GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NÔI
TRÀN ANH TRƯỜNG
DŨNG
ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
TỔ CHỨC DAY HOC CHƯƠNG "SÓNG cơ VÀ SÓNG ÂM" • •
VẬT LÝ 12 VỚI Sự HỖ TRỢ • • •
CỦA PHẦN MÈM DẠY HỌC VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
TRẦN ANH DŨNG
TỔ CHỨC DAY•HOC
• CHƯƠNG "SÓNG cơ VÀ SÓNG ÂM"
VẬT
• • •LÝ 12 VỚI Sự HỖ TRỢ
CỦA PHẦN MÈM DẠY HỌC VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY
Chuyên ngành: LL & PPDH Bộ MÔN VẬT LÝ
Mã số: 60.14. 01.11
LUÂN VĂN THAC sĩ KHOA HOC GIÁO DUC
NgưM hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN ĐỨC VƯỢNG
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học
Trần Anh Dũng
5
Tra
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
6
PHỤ LỤC..........................................................................................................................
V
Tra
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
Viết tắt
BĐTD
ĐC
Viết đầy đủ
Bản đồ tư duy
Đối chứng
Phó giáo sư
9
PPDH
Phương pháp dạy học
PMDH
Phần mềm dạy học
10
Đại học sư phạm
Giáo dục và Đào tạo
11
SGK
12
TTCNT
13
TS
Tiến sỹ
DANH MỤC CÁC sơ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài:
Chúng ta đang sống trong thế kỷ mà tri thức và kỹ năng của con người được coi là
yếu tố quyết định sự phát triển xã hội; Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức
của toàn cầu. Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mói nội dung và
phưomg pháp giáo dục - đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở
rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện, dạy làm sao
để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ
động.
Trước yêu cầu đó ngành Giáo dục của nước ta cần phải đổi mới toàn diện: về mục
tiêu, về nội dung và về phưorng pháp dạy học (PPDH). Trong đó đổi mới PPDH là một
khâu quan ừọng ừong việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Quan điểm xuyên suốt của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là “dạy học lấy
học sinh làm trung tâm”, tức là dạy học sao cho học sinh phải hoạt động tích cực, tự lực
để chiếm lĩnh kiến thức, từ đó phát triển năng lực sáng tạo, hình thành kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn. [19]
Trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là: Tập
trung đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ
động, sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn thích hcrp của GY, nhằm phát triển
cho HS tư duy độc lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học,
tự bồi dưỡng, tạo niềm tin và vui thích trong học tập. [13]
Nghị quyết trung ương 2, khóa VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp
giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo
của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy
học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh,...’’.[11]
Điều 28 Luật giáo dục đã quy định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải biết
Phần mềm dạy là học bao gồm tất cả các chương trình máy tính được sử dụng
trong quá trình dạy học nhằm hỗ trợ giúp cho quá trình chuyển tải tri thức từ người dạy
đến người học như giáo trình điện tử, bài giảng điện tử, phim, phim hoạt hình
Bản đồ tư duy (BĐTD) là phương tiện tư duy mới, đó là hình thức ghi chép nhằm
tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hoá một chủ đề hay một mạch kiến
thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết
với sự tư duy tích cực. BĐTD có thể vẽ trên giấy, bảng... hoặc có thể thiết kế trên
powerpoint hoặc các phần mềm bản đồ tư duy như là phần mềm Mindmap, Free Mind,
Imindmap, Mindjet mind ManagerPro7... Qua đó, BĐTD giúp khai phá phát triển tiềm
năng của bộ não, phát huy tối đa năng lực sáng tạo, năng lực tư duy của con người. Mặt
1
khác, việc sử dụng các PMDH, nhất là các PMDH hiện đại trong dạy học là hết sức cần
thiết nhằm đạt được mục đích dạy học nói chung và hỗ trợ trực tiếp cho việc sử dụng
BĐTD trong dạy học.
Qua quá trình tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài, tác giả nhận thấy:
Đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức
cho HS trong dạy học vật lý ở trường THPT. Đặc biệt, một số luận vãn đã đề cập đến
vấn đề phối họp và sử dụng các phương pháp và PMDH theo hướng phát huy tính tích
cực, sáng tạo của học sinh, vấn đề ứng dụng BĐTD (Mind Map) trong dạy học mới
được chú ý vào năm 2006, khi dự án "ứng dụng công cụ phát triển tư duy- Sơ đồ tư
duy" của nhóm Tư duy mới (New Thinking Group- NTG), Đại học Quốc gia Hà Nội
được triển khai thực hiện. Một số đề tài mới nghiên cứu hiệu quả hỗ trợ của BĐTD
trong dạy học Vật lí đã thu được kết quả thực nghiệm tốt.
