THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ tại bệnh viện tỉnh hải dương năm 2013 - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

HỒ THỊ NGA

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GIA LỘC,
TỈNH HẢI DƯƠNG, NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

HÀ NỘI, 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

HỒ THỊ NGA

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GIA LỘC,
TỈNH HẢI DƯƠNG, NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

TS. Phạm Đức Phúc


2.6.2. Nhóm biến số về các yếu tố liên quan .............................................. 29
2.6.3. Nhóm các biến số bổ trợ thu thập từ bộ câu hỏi phát vấn.............. 30
2.7. Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá ................................................................ 33


2.8. Phương pháp phân tích số liệu ................................................................ 35
2.9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .............................................................. 35
2.10.

Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục ................... 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 37
3.1. Thông tin chung về ĐTNC ......................................................................... 37
3.2. Thực trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc ............... 37
3.2.1. Thực trạng về văn bản hướng dẫn và dụng cụ phục vụ công tác quản
lý CTRYT ....................................................................................................... 38
3.2.2. Thực trạng phân loại CTRYT ............................................................. 40
3.2.3. Thực trạng thu gom CTRYT............................................................... 41
3.2.4. Thực trạng vận chuyển CTRYT ......................................................... 43
3.2.5. Thực trạng lưu giữ CTRYT ................................................................ 43
3.3. Các yếu tố liên quan đến thực trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện đa
khoa Gia Lộc ...................................................................................................... 44
3.3.1. Sự quan tâm của lãnh đạo ................................................................... 44
3.3.2. Quy định và văn bản hướng dẫn quản lý CTRYT ............................ 46
3.3.3. Cơ sở vật chất phục vụ quy trình quản lý CTRYT ........................... 48
3.3.4. Hiểu biết của NVYT về quản lý CTRYT ............................................ 49
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ..................................................................................... 55
4.1.Thực trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa huyện Gia Lộc........... 55
4.1.1. Thực trạng văn bản hướng dẫn và cơ sở vật chất phục vụ công tác
quản lý CTRYT. ............................................................................................. 55


Bộ Tài nguyên & Môi trường

BYT

Bộ Y tế

CSYT

Cơ sở y tế

CTR

Chất thải rắn

CTRYT

Chất thải rắn y tế

CTYT

Chất thải y tế

ĐTNC

Đối tượng nghiên cứu

ĐTPV

Đối tượng phỏng vấn


Tổ chức Y tế Thế giới

PLCTR

Phân loại chất thải rắn

TGCTR

Thu gom chất thải rắn

VCCTR

Vận chuyển chất thải rắn

LGCTR

Lưu giữ chất thải rắn


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Nhóm biến số thực trạng quản lý CTRYT thu thập được do quan sát ..... 26
Bảng 2.2. Nhóm biến số thực trạng quản lý CTRYT thu thập được do phỏng vấn
sâu ........................................................................................................................... 29
Bảng 2.3. Nhóm biến số định tính thu thập được từ phỏng vấn sâu ........................ 29
Bảng 2.4. Nhóm các biến số bổ trợ thu thập từ bộ câu hỏi phát vấn ........................ 30
Bảng 2.5. Phân loại các biến tổ hợp ........................................................................ 34
Bảng 2.7. Các biến đánh giá trên bảng kiểm ........................................................... 34
Biểu đồ 3.1: Nhóm tuổi của ĐTNC..........................................................................30
Biểu đồ 3.2: Nghề nghiệp của ĐTNC.......................................................................30

Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các khoa đều có dán các văn bản quy
định, phân công nhiệm vụ và hướng dẫn thực hiện công tác quản lý chất thải rắn y tế.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị như túi, thùng và hộp đựng vật sắc nhọn của các khoa
còn thiếu, chưa đồng bộ và đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế. Xe chuyên dụng
cho vận chuyển chất thải được trang bị đầy đủ, có đường đi riêng sạch sẽ, hệ thống
kho lưu giữ tập trung đủ điều kiện theo tiêu chuẩn. 100% các đối tượng nghiên cứu
có điểm thực hành phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải đạt loại khá trở lên
(đạt trên 50% số điểm), tỷ lệ đạt loại tốt tương đối cao. Các chất thải được phân loại
ngay tại nguồn phát sinh, thu gom và vận chuyển bằng xe chuyên dụng đủ tần suất
và đạt tiêu chuẩn về thời gian lưu giữ (dưới 24 giờ tại khoa và dưới 48 giờ tại kho
lưu giữ, dưới 24 giờ với chất thải giải phẫu).
Sự quan tâm của lãnh đạo được coi là yếu tố quan trọng nhất có tác động đến
hoạt động quản lý chất thải rắn y tế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và các chính sách,
văn bản quy định trong bệnh viện cũng được đánh giá là một số yếu tố liên quan
đến thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải. Có mối liên
quan giữa kiến thức và thực hành phân loại chất thải rắn y tế. Các đối tượng có điểm
kiến thức phân loại thấp hơn có xu hướng có điểm thực hành phân loại chất thải rắn
thấp hơn.


Kết quả nghiên cứu này cho thấy để thực hiện quy trình quản lý chất thải rắn
tốt hơn cần phải trang bị đầy đủ hơn nữa dụng cụ, trang thiết bị phục vụ công tác
phân loại, thu gom chất thải rắn, đặc biệt là hộp đựng vật sắc nhọn. Tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát các khâu trong quy trình quản lý chất thải rắn y tế. Tăng
nguồn kinh phí chi cho hoạt động quản lý chất thải rắn y tế, tăng cường công tác đào
tạo, tập huấn kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế và phát huy hơn nữa vai trò của
khoa Kiểm soát nhiếm khuẩn.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thời gian qua, tại các cơ sở khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh viện có thực
hiện phân loại CTR y tế là 95,6% và thu gom CTR y tế hàng ngày là 90,9%.
Phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà
chứa rác, còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của
Quy chế quản lý chất thải y tế. Chỉ có 50% các bệnh viện phân loại, thu gom CTR y
tế đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý chất thải y tế[9].
Bệnh viện đa khoa Gia Lộc là bệnh viện hạng III trực thuộc Sở Y tế Hải
Dương. Bệnh viện có quy mô 150 giường kế hoạch, công suất sử dụng giường bệnh
trung bình hàng năm là 100%[2]. Trong quá trình hoạt động, số lượng chất thải
trung bình hàng tháng của bệnh viện là trên 5.000kg, trong đó số lượng chất thải lây
nhiễm và độc hại là khoảng 400kg[3]. Cũng như nhiều bệnh viện tuyến huyện khác,
cơ sở vật chất của bệnh viện đa khoa Gia Lộc còn nhiều hạn chế, kinh phí hoạt động
nói chung và kinh phí cho quản lý chất thải nói riêng còn thiếu. Chính vì vậy công
tác quản lý chất thải còn gặp nhiều khó khăn. Để đánh giá đúng thực trạng quản lý
CTR y tế của bệnh viện như thế nào? Có đáp ứng được các yêu cầu quy định tại
quyết định 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế được ban hành ngày 30 tháng 11 năm
2007 không? Kiến thức và thực hành của nhân viên y tế như thế nào? Những yếu tố
ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải của bệnh viện ra sao? Chúng tôi thực
hiện đề tài đánh giá “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên
quan tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, năm 2013”.


MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.

Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y

tế tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, năm 2013.
2.


khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe của con người và môi trường.
1.1.2. Phân loại CTYT
Theo quy chế quản lý CTYT được Bộ Y tế quy định tại quyết định
43/2007/QĐ-BYT ban hành ngày 30/11/2007, chất thải trong các cơ sở y tế được
chia thành 5 loại:
-

Chất thải lây nhiễm:

+ Chất thải sắc nhọn (loại A): là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,


lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn
khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế.
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
+ Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
-

Chất thải hóa học nguy hại:

+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính
thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
+ Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy

1.1.3. Những nguy cơ của CTRYT đối với sức khỏe
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương
tích. Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong
hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn.
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể
thông qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niêm mạc; đường hô
hấp; đường tiêu hóa. Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng sinh và kháng hóa
chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn.
Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết
thương nếu chúng bị nhiễm bẩn. Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp
nhất trong cơ sở y tế.
Năm 2012, số NVYT bị tai nạn nghề nghiệp do vật sắc nhọn là 64,8%. Trong
đó điều dưỡng có tần suất bị tổn thương cao nhất (19/100 người/năm). Số trường
hợp xảy ra khi tiến hành vứt bỏ và thu gom rác thải là 8.8%. Tỷ lệ mới mắc viêm
gan B do vật sắc nhọn ở NVYT nói chung là 50 ca/100.000 người/năm; ở điều
dưỡng là 65 ca/100.000 người/năm. Tỷ lệ mới mắc HIV do vật sắc nhọn ở NVYT
nói chung là 0,2 ca/100.000 người/năm; ở điều dưỡng là 0,3 ca/100.000
người/năm[21].
1.1.4. Nguy cơ của CTRYT đối với môi trường
Các CTRYT nếu không được quản lý tốt có thể gây ô nhiễm không khí, ô
nhiễm đất và nước. Ô nhiễm không khí gây ra do mùi và các chất bay hơi từ khu
vực lưu giữ chất thải, đặc biệt là khói phát sinh từ các lò thiêu đốt chất thải.
Ô nhiễm nguồn nước do các hóa chất và sinh vật rò rỉ từ khu vực lưu giữ
chất thải và nước rửa từ các lò thiêu đốt chất thải. Các hóa chất độc hại như kim loại
nặng, chất phóng xạ, chất gây tổn thương tế bào, chất gây ung thư, chất gây dị ứng
có thể rơi vào nguồn nước, hậu quả là các nguồn nước bị ô nhiễm[1].


Ô nhiễm đất có thể xảy ra bởi các hóa chất độc, chất phóng xạ và mầm bệnh
chứa trong CTYT và nguồn nước bị ô nhiễm do CTRYT ngấm vào đất.

+ Công nghệ chôn lấp: chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí vận hành rẻ
nhưng chỉ khi được phép và đảm bảo điều kiện tự nhiên như diện tích rộng, đặc
điểm thổ nhưỡng, đặc điểm nguồn nước ngầm, xa khu dân cư…


+ Cố định chất thải: cố định chất thải cùng với chất cố định như: xi măng,
vôi. Thông thường hỗn hợp gồm chất thải y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng
15%, nước 5% được trộn nén thành khối.
1.2.

Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới,

đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada… các công
trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực quản lý chất thải y tế như: biện pháp
giảm thiểu chất thải, tái sử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả
của các biện pháp xử lý…, tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, biện pháp
giảm thiểu tác hại của chất thải y tế và phòng chống tác hại của rác thải y tế đối với
sức khỏe cộng đồng…
Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật
cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải
của riêng mình. Nhật bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn với
hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sỹ (33%), Singapore chỉ sử dụng phương
pháp đốt, Pháp sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%)… các nước sử
dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn
là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%), Liên Bang Nga (80%). Tây ban nha(80%)[16].
Khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụ
thuộc yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện, lượng
bệnh nhân khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực, phương pháp,
thói quen của nhân viên y tế trong việc khám điều trị, chăm sóc, số lượng người nhà

chuyển đi từ 1-7 ngày. Thời gian này đủ để quá trình phân hủy chất thải diễn ra và
gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam.
Thêm nữa, với sự tham gia của chuột, bọ, côn trùng và người bới chất thải đã làm
tăng khả năng lây nhiễm, gây mất vệ sinh ngay tại bệnh viện và môi trường sống
xung quanh.
Nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những
nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn rất hạn chế do công tác giáo dục,
tuyên truyền chưa được trú trọng đúng mức. Hiện tượng dân vào bới các loại chất
thải tại các khu vực lưu giữ chất thải của bệnh viện để thu nhặt ống nhựa, kim tiêm,
găng tay phẫu thuật… để tái chế sử dụng lại diễn ra ở một số nơi là do thiếu quản lý
chặt chẽ và chưa có quy trình xử lý chất thải triệt để.
Một đánh giá về tình hình quản lý chất thải y tế trên địa bàn huyện Long
Thành năm 2010 cho thấy chỉ có 54,4% nhân viên y tế có kiến thức chung đúng,


