CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cửa là một phần không thể thiếu trong ngôi nhà hoặc một công
trình kiến trúc bất kỳ nào, dù công trình kiến trúc đó to hay nhỏ thì cửa cũng là
thiết bị không thể không có.
Nhưng, vấn đề mà mọi người sử dụng cửa loại gì, như thế nào? và có hài
lòng với sản phẩm cửa mình đang sài hay không lại là một vấn đề hoàn toàn
khác. Có rất nhiều lựa chọn về các loại cửa cho công trình kiến trúc dân dụng và
công nghiệp như : cửa gỗ, cửa sắt panô, cửa kính, cửa kéo sắt, cửa nhôm, cửa
nhựa, cửa cuốn… Tuy nhiên mỗi loại cửa lại mang 1 nhiệm vụ và sứ mệnh khác
nhau. Nó tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng của từng tổ chức, cơ quan hoặc cá nhân.
Sự canh tranh trên thị trường diễn ra ngày càng gay gắt, các mặt hàng cạnh
tranh với nhau rất quyết liệt, Mặt hàng nào cũng đều muốn có nhiều khách hàng
nhất. Trong hoàn cảnh này, mặt hàng nào có được sự ủng hộ của người tiêu dùng
sẽ giành được thắng lợi trong cuộc chiến khốc liệt này.
Chính vì vậy, việc xây dựng chất lượng, tính năng, dịch vụ về một loại sản
phẩm mới là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp kinh doanh các loại mặt
hàng mới này, nó sẽ giúp doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn và hoàn hảo hơn, đem
lại sự thành công cho doanh nghiệp.
Cửa cuốn là một sản phẩm mới xuất hiện khoảng hơn 1 thập kỷ qua. Tuy
nhiên, với những đặc điểm về tính năng, giá thành, thẩm mỹ, chất lượng… thì
cửa cuốn đã trở thành 1 phần không thể thiếu trong các công trình kiến trúc tại
khu vực Tp.HCM. Nơi có dân số và nhà cửa, cơ quan xí nghiệp dày đặc đồng
thời là khu vực nhiều tệ nạn xã hội . Vì vậy nhu cầu sử dụng cửa cuốn tại
Tp.HCM là rất cần thiết.
1
Nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định sử dụng cửa cuốn của Công ty TNHH SX-TM-DV Cửa Hưng Thịnh ”
sao?
Các hãng sản xuất cũng như các nhà cung cấp cần làm gì để nâng cao hiệu quả
kinh doanh?
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
2
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng cửa cuốn
-
Đối tượng sẽ khảo sát trong nghiên cứu:
Hộ gia đình, cơ quan, nhà máy đã sử dụng và sẽ sử dụng cửa cuốn của công
ty TNHH Cửa Hưng Thịnh tại khu vực Tp.HCM.
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu đề tài này chỉ giới hạn tại Thành phố Hồ Chí Minh.
1.3.4 Về thời gian:
Tác giả đi khảo sát thực tế để thu thập dữ liệu trong tháng 9 năm 2015
3
thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn người dân khi họ sử dụng
cửa cuốn thông qua bảng câu hỏi khảo sát.
-
Hình thức: Trả lời qua bảng câu hỏi khảo sát được xây dựng từ nghiên cứu
định tính
-
Quy mô mẫu: 208 người tiêu dùng đã và đang có ý định sử dụng “cửa cuốn”
trong khu vực Tp.HCM.
-
Phương pháp chọn mẫu và cách chọn mẫu: phương pháp phi xác suất, bất kỳ
người tiêu dùng nào đã và đang có ý định sử dụng “cửa cuốn” trong khu vực
Tp.HCM đều được chọn làm mẫu. Tác giả đang công tác tại công ty chuyên kinh
doanh cửa cuốn vì vậy trong công ty có rất nhiều khách hàng đã sử dụng và đang
mua cửa cuốn hàng ngày của công ty. Do đó tác giả có nhờ nhân viên trong công ty
vừa đi bán hàng hoặc đi bảo hành, bảo trì các sản phẩm của công ty khảo sát giùm.
