PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, bối cảnh trong nước và quốc tế tiếp tục có những thay
đổi nhanh chóng. Đảng ta đề ra mục tiêu: “Phấn đấu trong giai đoạn 2001-2010
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một
Ế
nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [4].
U
Trong xu thế phát triển đất nước theo hướng CNH, HĐH và đô thị hóa, tất yếu
́H
sẽ dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm và thu nhập của người nông dân. Nhận
TÊ
thức được điều đó, Đảng ta chủ trương: "Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông
H
thôn và nông dân. Phát triển toàn diện nông nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ cấu nông
IN
H
nông nghiệp.
IN
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đề cập đến vấn đề
K
việc làm và thu nhập của người nông dân sau thu hồi đất để xây dựng các khu công
nghiệp, khu đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó đáng chú ý
̣C
là một số công trình sau đây:
O
- Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các
̣I H
khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình
công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, của tác giả Lê Du Phong (2007), Nhà xuất bản
Đ
A
́H
- Việc làm cho người nông dân khi thu hồi đất, của Nguyễn Thị Hải Vân, Thời
báo Kinh tế Việt Nam 13/7/2005.
TÊ
- Việc làm và thu nhập của người nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp trong
quá trình đô thị hóa ở thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn Thạc sỹ
H
kinh tế của Phạm Thái Anh Thư, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế.
IN
Ngoài ra, có rất nhiều nghiên cứu của các sinh viên, học viên cao học khác về
K
vấn đề việc làm, giải quyết việc làm cho lao động có đất bị thu hồi... Nhìn chung, các
công trình và bài viết trên có những cách tiếp cận khác nhau hoặc trực tiếp, hoặc gián
̣C
tiếp vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người nông dân sau thu hồi
O
đất ở một số tỉnh, thành phố trong cả nước trong những năm gần đây. Tuy nhiên, cho
Ế
trong những năm tới.
U
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
́H
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng về việc làm, thu nhập của
TÊ
những người nông dân sau thu hồi đất ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn, phức tạp và khá mới, trong khi thời gian có hạn
H
nên tác giả chỉ mới chỉ tập trung nghiên cứu một số vùng có diện tích đất nông nghiệp
IN
bị thu hồi lớn, tập trung ở vùng trung tâm thị xã Hương Trà và ven thành phố Huế,
K
tỉnh Thừa Thiên Huế. Việc lựa chọn này mang tính đại diện chứ chưa thể tổng hợp
4
5. Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp thống kê kinh tế;
- Phương pháp phân tích tổng hợp và dự báo kinh tế;
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu;
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo...
Ế
Tất cả các phương pháp trên được dựa trên phương pháp luận duy vật biện
U
chứng làm nền tảng.
́H
6. Những đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn của vấn đề việc làm và thu nhập của người
TÊ
nông dân sau thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập của người nông dân sau
- Chương 2: Thực trạng việc làm và thu nhập của người nông dân sau thu hồi
đất ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập
của người nông dân sau thu hồi đất ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Kết luận và kiến nghị
5
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP
CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN SAU THU HỒI ĐẤT
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Khái quát chung về lao động, việc làm và thu nhập của người lao động
1.1.1.1. Khái niệm về lao động
Ế
Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua các công cụ lao
U
động tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất
́H
cần thiết cho nhu cầu của mình và xã hội.
động gồm những người đủ 15 - 55 tuổi đối với nữ, đến 60 tuổi đối với nam đang có
Đ
A
việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Trên thực tế vẫn có
một số lao động, thường là lao động nông nghiệp mặc dù ngoài độ tuổi nhưng vẫn
tham gia lao động như thiếu niên từ 13 - 15 tuổi hay những người nữ trên 55 tuổi,
nam trên 60 tuổi.