Các luận văn khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài: “Phối
hợp các phương pháp và phương tiện dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức
của học sinh THPT miền núi khi dạy chương Dòng điện trong các môi trường (Vật lí
11)” của tác giả Lê Thị Bạch( 2009) [1]; Nghiên cứu sử dụng bản đồ tư duy
Phạm vỉ nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ nghiên cứu xây dựng
tiến trình dạy học với sự hỗ trợ của PMDH và bản đồ tư duy theo hướng phát huy tính
tích cực nhận thức cho học sinh trong chương “Sóng cơ và sóng ăm” Vật lí 12 ở một
số trường THPT thuộc huyện Mê linh, thành phố Hà nội.Đặc biệt là trường THPT
Quang Minh nơi tôi đang công tác.
1
5- Giả thuyết khoa học:
Nếu xây dựng được tiến trình dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12
với sự hỗ trợ của PMDH và bản đồ tư duy thì sẽ phát huy được tính tích cực nhận thức
cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng kiến thức Vật lí ở trường THPT.
6- Phương pháp nghiên cứu:
6.1.
-
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu những vãn kiện của Đảng, chỉ thị của Nhà nước, văn bản của Bộ GD-ĐT về
vấn đề đổi mới phương pháp dạy học.
-
Nghiên cứu các tài liệu: về các quan điểm, sự định hướng việc dạy và học tích cực cũng
như đổi mới phương pháp dạy học; về lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học môn
Vật lí nói riêng.
-
Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng bộ môn nói
riêng, việc cải tiến phương pháp dạy học là một nhân tố quan trọng, bên cạnh việc bồi
dưỡng kiến thức chuyên môn, việc phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa hết sức
quan trọng. Việc dạy học Vật lí lại càng cần phát triển năng lực tích cực, năng lực tư duy
của học sinh để không phải chỉ biết mà còn phải hiểu để giải thích hiện tượng Vật lí cũng
như áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các hoạt động trong cuộc sống gia đình và cộng
đồng. Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học là biến quá trình dạy học thành quá
trình tự học, tự khám phá và xây dựng kiến thức của một người học với vai trò dẫn dắt
khéo léo của người giáo viên.[15]
Các PPDH là một ngành của khoa học giáo dục, nó nghiên cứu quá trình DH của
các môn học. Nhiệm vụ lí luận DH môn là nghiên cứu, áp dụng các PPDH chung đã
được nghiên cứu trong lí luận DH vào thực tiễn của môn học cụ thể, có tính đến các đặc
điểm nội dung và pp khoa học đặc trưng cho khoa học tương ứng, trong đó có môn Vật
lí. Như vậy PPDH luôn là vấn đề hạt nhân quan trọng của nền giáo dục của tất cả các
nước trên thế giới, có tầm quan trọng đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Định
hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tự
học, kỹ năng vận dụng vào thực tiễn, phù họp với đặc điểm của từng lớp học; môn học,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho HS, tận dụng
được công nghệ mới nhất; khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến
thức có sẵn. Rất cần phát huy cao năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ
thông tin. [29]
Trong quá trình DH thì PMDH đóng vai trò hết sức quan trọng, góp phần hình
thành kiến thức mới, làm rõ các sự vật, hiện tượng Vật lí, làm tăng thêm hứng thú trong
quá trình hoạt động nhận thức cho HS. Hiện nay ngoài các PTDH truyền thống còn các
PMDH, các phương tiện hiện đại hỗ trợ DH khác như máy chiếu, tập phim, các phần
mềm, máy chiếu đa năng, bảng tương tác thông minh.... Nếu vận dụng một cách phù họp
vào từng bài dạy, từng đối tượng học sinh ở từng địa phưorng sẽ làm thúc đẩy hoạt động
âm ’’ Vật lý 12 với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy làm một đề tài
nghiên cứu mới.
1.2.
Hoat đông nhân thức và tinh tích cưc hoat đông nhân thức của HS
1.2.1.
