i
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo của nước ta đã và đang phát
triển mạnh mẽ về quy mô, đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của xã
hội, chất lượng giáo dục và đào tạo trở thành mục tiêu hàng đầu của nền
giáo dục nước nhà.
Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ được
xác định là quốc sách hàng đầu, là một động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững.
Thực hiện đổi mới trong giáo dục và đào tạo, nhiều văn bản pháp
luật được ban hành trong những năm gần đây thể hiện rõ chính sách và sự
quan tâm của Đảng và Nhà nước về việc nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo: Từ những quy định về đổi mới nội dung, chương trình, phương
pháp dạy và học, xây dựng đội ngũ nhà giáo, xây dựng mô hình xã hội
học tập với hệ thống học tập suốt đời, đổi mới cơ chế quản lý… đến việc
đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, phát triển hệ thống giáo dục ngoài công
lập… và gần đây là những quy định về chống tiêu cực, khắc phục bệnh
thành tích trong giáo dục nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong dạy và học,
góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Với cách tiếp cận trên đây, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo
dục đại học được mở rộng quy mô đào tạo đạt tỷ lệ 200 sinhviên/1 vạn
dân vào năm 2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020. Trong đó có
70-80% tổng số sinh viên học theo chương trình nghề nghiệp – ứng dụng
và phấn đấu đạt khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các trường ngoài
công lập- đó là một cơ hội và thách thức lớn lao đối với hệ thống giáo dục
ii
Thứ hai: Các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học như một cái
đích, mục tiêu để các cơ sở giáo dục đại học hướng tới sự phát triển giáo
dục đạt mục tiêu.
Thứ ba: Các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học là công cụ để
cộng đồng xã hội quán triệt, bám sát và đánh giá chất lượng của các cơ sở
đào tạo, đồng thời giúp các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục đào tạo
có tiêu chuẩn để xã hội giám sát trách nhiệm của mình trong việc nâng
cao chất lượng đào tạo đại học.
Tuy nhiên chất lượng giáo dục đại học bị ảnh hưởng bởi rất nhiều
yếu tố : yếu tố khách quan, chủ quan, các yếu tố về quy mô phát triển, yếu
tố đầu vào, yếu tố về quá trình đào tạo cùng các yếu tố về người dậy,
người học...
1.2. Chính sách quản lý chất lượng giáo dục đại học
Chính sách quản lý chất lượng giáo dục đại học là việc tổ chức thực
hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương phát triển giáo dục đại học của
Đảng và nhà nước đạt mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại
học để giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế – văn hoá - xã hội của
địa phương và cả nước trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước.
Để xây dựng nền giáo dục đại học có chất lượng, về phía quản lý
Nhà nước là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng được hệ thống các tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học.
Ở nước ta, mục tiêu giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói
riêng được Đảng và Nhà nước xác định là nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực và bồi dưỡng nhân tài. Mục tiêu này được nhà nước thể chế hoá thành
những mục tiêu cụ thể trong Luật Giáo dục năm 2005, trong đó có mục
tiêu giáo dục đại học. Giáo dục đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn
iv
v
+ Chính sách về chương trình đào tạo.
+ Chính sách về nghiên cứu khoa học, ứng dụng phát triển và
chuyển giao công nghệ.
Từ đó có thể đưa ra các công cụ chính sách quản lý chất lượng giáo dục,
bao gồm:
+ Các công cụ hành chính tổ chức
+ Các công cụ kinh tế
+ Các công cụ tuyên truyền , giáo dục.
+ Các công cụ nghiệp vụ đào tạo
Chương 2: Giới thiệu tổng quan về trường đồng thời đánh giá tổng quan
về chính sách quản lý chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh doanh
và Công nghệ Hà Nội và tập trung phân tích các chính sách bộ phận của
chính sách quản lý chất lượng giáo dục đại học như đã nêu ở chương 1 và
đánh giá hiệu quả,tác động của các chính sách hiện có tại trường.