Cộng thêm một số bạn bè tác giả và tác giả khảo sát tại các nhà dân, cơ quan có sử
dụng cửa cuốn.
Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS . Thang
đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá
-
Các nhà sản xuất cũng như đại lý phân phối có thể rút ra từ nghiên cứu
những thông tin hữu ích để xây dựng các chương trình tiếp thị phù hợp, đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của họ,
giành thị phần trên thị trường
-
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu khác có thể dựa vào kết quả nghiên cứu này để
làm tài liệu tham khảo tiến hành các dự án về hành vi tiêu dùng cũng như quyết
định tiêu dùng đối với sản phẩm tương tự trong các lĩnh vực khác.
1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu
Luận văn được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1 : Mở Đầu
Trình bày tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu
Chương 2: Cơ Sở Lý Thuyết
Cơ sở khoa học và lý luận
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp và mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Thực hiện và phân tích nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và các kiến nghị
5
Tập trung kết luận, kiến nghị và khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực
tiễn.
Cửa là một cấu trúc di chuyển được sử dụng để mở hay đóng một lối vào.
Cửa thường di chuyển xoay quanh một trục (trụ hay cột) và có một bản lề để thay
7
đổi vị trí của các cánh cửa hoặc có thể trượt hoặc xoay bên trong của một không
gian nhất định. Khi mở cửa, công trình (tòa nhà, ngôi nhà...) có thể đón gió và ánh
sáng. Cửa đóng lại tạo sự tách biệt tương đối với không gian bên ngoài, chống ánh
nắng, giảm bớt tiếng ồn, có tác dụng bảo vệ, chống trộm cắp...
Ngoài ra, cửa quan trọng trong việc ngăn ngừa sự lây lan của đám cháy. Cửa
là một trong những bộ phận gắn liền với ngôi nhà, nó cũng là một trong những nét
nhấn, tạo thẩm mỹ cho ngôi nhà. Cửa có thể được bố trí từ các phía của ngôi nhà,
tòa nhà nhưng thường là ở mặt trước (cửa chính, cửa cái) và cũng được bố trí để
ngăn cách giữa các phòng trong một tòa nhà. Các cánh cửa thường được lắp
các chốt, khóa. Cửa có thể làm bằng nhiều loại vật liệu từ tranh, tre, nứa, lá cho
đến gỗ, sắt, thép, nhựa,kính....
2.1.3 Khái niệm cửa cuốn
Cửa cuốn là loại cửa có thể cuộn lên xuống, được nhiều gia đình ưa thích sử
dụng bởi tính thẩm mỹ và an ninh. Cửa có trục cuốn hình tròn, lá cửa (thân cửa) và
ray dẫn hướng. Vận hành theo cách quấn tròn lại trên cao. Hoạt động bằng động cơ
hoặc bằng tay.
Một số thương hiệu cửa cuốn uy tín trên thị trường
-
Thương hiệu cửa cuốn Austdoor của tập đoàn Austdoor
-
Thương hiệu Mitadoor của Công ty TNHH Cửa Minh Tâm
người tiêu dùng được nhà nước quản lý thông qua hệ thống tem phiếu.
9
Kể từ thời kỳ đổi mới, khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang cơ chế thị trường, đã xuất hiện quan hệ mua bán, giao dịch giữa một bên
là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ với một bên là người bỏ tiền ra
mua hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình
và tổ chức (được gọi chung là người tiêu dùng) và vai trò của người tiêu dùng ngày
càng được nâng cao.
Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đã được đặt ra và
quyền lới người tiêu dùng được xác định bằng các văn bản pháp lý như : Pháp lệnh
bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng với sự tham gia của các tổ chức như Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) – cơ quan chịu
trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong phạm vi cả nước, Tổng cục Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng,
Chi cục tại các tỉnh, thành phố, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng
(VINASTAS) cùng mạng lưới các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường và các
Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở các địa phương.
Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 là bước đi đầu tiên trong
việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng đã bộc lộ những hạn chế và bất cập như tính khả thi của Pháp lệnh
và Nghị định hướng dẫn chưa cao, nhiều quy định khá chung chung khó thực thi;
một số điểm chưa mang tính cập nhật hoặc chưa bao quát được những vấn đề liên
quan đến tự do hoá thương mại và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,
đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO; chưa có các
chế tài đủ mạnh cho cơ quan bảo vệ người tiêu dùng (Luật pháp các nước như Mỹ,
Ma-lai-xi-a, Ấn Độ… đều trao thẩm quyền xử phạt cho cơ quan bảo vệ người tiêu
dùng) và chưa có quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về bảo vệ
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung
11
khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng
cáo hoặc cam kết.
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền
lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan.
- Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ.
2.1.5.3 Nghĩa vụ của người tiêu dùng
- Kiểm tra hàng hoá trước khi nhận; lựa chọn tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ có nguồn
gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ
tục và đạo đức xã hội, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của mình và của
người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hướng dẫn sử dụng hàng hoá, dịch vụ.
- Thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng
hoá, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe
doạ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp
pháp của người tiêu dùng.
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Hành vi tiêu dùng:
Hành vi người tiêu dùng phản ánh toàn bộ những quyết định của họ về mua,
tiêu dùng và sau khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng (Consumer Behavior,
Hoyer, Maclnnis, Pieters, 6th Edition).
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, hành vi tiêu dùng chính là sự tác động qua
lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con
người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hay nói cách
khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có
marketing
khác
người mua
quyết định
người mua
- Sản phẩm
- Kinh tế
- Văn hóa
- Nhận thức
- Chọn sản phẩm
- Giá
- Công nghệ
- Xã hội
vấn đề
- Địa điểm
nghệ, chính trị, văn hóa tác động trực tiếp đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng
(văn hóa, xã hội, tâm lý, cá tính). Từ đó ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định cũng
như quyết định mua sắm của họ. Hành vi khách hàng là những hành vi có thể quan
sát được như số lượng đã mua sắm, mua khi nào, mua với ai, những sản phẩm đã
mua được dùng như thế nào; những hành vi không thể quan sát được như những giá
trị của khách hàng, những nhu cầu và sự nhận thức của cá nhân, những thông tin gì
người tiêu dùng đã ghi nhớ, họ thu thập và xử lý thông tin như thế nào...
Tóm lại, hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực
hiện các quyết định mua sắm, sử dụng hay vứt bỏ sản phẩm và dịch vụ. Hành vi tiêu
dùng là năng động và tương tác vì nó chịu tác động bởi những yếu tố từ môi trường
bên ngoài và có sự tác động trở lại đối với môi trường ấy. Hành vi tiêu dùng bao
gồm các hoạt động: mua sắm, sử dụng và xử lý sản phẩm, dịch vụ.
2.2.2 Quá trình ra quyết định mua hàng:
Nhận biết
nhu cầu
Tìm kiếm
thông tin
Đánh giá các
lựa chọn
Quyết định
mua hàng
Hành vi
sau mua
Hình 2.3: Quá trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng
(Nguồn: Philip Kotler, Marketing Management, tr. 98)
Nguồn thông tin cá nhân: Gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen.
Nguồn thông tin thương mai: Quảng cáo, nhân viên bán hàng, đại lý, bao
bì, triển lãm.
Nguồn thông tin công cộng: Các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ
chức nghiên cứu người tiêu dùng.
Nguồn thông tin thực nghiệm: Sờ mó, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm.
Nhà tiếp thị cần phát hiện đầy đủ những nguồn thông tin mà người tiêu dùng
sử dụng rồi sau đó xác định giá trị thông tin tương đối của chúng.Trước hết cần phải
15
tìm hiểu xem người tiêu dùng lần đầu tiên biết đến nhãn hiệu như thế nào, họ còn có
những thông tin nào nữa, họ đánh giá mỗi nguồn thông tin đã sử dụng ra sao.