Hoat đông nhân thức của hoc sinh
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng,
tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở
thực tiễn.
V.I.Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ trực
quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn, đó là con
đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan ” .
[16]. Hoạt động nhận thức là hoạt động tích cực của chủ thể phản ánh hiện thực khách
quan để thích ứng với nó hoặc cải tạo nó. Hoạt động nhận thức đi từ chưa biết đến biết,
từ thuộc tính bề ngoài: Cảm tính, trực quan riêng rẽ đến đối tượng trọn vẹn, ổn đinh, có ý
nghĩa trong các quan hệ của nó; sau đó đến thuộc tính bên trong, có tính quy luật ngày đi
sâu vào bản chất của cả một lớp đối tượng, hiện tượng.. .và cuối cùng từ đó trở về thực
tiễn, thông qua các quá trình tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy
ngôn ngữ.
Đối với lứa tuổi học sinh, hoạt động nhận thức chủ yếu của các em là hoạt động
học tập. Bằng hoạt động này và thông qua hoạt động này, các em chiếm lĩnh tri thức,
hình thành và phát triển năng lực tư duy cũng như nhân cách đạo đức, thái độ. Hoạt động
học tập của học sinh có cấu trúc giống như hoạt động lao động sản xuất nói chung, bao
gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: Một bên là động cơ, mục đích, điều
Tính tích cực (TTC)
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội.
Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà
còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của
xã hội, sáng tạo nền văn hóa ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải
tạo xã hội.
Theo quan điểm của các nhà giáo dục học, tính tích cực là khái niệm biểu thị sự nỗ
lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng. TTC cũng là khái niệm biểu thị cường độ
vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đó. Sự nỗ
lực ấy diễn ra trên nhiều mặt: [7]
Sinh lỷ\ Đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp.
Tâm lý.'Tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng...
Xã hội: Đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài...
Vì vậy tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng
của rất nhiều nhân tố như:
Nhu cầu- tích cực nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó;
Động cơ- tích cực vì hướng tới những động cơ nhất định;
Hứng thú- do bị lôi cuốn bởi những say mê vì muốn biến đổi, cải tạo một hiện
tượng nào đấy.
TTC cũng có mối quan hệ mật thiết với tính tự lực, với xúc cảm và ý chí.
I.2.2.2.
Tính tích cực nhận thức (TTCNT)
Tính tích cực nhận thức (TTCNT) là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm vi của
quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trinh nhận thức của HS. Theo giáo sư
Trần Bá Hoành “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trung bởi
của mình khi họ tích cực hoạt động nhận thức. Hoạt động nhận thức là nhiệm vụ xuyên
suốt trong quá trình học tập của HS. Thông qua hoạt động nhận thức, HS chiếm lĩnh
được kiến thức và năng lực tư duy đồng thời được phát triển
Để phát hiện xem HS có tích cực hoạt động nhận thức không ta có thể dựa vào các
dấu hiệu: [16].
*t* Dấu hiệu bên ngoài (qua hành vì, thái độ, hứng thú):
-
Thích thú, chủ động tiếp xúc với đổi tượng
Các em hay đặt những câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV. Việc đặt câu hỏi
của các em thể hiện lòng mong muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về những đối tượng
mà các em đang tiếp xúc. Những câu hỏi dạng: Đây là cái gì? Dùng để làm gì? Tại sao?
Như thế nào? Do đâu mà có?...Những thắc mắc các em đưa ra biểu hiện sự tích cực tìm
kiếm, lòng ham hiểu biết, trí tò mò đang khuấy động các em. Học tập thụ động, không
hứng thú sẽ không có câu hỏi và cũng sẽ không có phản ứng nếu câu hỏi không được trả
lời.
-
Chú ỷ quan sát, chăm chú lẳng nghe và theo dõi những gì thày cô làm.
-
Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của bạn và thích
tham gia vào các hoạt động cũng là một biểu hiện của hứng thú.
Thông qua quan sát, thầy giáo có thể xác định được những biểu hiện cảm xúc, hứng thú
nhận thức như niềm vui sướng, sự hài lòng khi tự mình tìm ra câu trả lời đúng hay là
những thành công trong học tập...
Dấu hiệu bên trong có thể cụ thể hóa qua một số câu hỏi:
Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các tình
huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lí các tình huống mới.
-
Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát.
-
Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình.