2.1. Giới thiệu tổng quan về trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (tiền thân là
trường Đại học dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội) được thành lập
ngày 15/6/1996 theo Quyết định số 405/TTg của Thủ tướng Chính phủ, là
một tổ chức hợp tác tập hợp được những người lao động, các nhà kinh tế,
kỹ thuật, tự nguyện góp sức, góp vốn để xây dựng và phát triển trường
bền vững vì mục đích đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao bồi
dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước không vì mục đích lợi nhuận.
Mặc dù là một trường đại học ngoài công lập còn non trẻ với 13
năm kinh nghiệm và phát triển nhà trường đã gặt hái được những thành
công ban đầu, trước hết ở số lượng sinh viên đang theo học tại trường
giảng viên trẻ.
vii
- Giảng viên cơ hữu của trường tập trung đông ở khoa Tiếng Anh
và Tin học. Do đòi hỏi của chương trình đào tạo nên cần một lượng giáo
viên lớn chính vì vậy trình độ chuyên môn chưa cao, chưa có nhiều giảng
viên có học hàm, học vị cao. Thêm vào đó năng lực sư phạm còn chưa
dày dặn dẫn đến những hành vi cư xử còn thiếu mô phạm.
- Số lượng giảng viên thỉnh giảng khá cao, khối lượng giảng dậy
chiếm khoảng 30%. Phần đông số giảng viên này đang công tác tại các
trường đại học công lập khác. Công việc giảng dậy tại trường Kinh doanh
và Công nghệ chủ yếu vì quyền lợi cá nhân. Chính vì vậy họ chưa thực sự
tận tâm, hết mình gắn bó với trường về việc quản lý sinh viên.
* Chính sách đối với người học (sinh viên)
- Đầu vào của sinh viên tại trường còn thấp, cụ thể là trường tuyển
chọn những sinh viên vào học tại trường theo nguyện vọng một bằng điểm
sàn của Bộ giáo dục và Đào tạo.
- Những sinh viên chọn học tại trường theo nguyện vọng hai thì
chưa thật tập trung vì những sinh viên này chưa tìm hiểu kỹ về trường,
thực tế là các em không còn sự lựa chọn nào khác.
- Sinh viên của trường đến từ 45 tỉnh thành trên cả nước, do đó
trình độ không đồng đều, đặc biệt về trình độ ngoại ngữ. Điều này gây ra
những khó khăn không chỉ đối với sinh viên mà cả giáo viên.
- Trường cần tiếp tục có những biện pháp thích hợp đối với số sinh
viên chưa tự giác học tập và thực hiện quy chế.
- Do diện tích chật hẹp nên trường không đáp ứng được việc ở của
sinh viên ngay tại trường , đây là một thiệt thòi lớn đối với sinh viên đến
nên trường chưa nhận được đặt hàng nghiên cứu nào vì hầu hết đã dành
cho các trường Đại học công lập. Công tác nghiên cứu chỉ phục vụ cho
chính trường mình.Thêm vào đó những giáo trình do trường biên soạn
chưa được sử dụng rộng rãi.
ix
Với những chính sách phù hợp về quản lý chất lượng giáo dục đại
học nhà trường đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc thực hiện xã
hội hóa giáo dục. Tuy là một trường đại học ngoài công lập với tuổi đời
còn non trẻ (13 năm) nhưng trường đã khẳng định được chỗ đứng của
mình trong xã hội, được xã hội chấp nhận. Với những khó khăn không kể
hết từ ngày thành lập trường cho đến nay trường đã được người học trên
toàn quốc tìm đến, tin tưởng để chuẩn bị hành trang cho tương lai.
- Bên cạnh những điểm mạnh hay ưu thế của trường vẫn tồn tại
những bất cập trong các chính sách bộ phận của mình. Cụ thể là đối với
chính sách về cán bộ, giảng viên, người học, huy động vốn và nghiên cứu
khoa học. Những vấn đề còn tồn tại đó đã phần nào ảnh hưởng đến chất
lượng đào tạo của trường. Nếu những tồn tại đó được giải quyết một cách
triệt để và thỏa đáng thì chất lượng đào tạo sẽ còn tốt hơn rất nhiều.
Tuynhiên đó không chỉ là ở các chính sách của trường mà còn ở các chính
sách của Đảng, Nhà nước và Bộ giáo dục và đào tạo. Chính vì vây tác giả
muốn đưa ra một số giải pháp đối với trường, và các cấp nhằm hoàn thiện
chính sách quản lý chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh doanh và
Công nghệ nói riêng và khối trường đại học ngoài công lập nói chung.