Đánh giá các lựa chọn : (Nguồn:Philip Kotler, Marketing căn bản, tr. 144)
Khi người tiêu dùng bắt đầu tìm kiếm thông tin, quá trình so sánh các thương
hiệu cạnh tranh và đưa ra quyết định như thế nào? Có một số quá trình đánh giá, các
mô hình cho thấy đây là sự nhận thức có định hướng, có nghĩa là người tiêu dùng
hình thành các phán đoán chủ yếu trên cơ sở có ý thức và có sự hợp lý trong đó.
Người tiêu dùng luôn tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của họ.Trong số các
lợi ích từ các sản phẩm khác nhau, người tiêu dùng xem mỗi sản phẩm là một tập
hợp các thuộc tính mà mỗi thuộc tính đó mang lại lợi ích khác nhau để thỏa mãn
nhu cầu của họ. Thuộc tính của sản phẩm thể hiện qua các mặt:
- Đặc tính kỹ thuật: công thức, màu sắc, thành phần, kích cỡ…
- Đặc tính sử dụng: thời gian sử dụng, độ bền, tính đặc thù…
- Đặc tính tâm lý: đẹp, sang trọng, cá tính, sự thoải mái, lòng tự hào về quyền
sở hữu…
- Đặc điểm kết hợp: giá cả, nhãn hiệu, đóng gói…
Ví dụ, những thuộc tính khi lựa chọn một máy ảnh có thể là độ sắc nét của
hình ảnh, kích cỡ ống kính và giá cả. Qua đó, người tiêu dùng sẽ xem thuộc tính nào
khác. Thái độ phản đối hay đồng tinh của người khác càng quyết liệt và người đó
càng gần gũi với người tiêu dùng thì người tiêu dùng càng quyết tâm hơn trong việc
xem xét lại ý định mua hàng của mình để ngả về phía này hay phía kia.
Ý định mua hàng còn chịu tác động của những yếu tố bất ngờ của tình huống.
Ý định được hình thành trên cơ sở thu nhập dự kiến của gia đình, giá cả dự kiến và
những lợi ích dự kiến của việc mua sắm đó. Những yếu tố bất ngờ của tình huống
có thể phát sinh đột ngột và làm thay đổi ý định mua hàng vào đúng thời điểm mà
người tiêu dùng đã sẵn sàng hành động.
Nhà tiếp thị lúc này phải hiểu được các yếu tố gây nên nhân thực rủi ro nơi
người tiêu dùng cung cấp thung tin, trợ giúp người tiêu dùng nhằm làm giảm rủi ro
nhận thức của họ và gia tăng cơ hội mua sắm sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.
Hành vi sau mua: (Nguồn: Philip Kotler, Marketing căn bản, tr. 147)
17
Công việc của người làm marketing chưa kết thúc khi sản phẩm đã được mua
mà còn tiếp tục cả trong thời kỳ sau khi mua. Việc hài lòng hay không hài lòng sau
khi mua sẽ ảnh hưởng đến lần mua kế tiếp của khách hàng.
Khi khách hàng thỏa mãn với sản phẩm mình mua thì sẽ có những ảnh hưởng
tích cực: lòng trung thành lâu hơn, mua nhiều hơn, luôn nói về mặt tốt của sản
phẩm, ít quan tâm đến giá,… Khi khách hàng không hài lòng với sản phẩm thì sẽ có
những ảnh hưởng tiêu cực sau: phản ứng trực tiếp tới nơi họ mua sản phẩm, không
mua sản phẩm nữa, nói với người khác về mặt không tốt của sản phẩm,…Trong
trường hợp này, doanh nghiệp đã thất bại trong việc làm hài lòng người tiêu dùng.