Dân số không hoạt động kinh tế, bao gồm số người từ 15 tuổi trở lên không
thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm. Những người này không hoạt
động kinh tế vì các lý do: đang đi học, đang làm công việc nội trợ cho bản thân hoặc
gia đình, tàn tật không có khả năng lao động, các lý do vì sức khỏe, hoặc ở vào tình
trạng khác.
6
1.1.1.2. Quan niệm về việc làm
Tùy theo tình trạng việc làm mà dân số hoạt động kinh tế được chia làm hai
loại: người có việc làm và người thất nghiệp.
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), người có việc làm là
người đang làm việc trong các lĩnh vực ngành nghề, các dạng hoạt động có ích không
bị pháp luật nghiêm cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng
thời góp một phần cho xã hội.
Ế
Một định nghĩa khác cụ thể hơn thì người có việc làm là những người thuộc
- Người đủ việc làm bao gồm những người có thời gian làm việc trong tuần lễ
̣I H
trước điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc số
giờ đó bằng hoặc lớn hơn số giờ quy định cho từng ngành nghề riêng biệt.
Đ
A
- Người thiếu việc làm bao gồm những người có thời gian làm việc trong tuần
lễ trước điều tra nhỏ hơn 40 giờ, hoặc số giờ làm việc nhỏ hơn quy định và có nhu
cầu làm thêm (trừ những người có thời gian làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm thêm
mà không tìm được việc).
Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động
nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
Hay thất nghiệp là một tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn
làm việc nhưng chưa tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành.
1.1.1.3. Khái niệm về thu nhập
7
Về bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần
thiết (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương…) và
phần có được từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận). Tuy nhiên, ở phạm trù khác nhau
(toàn bộ nền kinh tế, ngành kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân) biểu hiện
của thu nhập có những đặc thù riêng biệt. Sau đây là một số khái niệm về thu nhập
của lao động:
tế. Thu nhập của hộ gia đình được tạo nên bởi thu nhập của các thành viên trong gia
đình, vì vậy để biết được thu nhập của từng thành viên trong gia đình trước hết phải
̣C
biết được thu nhập của hộ.
O
Thu nhập của hộ (gia đình) là toàn bộ các khoản thu bằng tiền và giá trị hiện
̣I H
vật mà người lao động cũng như gia đình họ nhận được trong một phạm vi thời gian
nhất định.
Đ
A
1.1.2. Đô thị hóa và sự cần thiết phải thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa
1.1.2.1. Khái niệm đô thị hóa
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: “Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bổ
lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển
các hình thức và điều kiện sống theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất,
kỹ thuật và tăng quy mô dân số ở các đô thị. Đó là quá trình tập trung, tăng cường,
phân hóa các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỷ lệ dân số thành thị trong các vùng,
các quốc gia cũng như trên thế giới. Đồng thời đô thị hóa cũng là quá trình phát triển
của các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong dân cư”[12].
H
quản lý đô thị, các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động, tận
IN
dụng tối đa những tiềm năng có sẵn, hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại
K
hóa mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội.
1.1.2.2. Đặc điểm chủ yếu của quá trình đô thị hóa
O
̣C
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở nước ta cũng chính là quá
̣I H
trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, cơ
cấu lại công việc, phân bố lại dân cư theo hướng tăng nhanh khối lượng dân cư sống
Đ
A
ở khu vực thành thị và giảm mạnh số lượng, tỷ lệ dân cư sống ở khu vực nông thôn.
Quá trình đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây có một số đặc điểm chủ
làn sóng là xu thế tất yếu khi nhu cầu xây dựng về đất đô thị tăng và khả năng mở
rộng có thể thực hiện tương đối dễ dàng. Xu hướng này tạo sự ổn định và giải quyết
TÊ
vấn đề quá tải cho đô thị hiện có.
- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị: đây là xu hướng hiện đại trong
H
quá trình công nghiệp hóa nông thôn ở nước ta. Vấn đề cơ bản là tạo nguồn tài
IN
chính để xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại.
