Đại học Quốc gia Hà Nội
Khoa S- phạm
Nguyễn Minh đức
đổi mới quản lý công tác sinh viên
ở Tr-ờng Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia hà nội
trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ
luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số
: 60 14 05
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Bá Lãm
Hà nội 2008
đại học quốc gia hà nội
Khoa s- phạm
Nguyễn minh đức
đổi mới quản lý công tác sinh viên
ở tr-ờng đại học kinh tế - đại học quốc gia hà nội
Trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ
Tóm tắt luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
1. Lý do chọn đề tài
Công tác sinh viên trong nhà trường là một mảng công việc khá lớn trong
hoạt động của một nhà trường, với chức năng cơ bản là tổ chức, quản lý, giáo dục
và hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập tại nhà trường, đó là một mảng việc
không thể thiếu được trong hoạt động đào tạo nói chung của một nhà trường.
Việt Nam gia nhập WTO, một dấu mốc quan trọng trong sự hội nhập toàn diện
của nước ta với thế giới đang trong xu thế toàn cầu hoá. Trong bối cảnh đó nền giáo
dục Việt Nam nói chung, đặc biệt là giáo dục đại học đang đứng trước những thách
thức mới của hội nhập, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, chuyển đổi phương thức
đào tạo đáp ứng những chuẩn chung của thế giới.
Từ trước khi Việt Nam gia nhập WTO, để chuẩn bị cho sự hội nhập, để giáo
dục nước ta có thể thích ứng với xu thế và phương thức đào tạo tiên tiến của thế
giới, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chủ trương về đổi mới giáo dục
đại học.
Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống giáo dục đại học nước ta và hội nhập
với giáo dục đại học thế giới, trong những năm gần đây Nhà nước đã đưa ra chủ
trương mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học. Trong
“Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2010” được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 47/2001/QĐ-TTg có nêu: các trường
cần “thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ chức quy trình
đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ.” Trong “Báo cáo về Tình hình Giáo
dục” của Chính phủ trước kỳ họp Quốc hội tháng 10 năm 2004 lại khẳng định
mạnh mẽ hơn: “Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng học chế tín chỉ ở các trường đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ngay từ năm học 2005-2006,
phấn đấu để đến năm 2010 hầu hết các trường đại học, cao đẳng đều áp dụng hình
thức tổ chức đào tạo này”.
Như vậy để thực hiện được các chủ trương của Nhà nước về mở rộng học
của việc học là “học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm
người”, nhằm hướng tới xây dựng một “xã hội học tập”. Giáo dục đại học thế giới
phát triển rất nhanh chóng với những xu hướng biểu hiện rõ rệt : đại chúng hoá,
thị trường hoá, đa dạng hoá, và quốc tế hoá.”
Trong Điều lệ trường đại học (Ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐTTg ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ) cũng đã xác định :
“Trường đại học dựa trên chương trình đào tạo của hệ chính quy, thiết kế các
chương trình chuyển đổi và quy định về liên thông giữa các trình độ, hình thức tổ
chức đào tạo và với các cơ sở đào tạo khác; áp dụng quy trình đào tạo linh hoạt;
từng bước chuyển quy trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ,
thực hiện chế độ cho học và thi lấy chứng chỉ theo từng học phần tạo thuận lợi cho
người học tích luỹ kiến thức và thực hiện bình đẳng về cơ hội học tập hoặc chuyển
đổi nghề nghiệp cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người ở nông thôn,
miền núi, vùng sâu, vùng xa.”
Ngay từ năm 2001, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số
31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra,
thi và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ.
Trong Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học (ban hành
theo Quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 2/12/2004 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo) tại Tiêu chuẩn 4, tiêu chí 2 cũng đã đề ra : "Thực hiện chế
độ công nhận kết quả học tập của người học (tích luỹ theo học phần); chuyển quy
trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ".
Mức 1: Thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo từng học phần. Có kế
hoạch tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ.
Mức 2: Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đi vào ổn định.”
Thực hiện chủ trương đó của Đảng và Nhà nước, ĐHQG Hà Nội cũng đã có
những chủ trương được thể hiện ở Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết
của Đảng uỷ ĐHQGHN về lộ trình đưa chất lượng đào tạo đạt chuẩn khu vực, từng
bước đạt chuẩn quốc tế, ban hành theo quyết định số 192/ĐT ngày 10/7/2003 của
Trường Đại học Kinh tế được thành lập trên cơ sở Khoa Kinh tế là một đơn
vị được tách từ trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN từ tháng
7/1999 thành một đơn vị trực thuộc ĐHQGHN có chức năng gần như một trường.
Từ một đơn vị trong trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn chỉ có chức
năng đào tạo, trở thành một đơn vị với chức năng gần như một nhà trường độc lập,
Khoa Kinh tế đã hình thành một bộ máy quản lý mới tương ứng với chức năng của
mình. Trong đó bộ phận CTSV được hình thành và hoạt động theo mô hình của các
đơn vị trong ĐHQGHN, hoạt động theo hướng đáp ứng cho phương thức đào tạo
theo niên chế.
Hiện nay, cùng với việc chuyển đổi về tổ chức và quy mô, theo chỉ đạo của
Bộ Giáo dục và Đào tạo và Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường ĐH Kinh tế cũng
đang thực hiện việc triển khai chuyển đổi phương thức đào tạo từ học chế niên chế
sang học chế tín chỉ, đòi hỏi hoạt động của bộ phận CTSV cũng phải đổi mới về
mặt tổ chức và hoạt động cho phù hợp để đáp ứng được yêu cầu của phương thức
đào tạo mới.