51,6% nhân viên y tế có thái độ chung đúng, 46,0% nhân viên y tế có hành vi
đúng[12].
Kết quả quan trắc thực trang môi trường y tế khu vực miền trung Tây Nguyên
năm 2008 cho thấy chỉ có 25 % các đơn vị được quan trắc có hệ thống xử lý nước thải
họat động, không đơn vị nào có lò đốt rác thải họat động[7].
Năm 2006, Trần Thị Minh Tâm và cộng sự nghiên cứu sự hiểu biết về quản
lý, xử lý chất thải y tế của cán bộ, NVYT tại 11 bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương.
Kết quả cho thấy: tỷ lệ cán bộ NVYT biết về quy định màu sắc các vệt dụng dựng
chất thải, phân loại đúng năm nhóm chất thải y tế và biết cách xử lý chất thải y tế ở
nhóm bệnh viện chưa xử lý chất thải không cao, tỷ lệ này có sự khác biệt với các
bệnh viện đã xử lý chất thải[14].
Từ tháng 03/ 2009 đến 12/2009 nghiên cứu về thu gom, phân loại chất thải y
tế tại 195 nhóm làm việc của 6 bệnh viện trong phạm vi thành phố Nam Định cho
kết quả: tất cả số nhóm của các bệnh viện chưa sử dụng đủ mã màu. 100% số nhóm
của các bệnh viện sử dụng túi đựng chất thải đúng tiêu chuẩn. Tỷ lệ 100% các nhóm

Hàng năm bệnh viện cũng tiến hành lấy mẫu nước kiểm tra trong chương trình giám
sát môi trường định kỳ theo quy định. Từ năm 2007 đến nay bệnh viện đã rất chú
trọng đầu tư cho công tác quản lý CTRYT, mua sắm trang thiết bị và xây dựng kho
lưu giữ, làm đường đi riêng để công tác vận chuyển CTR thuận lợi, hợp vệ sinh
hơn. Các dụng cụ thu gom, chứa đựng rác cũng được trang bị đầy đủ hơn trước, tuy
chưa đáp ứng được yêu cầu về đa dạng màu sắc. Bệnh viện cũng đã được trang bị lò
đốt rác công nghệ Nhật Bản, xử lý rác thải một cách an toàn và hiệu quả. Bên cạnh
đó, bệnh viện cũng hợp tác với đơn vị vệ sinh môi trường của thị trấn Gia Lộc trong
việc vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt của bệnh viện.
Cũng như nhiều bệnh viện tuyến huyện khác, cơ sở vật chất của bệnh viện đa
khoa Gia Lộc còn nhiều hạn chế, kinh phí hoạt động nói chung và kinh phí cho
quản lý chất thải nói riêng còn thiếu. Chính vì vậy công tác quản lý chất thải còn
gặp nhiều khó khăn. Qua phỏng vấn đồng chí Giám đốc bệnh viện Gia Lộc, khoa
Kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện mới được thành lập và đi vào hoạt động vào
tháng 9 năm 2010. Từ đó đến nay chưa có một đánh giá nào về hoạt động của khoa
nói chung cũng như hoạt động quản lý chất thải rắn y tế nói riêng. Như vậy nghiên


cứu của chúng tôi sẽ mô tả thực trạng về quản lý chất thải rắn y tế trong bệnh viện
và một số yếu tố liên quan; từ đó sẽ đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện việc
thực hành quản lý chất thải rắn y tế, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và vệ sinh
môi trường.