K
- Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất: cả hai hình thức đô thị hóa đều dẫn đến sự
chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, hình thức phát triển theo chiều rộng đưa đến tình
O
̣C
trạng thu hẹp đất canh tác nông nghiệp nhanh chóng. Một phần đất do nhà nước thu
̣I H
U
sống là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hóa. Người dân sẽ nhanh chóng thích nghi
́H
và biến đổi tập quán cho phù hợp với lối sống đô thị hiện đại.
- Thay đổi cơ cấu dân cư: cơ cấu dân cư theo tuổi, giới, theo tầng lớp xã hội,
TÊ
theo nghề nghiệp cũng biến đổi trong quá trình đô thị hóa. Sự phân hóa giàu nghèo
ngày càng rõ nét. Thu nhập của dân cư nói chung tăng lên nhưng tốc độ tăng của
H
mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau. Cơ cấu giàu nghèo có quan hệ
IN
chặt chẽ với cơ cấu nghề nghiệp, việc làm của người lao động [12].
K
1.1.2.3. Sự cần thiết phải thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa
Thực tiễn nước ta trong những năm qua cho thấy CNH, HĐH và đô thị hóa tất
O
có vai trò quan trọng trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa. Tác động này thể
hiện rõ ở những điểm sau:
- Thứ nhất: nhờ có đất thu hồi mới có thể xây dựng các khu công nghiệp, khu
Ế
chế xuất thu hút hàng trăm các dự án đầu tư ở trong và ngoài nước.
U
- Thứ hai: việc thu hồi chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm cho quá trình đô
́H
thị hóa được đẩy mạnh.
- Thứ ba: tạo điều kiện nâng cấp và xây dựng mới khá đồng bộ và tương đối
TÊ
hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc
phòng.
H
- Thứ tư: việc hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị mới đã tạo điều kiện
IN
thu hút đầu tư, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động với thu nhập tương đối
12
3 loại quyền cơ bản về đất đai do các thực thể khác nhau nắm giữ đó là: quyền sở hữu
thuộc về toàn dân, quyền quản lý của nhà nước và quyền sử dụng được giao cho các
cá nhân, hộ gia đình và tổ chức nắm giữ, sử dụng trong một thời gian nhất định tùy
thuộc vào từng loại đất. Do đó, khi thu hồi quyền sử dụng đất, nhà nước chỉ đền bù
cho người nắm giữ quyền sử dụng đất giá trị kinh tế của quyền sử dụng đất và những
giá trị vật chất khác hiện diện trên diện tích đất bị thu hồi. Đây thường là điểm mấu
chốt gây mâu thuẫn giữa người nắm giữ quyền sử dụng đất và các cơ quan phụ trách
Ế
việc thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất.
U
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam trong hai mươi năm qua
́H
đã thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này,
Việt Nam chưa có những số liệu đầy đủ, hệ thống và chính xác về tổng diện tích các
TÊ
loại đất; đặc biệt là đất nông nghiệp bị thu hồi từ đầu những năm 1990 để phục vụ
mục đích công nghiệp hóa và đô thị hóa trong cả nước.
Lạt, Vinh, Việt Trì. 13 đô thị loại II; 36 đô thị loại III; 39 đô thị loại IV và 635 đô
thị loại V, tỷ lệ dân số đô thị là 40% [11].