-
Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ
nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết
khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất.
-
Có những biểu hiện của ý chí ừong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực, cố gắng vượt qua
các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ
được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu báo hết giờ...
Những câu hỏi mà thông qua đó có thể thấy được biểu hiện tích cực hoạt động
nhận thức của học sinh qua dấu hiệu bên trong:
-
Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?
-
Có phát triển tính năng động sáng tạo không?
-
Kết quả kiểm tra, thi cử có cao không?
1.2.3.
Các biện pháp chung phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
Tính TCNT của học sinh chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: Bản thân học sinh, nhà
trường, gia đình, xã hội..Vì vậy các biện pháp phát huy tính TCNT của học sinh rất đa
dạng và phong phú. Trong phạm vi của luận vãn, chúng tôi chỉ trình bày nhóm các biện
pháp cho giáo viên đứng lớp, chủ yếu được thực hiện trong giờ lên lớp. Nhóm biện pháp
này rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến học sinh [5]. Nó gồm một số vấn đề sau:
-
Giác ngộ ỷ thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của học
sinh.
-
Kích thích hứng thú qua nội dung: Đây là biện pháp mà GV hay sử dụng nhất. Tùy thế
mạnh của từng môn học mà cách kích thích hứng thú sẽ khác nhau.
-
Kích thích hứng thú qua phương pháp dạy học: Đe tích cực hóa hoạt động nhận thức của
HS phải phối họp nhiều phương pháp với nhau, những phương pháp có hiệu quả nhất
Quan niệm về phương pháp dạy học theo hướng tích cực
Khi nói tới phương pháp tích cực, thực tế là nói tới một nhóm các phương pháp dạy
học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Cơ sở của phương pháp luận là lý luận, trong quá trình dạy học cần kích thích sự
hứng thú, cần phát huy tính tích cực, tính tự lực sáng tạo trong học tập của HS. Để làm
điều đó đòi hỏi người thầy giáo phải lựa chọn, tìm tòi những PPDH phù hợp với nội
dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điều kiện vật chất, và đây là một hoạt động sáng
tạo của người thầy trong hoạt động dạy. Phương pháp dạy học theo hướng tích cực cần
thể hiện được sự phản ánh quá trình hoạt động nhận thức của HS nhằm đạt được mục
đích đã đề ra trong đó GV tổ chức cho HS hoạt động theo hướng tích cực, giúp HS tự
giác tiếp nhận kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt được mục đích đề ra với kết quả cao.
[7]
1.3.2.
Những đặc trưng của phương pháp dạy học theo hướng tích cực
Phương pháp dạy học theo hướng tích cực có những điểm mạnh riêng của nó mà
các phương pháp khác không thể có được, đó là học sinh lĩnh hội kiến thức bằng chính
sự hoạt động tích cực và cao độ của bản thân, tự họ chủ động sáng tạo nn các vấn đề, các
tình huống để nghiên cứu...Phương pháp dạy học theo hướng tích cực thể hiện bởi các
đặc trưng cơ bản sau [14]:
*
Dạy học hướng vào học sinh
*
(PMDH). [4] :
PMDH là phương tiện chứa các thông tin ra lệnh cho máy tính thực hiện các yêu
cầu về nội dung và PPDH theo các mục tiêu đã định. PMDH được lưu trữ trong các thiết
bị như đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD-ROM rất gọn nhẹ, dễ sử dụng, dễ nhân bản với số
lượng lớn. Tùy thuộc vào môn học cụ thể mà ta có thể xây dựng và sử dụng các PMDH
tương ứng để phục vụ cho dạy và học môn học đó. PMDH được sử dụng trong dạy- học
với các chức năng:
-
Dạy và học kiến thức mới.
-
Ồn tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức.
-
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Có thể chia PMDH thành ba loại với các mức độ giá trị dạy - học khác nhau:
+ PMDH hỗ trợ bài giảng: Dùng phần mềm minh họa, hỗ trợ bài giảng trên lớp. Tác
dụng lớn nhất là gây hứng thú, kích thích tư duy cho người học, tiết kiệm thời gian
truyền thụ kiến thức, làm bài giảng sinh động, phong phú hon.