Trường Đại học Kinh tế mới được thành lập, với chủ trương xây dựng một bộ
máy hành chính gọn nhẹ có hiệu quả cao, phù hợp với phương thức đào tạo tín chỉ,
trong đó có bộ phận CTSV. Vì vậy vấn đề quản lý hoạt động CTSV của Trường Đại
học Kinh tế cần được nghiên cứu để tìm ra các giải pháp tổ chức quản lý hiệu quả,
đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong thời gian tới.
Ở nước ta, đây là một vấn đề còn rất mới mẻ, hiện nay đã có một số trường
đại học đã thực hiện đào tạo theo tín chỉ song mô hình hoạt động CTSV vẫn đang
trong giai đoạn tìm tòi, chuyển đổi, thử nghiệm. Trước những đòi hỏi và tình hình
như vậy vấn đề đổi mới mô hình, nội dung hoạt động CTSV cho phù hợp với
phương thức đào tạo mới, đồng bộ với các hoạt động khác của Trường ĐH Kinh tế
là một vấn đề cần được nghiên cứu, góp phần để nhà trường thực hiện chuyển đổi
thành công phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ.
Là một cán bộ làm CTSV của Trường ĐH Kinh tế, trước yêu cầu thực tế đặt
Trường ĐH Kinh tế như hiện nay sẽ không còn thích hợp. Nếu có những giải pháp
đổi mới hợp lý trong quản lý CTSV thì sẽ làm cho hoạt động này phát huy tác
dụng trong học chế mới đó.
6. Đóng góp về mặt khoa học
6.1. Về lý luận
Hệ thống hóa lý luận cơ bản về các vấn đề
- Hoạt động quản lý và quản lý giáo dục
- CTSV trong nhà trường đại học.
- Đào tạo đại học theo học chế tín chỉ.
- CTSV trong học chế tín chỉ.
6.2. Về thực tiễn
Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động CTSV của Trường, tổng kết kinh
nghiệm từ một số trường đại học, những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, từ đó đề xuất
một số giải pháp đổi mới quản lý CTSV ở Trường ĐH Kinh tế ĐHQGHN trong
bối cảnh chuyển đổi đào tạo từ niên chế sang tín chỉ.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp chính sau.
- Nghiên cứu tài liệu: phân tích, hệ thống, khái quát hóa tài liệu.
- Khảo sát thực tế.
- Tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp chuyên gia.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Các văn bản pháp quy
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
trường đại học, ban hành theo quyết định số: 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công
nhận tốt nghiệp đại học và cao đẳng hệ chính quy, ban hành theo quyết đinh số
04/1999/QĐ-BGD-ĐT ngày 11/2/1999.
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy,
ban hành theo quyết định số 25/2006/QĐ-BGD-ĐT ngày 26/6/2006.
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy
theo hệ thống tín chỉ, ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày
15/9/2007.
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tài liệu Hội thảo CTHSSV ở nước ngoài (Tập hợp
các báo cáo của các đoàn khảo sát, tiếp cận, trao đổi, học tập các trường đại học
và các cơ sở quản lý giáo dục ở Hàn quốc, Malaysia, Ôxtrâylia, Singapore, Trung
Quốc, Thái Lan). Tháng 4/2007.
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh. Nghị quyết liên tịch về tăng cường công tác HSSV và xây dựng Đoàn, Hội,
Đội trong trường học giai đoạn 2003-2007, số 10/2003/NQ-BGDĐT-TWĐ ngày
17/3/2003.
17. Chính phủ. Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003.
18. Chính phủ. Nghị quyết về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt
Nam giai đoạn 2006-2020, số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005.
19. Chính phủ. Điều lệ trường đại học, Ban hành theo Quyết định số
153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003.
20. Chính phủ. Quy chế Tổ chức và Hoạt động của Đại học Quốc gia, ban hành
theo Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg, ngày 12/2/2001.
21. Chính phủ. Quyết định thành lập trường Đại học Kinh tế ĐHQGHN trên cơ
sở Khoa Kinh tế ĐHQGHN, số 290/QĐ-TTg ngày 06/3/2007.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam . Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
trong Trường ĐH Kinh tế, ban hành theo quyết định số 1156/ĐHKT/QĐ-TCCB
ngày 29/10/2007.
* Các tác giả
37. Nguyễn Quốc Chí. Bài giảng Lý luận quản lý giáo dục, 2004.
38. Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Bài giảng Cơ sở khoa học quản lý,
2004.
39. Vũ Cao Đàm. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học Kỹ
thuật, 2005.
40. Phạm Minh Hạc. Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, NXB
Chính trị quốc gia Hà Nội, 1999.
41. Lâm Quang Thiệp. Bài viết “Về việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và
ở Việt Nam” cho Toạ đàm về đào tạo theo tín chỉ ở ĐHQGHN, 4/2006.
42. Phạm Viết Vượng. Giáo dục học, NXB ĐHQGHN, 2000.
* Các nguồn cung cấp thông tin và tài kiệu khác
43. Trang Web của ĐHQGHN
44.
Trang
Web
của
Trường
Đại
học