Các khu công nghiệp phát triển mạnh, năm 1991 mới có một khu công
nghiệp nhưng đến năm 2003 cả nước đã thành lập thêm 82 khu công nghiệp tập
trung, 22 đô thị mới và 18 khu kinh tế cửa khẩu. Cùng với sự gia tăng dân số, tăng
trưởng không gian đô thị hóa cũng đạt tỷ lệ đáng kể, đất đô thị tăng từ 0,2% tổng
diện tích đất tự nhiên của quốc gia (1999) lên 1% (2003). Chúng ta có thể thấy được
qua bảng sau:
13
Bảng 1.1: Tình hình phát triển dân số đô thị của Việt Nam
Chỉ tiêu
1990
2000
2010
2025
Dân số (triệu người)
66,15
79,8
92,06
Châu Phi là 32%; Châu Mỹ La Tinh là 68%), như vậy ta thấy rằng dân số đô thị
nước ta còn thấp. Mặt khác, sự phân bố đô thị theo lãnh thổ cũng không đều, vùng
́H
đồng bằng Bắc Bộ là 2,7 đô thị/1000km2, Bắc Trung Bộ là 1,5 đô thị/1000km2,
TÊ
vùng Nam Trung Bộ là 0,9 đô thị/1000km2, vùng Nam Bộ là 1,9 đô thị/1000km2. Vì
vậy, trong định hướng phát triển đô thị ở Việt Nam không đơn thuần là đưa người
H
sống ở nông thôn lên thành thị mà vấn đề là phải đầu tư vào nông thôn để xây dựng
IN
cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp chế biến nông sản, mở rộng dịch vụ đời sống
định hướng đô thị hóa.
K
để giảm dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo
̣C
Quá trình đô thị hoá nói trên có những mặt tác động nhất định đến khu vực
O
và ngoài nước.
Ế
- Đô thị còn là nơi tạo nguồn vốn, cung cấp vốn cho nông thôn. Mặc dù
U
chính các đô thị cũng đang thiếu vốn đầu tư cho sự phát triển của mình, đặc biệt là ở
́H
các nước đang phát triển, nhưng các đô thị tạo điều kiện thu nhập khá hơn nhiều so
với nông thôn.
TÊ
* Về tác động tiêu cực
Đô thị hoá đã tạo tiền đề để thực hiện CNH, HĐH đến lượt nó CNH, HĐH
H
đã thúc đẩy đô thị hoá với tốc độ ngày càng nhanh. Thực tế, mặt trái công nghiệp
IN
hoá với mặt trái đô thị hoá cộng hưởng với mặt trái kinh tế thị trường, tạo ra thách
K
15
- Gia tăng áp lực đối với quy hoạch sử dụng đất đai đô thị;
- Thay đổi cơ cấu dân cư theo nhiều tiêu chí: độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp,
trình độ học vấn, tầng lớp xã hội;
- Gia tăng khoảng cách chênh lệch về mức sống và thu nhập giữa các tầng
lớp dân cư, hình thành các khu nhà ổ chuột và tầng lớp dân nghèo thành thị, gia
tăng tình trạng vô gia cư và nạn thất nghiệp;
- Áp lực thay đổi lối sống đô thị do sự du nhập lối sống của nhiều địa
Ế
phương, vùng miền khác nhau;
U
- Gia tăng stress và các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng tới tất cả các tầng lớp dân
́H
cư trong đô thị;
- Kết cấu hạ tầng và các vấn đề môi trường (tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm
TÊ
không khí, nước, chất thải rắn, thiếu nước sạch…);
sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ, nhiều khu công nghiệp, khu đô
thị mọc lên, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho lao động trong lĩnh vực công
nghiệp và dịch vụ, đa dạng hóa ngành nghề ở nông thôn. Hàng năm cả nước giải
quyết việc làm mới cho 1,4 - 1,6 triệu lao động thì khu vực công nghiệp và dịch vụ
giải quyết việc làm cho trên 70% [2].
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, tính đến năm 2010 cả nước có 755 đô thị,
trong đó có 10 đô thị loại 1, 12 đô thị loại 2, 47 đô thị loại 3 gồm các thành phố, thị
xã, 50 đô thị thuộc loại 4 gồm các thị xã, thị trấn của các tỉnh trong cả nước. Còn lại
là 634 đô thị loại 5, chủ yếu là các thị trấn.
