp dự giờ trực tiếp.
- Phƣơng pháp phỏng vấn, trò chuyện.
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu.
- Phƣơng pháp điều tra thông tin qua phiếu và đối thoại.
2.2.4. Đối tƣợng, thời gian, địa điểm khảo sát
- Đối tƣợng khảo sát: Giáo viên và học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học Quyết Tâm
thành phố Sơn La - Sơn La (chúng tôi tiến hành khảo sát trên 30 em HS)
17


- Thời gian khảo sát:
Tháng 11 năm 2014: dự giờ, phát phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp.
Tháng 12 năm 2014: thăm quan Trƣờng Tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La Sơn La, trao đổi ý kiến với các thầy cô và các em học sinh ở trƣờng tiểu học.
Tháng 2 năm 2015: khảo sát giáo án, tài liệu tham khảo, tiến hành thể nghiệm ở
Trƣờng Tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La - Sơn La.
- Địa điểm khảo sát: Trƣờng Tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La - Sơn La.
2.3. Kết quả khảo sát
2.3.1. Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên trường Tiểu học Quyết Tâm
thành phố Sơn La – Sơn La
Sau khi tiến hành khảo sát tại Trƣờng Tiểu học Quyết Tâm thành phố Sơn La
– Sơn La chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau:
Trong nhiều năm qua, nhà trƣờng luôn đổi mới phƣơng pháp dạy và học phù
hợp với sự thay đổi, phát triển của xã hội. Nhiều phƣơng pháp dạy học đã đƣợc sử
dụng trong giảng dạy tất cả các môn học của nhà trƣờng nói chung, môn Tiếng Việt
nói riêng. Trong các phƣơng pháp đó có phƣơng pháp trò chơi học tập. Để biết


3/5

60

2

Bình thƣờng

2/5

40

3

Không cần thiết

0

0

Bảng 4: Mức độ thƣờng xuyên sử dụng TCHT trong dạy học tiếng Việt lớp 4
Số GV đƣợc

STT

Mức độ sử dụng

1



1

Hình thành kiến thức mới, đồng thời củng cố những kiến thức đã học

2

Tạo không khí lớp học sôi nổi, học sinh tập trung vào bài học

3

Giúp học sinh nhanh nhẹn, tự tin, tinh thần đoàn kết trong lớp học
Bảng 6: Hình thức tổ chức TCHT trong dạy học tiếng Việt lớp 4
Số GV đƣợc

STT

Hình thức tổ chức

1

Chơi theo cá nhân

0

0

2

Chơi theo nhóm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status