Chương 3: Đưa ra những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chất
lượng giáo dục đại học, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính
sách quản lý chất lượng giáo dục đào tạo tại trường Đại học Kinh doanh
cao chất lượng và hiệu quả đào tạo lên ngang tầm khu vực thế giới”.
Tuy nhiên, việc thực hiện sứ mạng và mục tiêu giáo dục đại học của
trường cũng còn nhiều hạn chế, nổi bật nhất là cơ chế quản lý của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đối với các trường ngoài công lập còn chậm đổi mới,
còn mang nặng cơ chế tập trung quan liêu của thời bao cấp, thiếu bình
đẳng với các trường công lập, khó khăn và rườm rà về các thủ tục mở
xi
ngành mới, giao chỉ tiêu đào tạo hoặc thực hiện các hình thức và trình độ
đào tạo.
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý chất lượng
giáo dục đại học tại Trường đại học kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.
- Một là:về tổ chức và quản lý
+ Cần rà soát lại nội dung và tính hợp thức của hệ thống các văn
bản pháp quy của trường để kịp thời bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh chức
năng nhiệm vụ của trường và các đơn vị trực thuộc trường.
+ Tổ chức sinh hoạt nâng cao ý thức tự chủ của trường đơn vị và cá
nhân, đề cao tinh thần trách nhiệm và tính tích cực hoàn thành nhiệm vụ
được giao, đề xuất được những biện pháp phát huy mặt mạnh của đơn vị
và cá nhân trong trường.
+Nâng cao tính chủ động của tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã
hội: vai trò vị trí, trách nhiệm của Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Đổi mới phương pháp và nội dung đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục
theo chức năng của tổ chức
Hai là: về chương trình đào tạo
+ Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu môn học, thu thập thông tin phản hồi
của người dạy - người học, người tốt nghiệp ra trường cùng với thông tin
từ nước ngoài để điều chỉnh cho phù hợp.
+ Giải quyết tốt mối quan hệ và cơ cấu đội ngũ cán bộ về lứa tuổi,
về kinh nghiệm công tác, đặc biệt là cán bộ quản lý phần lớn là những
người lớn tuổi, số cán bộ trẻ chưa nhiều.
+ Quan tâm bồi dưỡng kỹ năng, trách nhiệm cho kỹ thuật viên, nhân
viên - những người trợ lý trong hoạt động giáo dục và đào tạo.
Năm là: về người học
+ Cần có chiến lược dạy nhân cách làm người - giáo dục lý tưởng,
đạo đức cách mạng, lối sống văn hoá, ý thức công dân, trách nhiệm xã hội
xiii
nhằm giúp người học có phẩm chất tốt đẹp, có khí phách, thực có tài để
cống hiến cho đất nước.
+ Có biện pháp tăng cường hỗ trợ các hoạt động của tổ chức Đoàn
thanh niên, Hội sinh viên.
+ Tăng cường phối hợp quản lý sinh viên qua các kênh trong hoạt
động đào tạo và phòng công tác sinh viên, các khoa, bộ môn, hoạt động
của Đoàn thanh niên, hội sinh viên, giáo dục của gia đình và yêu cầu của
xã hội.
3.4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách quản lý chất lượng
giáo dục đại hoc.
- Với Nhà nước( Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Một là, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có tổng kết về mô hình các
trường đại học, cao đẳng ngoài công lập đã phát triển trong hơn 15 năm
qua. Ngoài ra Bộ cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống các tiêu chí đánh
giá các trường Đại học theo tinh thần hợp lệ, độ tin cậy và thực tiễn.
Hai là, Bộ giáo dục và đào tạo nên trao trả quyền tự chủ cho các
trường Đại học ngoài công lập.
Ba là, Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm ban hành quy chế giảng viên
pháp quy khuyến khích phát triển giáo dục nói chung và giáo dục đại học
nói riêng. Các chế độ chính sách ấy là cơ sở pháp lý để xây dựng và tổ
chức thực hiện chính sách quản lý chất lượng giáo dục đại học - đó chính
là công cụ quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH của nước ta.