16
Ngoài ra, các khu công nghiệp phát triển khá mạnh, tính đến hết năm 2009, cả
nước đã có 249 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 63.173 ha. Trong
đó, 162 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 38.804 ha và 74
KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng
diện tích đất tự nhiên 14.792 ha. Các KCN phân bố ở 61 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Các KCN đã thu hút được trên 3.600 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư
đăng ký đạt 46,9 tỷ USD và 3.200 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng
U
- Sự phát triển khu vực kinh tế không chính thức
Ế
ký 254.000 tỷ đồng; giải quyết việc làm trực tiếp cho hơn 1,34 triệu lao động.
́H
phát triển theo hướng nâng cao năng suất lao động; mặt khác phải có những chính
sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, tạo điều kiện để người lao động được tham gia đào tạo
Đ
A
nghề, chuyển đổi việc làm. Nếu làm được điều này sẽ góp phần nâng cao trình độ
cho người lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động tương ứng với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [17,46].
- Chính sách khôi phục và phát triển làng nghề
Việc thực hiện chính sách này có tác động rất lớn đến việc giải quyết việc làm
cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa. Khôi phục và phát triển làng
nghề đã tạo việc làm cho một lượng lớn lao động nông nghiệp, đặc biệt là lao động
nông nghiệp bị thu hồi đất. Các địa phương như Bắc Ninh, Hà Tây, Hải Dương... là
những địa phương thực hiện tốt chính sách này.
17
- Chính sách xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một giải pháp quan trọng trong việc giải quyết việc
làm, góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay
nghề, tác phong công nghiệp cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất
nước và góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hoá, khoa học kỹ thuật
giữa Việt Nam với các nước sử dụng lao động Việt Nam.
Thực hiện tốt chính sách này là hướng đi có hiệu quả để giải quyết việc làm
Ế
cho người lao động. Trong những năm qua, bình quân mỗi năm cả nước đã đưa
phong công nghiệp tốt, có cơ cấu ngành nghề phù hợp với nhu cầu lao động. Ngược
O
lại, chất lượng đào tạo nghề thấp, cơ cấu đào tạo không phù hợp với yêu cầu của thị
̣I H
trường sẽ gây khó khăn trong việc giải quyết việc làm.
Đối với lao động nông nghiệp, nông thôn chất lượng lao động thường thấp
Đ
A
hơn so với lao động thành thị. Phần đông lao động nông nghiệp, nông thôn không
được đào tạo nghề, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn thấp. Vì thế việc
chuyển đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi đất gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết việc
làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa, đòi hỏi nhà nước phải đặc
biệt quan tâm đến dạy nghề cho nông dân. Chương trình dạy nghề cho nông dân
phải phù hợp với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Đối với nông dân bị thu
hồi đất thì việc dạy nghề còn đòi hỏi phải phù hợp với lứa tuổi của lao động và sự
phát triển ngành nghề của địa phương, thông qua các lớp dạy nghề ngắn hạn, hoặc
các lớp truyền nghề, dạy nghề theo hình thức cầm tay chỉ việc.
18
- Sự phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động (sàn giao dịch việc
làm)
Hệ thống thông tin thị trường lao động hoạt động có hiệu quả thì nó sẽ cung
K
Đối với vấn đề việc làm của lao động sau khi bị thu hồi đất thì độ tuổi của
lao động có ảnh hưởng rất lớn đến tạo việc làm mới của lao động sau thu hồi đất.