Khung lý thuyết

Cơ sở vật chất
Trang thiết bị thu
gom, vận chuyển
(túi, thùng, xe,…)

huấn
Phối hợp với đồng
nghiệp



CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.

Đối tượng nghiên cứu
-

Lãnh đạo quản lý bệnh viện, trưởng các khoa phòng chuyên môn và

chức năng trong bệnh viện, bao gồm trưởng khoa KSNK, trưởng phòng Điều
dưỡng, điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng.
-

Các nội qui, qui định, văn bản hướng dẫn liên quan đến quản lý chất

thải bệnh viện.
-

Cơ sở vật chất trang thiết bị quản lý chất thải gồm: dụng cụ phân loại,

thu gom, phương tiện vận chuyển, khu vực lưu giữ chất thải y tế.
-

Nhân viên y tế trực tiếp, tham gia chủ yếu vào hoạt động phân loại,



Phỏng vấn người quan trọng với các đối tượng là lãnh đạo bệnh viện,

các trưởng khoa chuyên môn và chức năng của bệnh viện.
-

Cỡ mẫu cho phỏng vấn sâu được thực hiện với các đối tượng được

chọn có chủ đích bao gồm: trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, trưởng phòng điều
dưỡng, ba điều dưỡng trưởng khoa đại diện và 02 điều dưỡng viên, 01 hộ sinh viên,
03 hộ lý.


2.4.2.

Cỡ mẫu định lượng
-

Cỡ mẫu cho phát vấn bao gồm toàn bộ điều dưỡng, nữ hộ sinh và hộ

lý tại 8 khoa lâm sàng có mặt tại thời điểm nghiên cứu, tổng cỡ mẫu là 81.
-

Cỡ mẫu cho quan sát thực hành phân loại rác thải của NVYT bao gồm

tất cả điều dưỡng và nữ hộ sinh tại 8 khoa lâm sàng có mặt tại thời điểm nghiên
cứu, tổng số là 64.
Đối với các bệnh viện tuyến huyện, tiêm là hoạt động được các NVYT thực
hiện thường xuyên nhất, phát sinh nhiều loại rác thải khác nhau cần phân loại như
vỏ bao, ống thuốc tiêm, bông, bơm kim tiêm, găng tay… Vì vậy thông qua việc


2.5.1. Thu thập thông tin thứ cấp
Các tài liệu liên quan đến nội qui, qui định, văn bản hướng dẫn liên quan đến
quản lý CTYT, hoặc các thông tư, nghị định liên quan đến vấn đề quản lý CTRYT.
Sổ sách ghi chép giao ban định kỳ hàng tháng, hàng quí của bệnh viện.


Xem xét sổ sách theo dõi việc thực hiện quản lý rác thải tại bệnh viện; thu thập
các báo cáo tổng kết và kế hoạch các năm của bệnh viện.
Thu thập thông tin sơ cấp

2.5.2.

*Phỏng vấn người quan trọng bằng các câu hỏi mở nhằm nắm bắt được các
nội qui, qui định, văn bản hướng dẫn và sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện về
quản lý chất thải bệnh viện nói chung và chất thải rắn y tế nói riêng.
*Phỏng vấn sâu các đối tượng được lựa chọn có chủ đích bằng bộ câu hỏi
hướng dẫn phỏng vấn sâu nhằm làm rõ hơn về một số yếu tố liên quan đến vấn đề
quản lý CTRYT.
Điều tra viên xin ý kiến chấp thuận tham gia nghiên cứu của đối tượng
nghiên cứu, thực hiện phỏng vấn đối tượng nghiên cứu dựa vào hướng dẫn phỏng
vấn sâu. Công cụ hỗ trợ bao gồm: giấy, bút, máy ghi âm…
*Quan sát thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải.
-

Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải

được thực hiện bằng phương pháp quan sát (không tham dự) điền vào bảng kiểm.
Nội dung bảng kiểm được xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá của quy chế quản
lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status