+ Phần mềm tự học (loại phần mềm đóng gói trên đĩa CD-ROM): Người học căn cứ
vào SGK, tài liệu in hoặc SGK điện tử, sử dụng PMDH một cách độc lập. Đối chiếu với
các kiến thức thu được, dựa vào các gợi ý, các phần giải thích minh họa, hình ảnh động,
thí nghiệm ảo...trên các phần mềm tương ứng người học tự hình thành kiến thức và tự
luyện tập, tự kiểm tra, tự điều chỉnh để tự hoàn thiện tri thức của mình.
+ Phần mềm tự học trên mạng: Thông qua máy tính nối mạng Internet, người học có
-
PMDH cho phép GV lựa chọn các tài liệu trực quan cần cho từng phần của bài học và sử
dụng chúng rất thuận tiện trong giảng dạy.
-
PMDH có thể giúp HS tự tìm kiếm tri thức mới, tự ôn tập, luyện tập theo nội dung tuỳ
chọn, theo các mức độ nông sâu, tuỳ thuộc vào năng lực của bản thân.
Với những ưu điểm trên, PMDH đã trở thành một loại phương tiện đem lại hiệu
quả cao trong quá trình dạy học, góp phần vào việc đổi mới về nội dung, PPDH nhằm
hình thành ở HS các năng lực làm việc, học tập và sống thích ứng được với môi trường
xã hội hiện đại.
1.4.3.
ứng dụng của phần mềm dạy học trong dạy học Vật lí
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm. Trong chương trình vật lí THPT hầu hết
các bài đều có thí nghiệm. Vì vậy để đổi mới nội dung và phương pháp trong dạy học vật
lí phải gắn liền với việc tăng cường sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học. Với khối
lượng kiến thức trong chương trình như hiện nay, nếu dạy theo phương pháp truyền
thống và những thí nghiệm thật thì sẽ không đủ thời gian, vì vậy việc ứng dụng công
nghệ thông tin và sử dụng các phần mềm dạy học là một giải pháp giúp giáo viên tổ chức
các hoạt động nhận thức cho HS có hiệu quả trong hoạt động dạy của mình.
Hiện nay, ngoài việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học như: PowerPoint,
Violet, LectureMaker, Potatoes,...Giáo viên Vật lí có thể sử dụng các phần mềm mô
phỏng các hiện tượng, quá trình vật lí trong các lĩnh vực: Cơ, nhiệt, điện, điện từ, quang..
quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao.
Việc sử dụng các phương tiện dạy học trong dạy học Vật lý là hết sức cần thiết,
nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì việc tăng cường sử
dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học Vật lý là một hướng đi đúng đắn
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ thông, về mặt nguyên tắc, chỉ có thể
thâu tóm đầy đủ chức năng của phương tiện dạy học trong dạy học Vật lý nếu xem xét
việc sử dụng phương tiện dạy học trên nhiều quan điểm khác nhau, nhưng dù xét theo
quan điểm nào đi nữa, chức năng chủ yếu của phương tiện dạy học cũng vẫn là tạo điều
kiện cho HS nắm vững một cách chính xác, sâu sắc các kiến thức và phát triển năng lực
nhận thức và hình thành nhân cách cho HS.
1.4.5.
Vấn đề sử dụng PMDH trong qúa trình dạy học
PMDH có ý nghĩa nhất định trong toàn bộ quá trình dạy học, tuy nhiên không phải
tự thân nó có toàn bộ ý nghĩa đó. Nói cách khác là không phải cứ sử dụng PMDH là có
tác dụng dạy học - giáo dục, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc người GV sử dụng nó
như thế nào vào cách nghiên cứu, chế biến tài liệu dạy học mà họ sẽ tiến hành. [38]
Tiết học với việc sử dụng những phương tiện kỹ thuật dạy học là một kiểu tiết học
mới mà trong đó bắt buộc người GV phải sử dụng PPDH phù hợp với chúng. Những
PTDH, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật dạy học làm thay đổi cấu trúc và cả nhịp
điệu tiết học, kết quả là dẫn tới làm thay đổi vị trí người GV trong tiết học. Điều đó đòi
hỏi năng lực, trình độ của người GV. Hiệu quả sử dụng những PTDH hiện đại càng lớn
khi họ có trình độ nghiệp vụ càng cao. Khi sử dụng những PTDH hiện đại, người GV cần
chú ý các yêu cầu sau:
PTDH nào cần thiết phải sử dụng, mục tiêu sư phạm sử dụng từng PTDH đó, kết
quả cần đạt được.
-