O
̣C
Lao động từ 15-35 tuổi là những lao động có sức khỏe, có khả năng thích nghi với
̣I H
môi trường mới khi bị thu hồi đất. Họ có thể học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp,
hoặc tìm việc làm mới ở các môi trường làm việc thuận lợi. Độ tuổi từ 35 tuổi trở
Đ
A
lên, trong sản xuất nông nghiệp đây là lực lượng có kinh nghiệm, song khi bị thu
hồi đất thì đây là bộ phận có nguy cơ thất nghiệp kéo dài lớn nhất vì tuổi cao nên
khả năng được tuyển vào các doanh nghiệp rất ít và khó thích nghi với những công
việc mới. Trong khi đó ở độ tuổi này, số lao động chưa qua đào tạo rất lớn, việc
tham gia các khóa đào tạo chuyển đổi ngành nghề đối với họ cũng không dễ dàng
như đối với lao động trẻ. Số lao động này thực tế rất khó tìm việc làm mới. Một vấn
đề cũng rất đáng lưu ý là nhận thức của người lao động còn thụ động, ỷ lại vào
chính sách hỗ trợ của nhà nước, vào tiền đền bù mà không tự tìm cho mình cố gắng
vượt qua khó khăn tìm kiếm việc làm. Tâm lý chờ nhận sự ưu đãi từ Nhà nước và
H
chưa kịp chuẩn bị để chuyển đổi nghề nghiệp, mất việc làm. Đa số người lao động ở
IN
vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp có trình độ học vấn và tay nghề
K
thấp, chỉ mới học hết bậc tiểu học, số người lao động tốt nghiệp trung học cơ sở, phổ
thông trung học chiếm rất ít. Trong khi để có một nghề chắc chắn đáp ứng chỗ làm
O
̣C
việc trong các doanh nghiệp, phần lớn phải có trình độ từ phổ thông trung học, đa số
̣I H
họ cũng chưa qua lớp đào tạo nghề. Hiện nay, có nhiều ngành nghề cần lao động
nhưng với thực trạng thiếu lao động có trình độ học vấn và tay nghề nên không thể
Đ
A
tạo được việc làm mới để tăng thu nhập. Vì vậy, đòi hỏi người lao động thuộc diện bị
thu hồi đất phải có một trình độ học vấn và tay nghề mới có thể tìm được việc làm ổn
định mang lại thu nhập ổn định, góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống cho
1.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
́H
1.2.1. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về giải quyết việc làm và thu
Để giải quyết việc làm và thu nhập cho những người có đất thu hồi trong quá
H
trình phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa, Trung Quốc đã tập trung thực hiện
IN
một số biện pháp sau đây:
K
- Phát triển các doanh nghiệp địa phương để thu hút việc làm. Các doanh
nghiệp địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực lượng lao động dôi dư ở
O
̣C
nông thôn trong quá trình đô thị hóa. Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư và
̣I H
tham gia đầu tư cùng với đầu tư của tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp để thúc đẩy
U
phố đã gần như bão hòa. Sự phát triển các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn cùng với
́H
công nghiệp hóa nông thôn không chỉ là một giải pháp quan trọng đế thu hút lao
động dư thừa ở khu vực này mà còn góp phần tối đa hóa việc phân bổ các nguồn lực
TÊ
ở các khu vực và thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.
Trung Quốc đã đưa ra chính sách thúc đẩy hình thành các đô thị quy mô nhỏ
H
và vừa. Sự phát triển của các đô thị loại này có tác dụng thúc đẩy quá trình đô thị hóa
IN
các khu vực nông thôn và thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Tuy
K
nhiên, có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển của các đô thị nhỏ. Một số
người cho rằng việc phát triển đô thị mang lại những khó khăn nhiều hơn là thuận lợi,
̣C
nhưng ngược lại số khác lại coi việc phát triển những đô thị mới là một giải pháp cho
thị này đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động. Ví dụ, Sinh Ký, một đô thị mới ở
tỉnh Giang Tô, hay đô thị Long Cương ở tỉnh Chiết Giang, được thành lập ở vùng
nông thôn vào năm 1984. Chính vì vậy, chính phủ Trung Quốc đã tạo điều kiện để
Ế
hình thành hơn 19.000 đô thị nhỏ. Trong những năm 1990, các đô thị nhỏ đã thu hút
U
trên 30 triệu lao động nông nghiệp dư thừa, chiếm hơn 30% tổng số lao động nông
́H
thôn dư thừa.
TÊ
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là nước đất đai ít, dân số đông. Diện tích đất canh tác bình quân
H
của một hộ nông dân khoảng 0,8 ha. Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai
IN
nguyên thủy, có thể bán quyền sở hữu hoặc cho thuê quyền sử dụng đất cho dân để
23
bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn để tạo việc làm phi nông
nghiệp cho lao động nông thôn.
Chính phủ Nhật Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định thị trường
lao động ở tầm vĩ mô, nhưng để có thể tham gia được vào thị trường lao động thì bản
thân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề nghiệp của mình
thông qua việc tự đào tạo lại. Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi cũng
được chú trọng để xóa bỏ những bất cân đối về việc làm do tuổi tác gây ra.
Ế
Từ các chính sách và biện pháp nêu trên cho thấy vấn đề thu hồi đất nông
U
nghiệp cho phát triển công nghiệp và đô thị ở Nhật Bản không phải là lớn, người dân
́H
đã nhận thức được lợi ích hơn hẳn của việc phát triển công nghiệp và đô thị. Nhà
TÊ
nước đã chú trọng việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên cơ sở
nhu cầu lao động của xã hội; phát triển mạnh mẽ những ngành nghề ứng dụng nhiều
tiến bộ khoa học - công nghệ và những ngành nghề sử dụng nhiều lao động; phát triển
như: Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động ở những nơi chuyển đổi
mục đích sử dụng đất. Phát triển làng nghề truyền thống để thu hút lao động. Bắc Ninh
hiện có hơn 100 làng nghề trãi đều khắp các huyện như đồ gỗ Đồng Kỵ, Đông Mạc
(Từ Sơn); đúc đồng Đại Bái (Gia Bình); giấy dó Phong Khê (Yên Phong)... Làng nghề
Bắc Ninh đã thu hút hàng ngàn lao động, phần lớn là nông dân. Bởi vì ngành nghề
truyền thống phần lớn yêu cầu lao động thủ công, chịu khó, khéo tay. Lao động ở
24
những vùng bị thu hồi đất đại đa số chưa qua đào tạo. Vì vậy, đây là kênh giải quyết
việc làm tương đối hiệu quả đối với nông dân bị thu hồi đất. Đối với các cơ sở nghề
truyền thống tham gia dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất, tỉnh
có những chính sách ưu đãi như hỗ trợ về vốn, mặt bằng, thị trường tiêu thụ sản phẩm,
tạo điều kiện để các cơ sở yên tâm sản xuất.
Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện cho người lao động sau thu hồi đất chuyển sang
nghề phi nông nghiệp, tỉnh thực hiện cấp đất giãn dân và đất khu dân cư dịch vụ cho
Ế
nông dân chuyển sang làm dịch vụ quanh khu vực công nghiệp và khu đô thị với diện
U
tích bằng 10% diện tích đất bị thu hồi.
́H
Để khuyến khích và tạo điều kiện cho lao động trong các vùng thực hiện dự án
thu hồi đất đi xuất khẩu lao động, tỉnh đã có chính sách hỗ trợ học nghề, học tiếng, luật
Đ
A
Việt Trì là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh Phú Thọ, là địa bàn có
ý nghĩa chiến lược trong công tác quy hoạch của tỉnh Phú Thọ. Thành phố đang phấn
đấu xây dựng để trở thành đô thị loại I vào năm 2015. Vì vậy, công tác thu hồi đất, bồi
thường giải phóng mặt bằng, được thành phố đặc biệt quan tâm. Kinh nghiệm của
thành phố trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng là quan tâm đến việc làm và
thu nhập của người có đất thu hồi, thì sẽ tạo được sự đồng tình cao của người dân.
Thành phố đã và đang triển khai thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch
phát triển đô thị cả về không gian và kiến trúc. Các khu dân cư, khu đô thị mới, các
công trình hạ tầng về giao thông, y tế, văn hóa, giáo dục và các công trình phúc lợi xã
25