Các nhà tiếp thị có thể sử dụng những cách thức giao tiếp với người tiêu dùng
sau khi mua sản phẩm để giảm thiểu số lượng sản phẩm bị trả về hoặc hủy đơn
hàng. Ví dụ như công ty máy tính tiến hành rất nhiều động tác sau khi khách hàng
đã mua sản phẩm như gửi thư điện thử để chúc mừng họ đã mua được một chiếc
máy tính tốt, tiếp thu những ý kiến đóng góp của khách hàng và xây dựng các trung
vụ của nhà cung cấp và thấy rằng sản phẩm hay dịch vụ đó tạo ra giá trị gia tăng
(Butz and Goodstein, 1990).
Theo Wooddruff (1997), giá trị cảm nhận của khách hàng là sự yêu thích, cảm
nhận và đánh giá của khách hàng về các đặc tính của sản phẩm, sự thể hiện của đặc
tính và những kết quả đạt được (hoặc hậu quả phát sinh) từ việc sử dụng đó tạo điều
kiện thuận lợi đạt được mục tiêu và giá trị nhận được và nhấn mạnh rằng giá trị xuất
phát từ nhận thức, sự ưa thích và đánh giá của khách hàng. Nó cũng liên kết sản
phẩm với các trường hợp sử dụng và hiệu quả đạt được qua quá trình sử dụng bởi
các khách hàng.
Có rất nhiều khái niệm giá trị cảm nhận của khách hàng khác nhau. Giá trị cảm
nhận luôn thay đổi, nó khác nhau giữa các khách hàng, văn hóa và thời gian
(Sanchez et al, 2006). Tuy vậy, các khái niệm đều có điểm chung khi nói về giá trị
cảm nhận của khách hàng là sự so sánh giữa những gì khách hàng nhận được (lợi
ích) và những gì họ bỏ ra (sự hy sinh) để có được sản phẩm hay dịch vụ. Sự hy sinh
19
ở đây không chỉ là giá cả mang tính tiền tệ mà còn bao gồm cả những chi phí cơ hội
không mang tính tiền tệ được gọi là giá cả hành vi: đó là thời gian, nỗ lực bỏ ra để
có được dịch vụ.
2.2.4 Mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận và sự lựa chọn của khách hàng:
Về mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận và quyết định mua sắm của khách hàng,
kết quả kiểm định của Sheth và các tác giả (1991) cho thấy, các thành phần giá trị
cảm nhận cũng chính là các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng.
Giá trị chức năng
Giá trị điều kiện
Giá trị xã hội
Tóm lại, theo các nhà nghiên cứu về giá trị cảm nhận, thì giá trị cảm nhận
đóng vai trò quyết định mua sắm, do đó các thành phần của giá trị cảm nhận (giá
trị nhân sự, giá trị chất lượng, giá trị tính theo giá cả, giá trị cảm xúc, giá trị xã
hội) là các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của khách hàng.
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua của các tổ chức
Theo Kotler (2003), các nhân tố quan trọng có thể tác động đến quy trình mua gồm
có:
- Tình huống mua: nhiệm vụ mới, mua lại trực tiếp, mua lặp lại có thay đổi.
- Các yếu tố cá nhân: đặc điểm tính cách của người mua, vai trò nhận thấy, động
cơ thúc đẩy, v.v…
- Các yếu tố về quan hệ cá nhân: những vai trò khác nhau tồn tại trong một trung
tâm mua (người sử dụng, người mua, người ảnh hưởng, người quyết định, người
canh cổng).
- Các yếu tố thuộc về tổ chức: nhiệm vụ, cấu trúc, công nghệ và nhân sự.
- Các nhân tố liên quan đến nội bộ tổ chức: mục tiêu hướng đến, giá cả, dịch vụ,
sự bảo đảm về chất lượng cung cấp.
- Các yếu tố môi trường: vật lý, công nghệ, kinh tế, chính trị, luật pháp và văn hóa.
2.2.5.1 Tình huống mua
21
Hình thức mua hàng chính là các loại tình huống mua hàng. Có ba loại hình thức
mua hàng:
- Nhiệm vụ mới (new task purchases): Mua lần đầu tiên các sản phẩm và dịch vụ
mới. Khách hàng thường rất chú ý trong công tác giải quyết vấn đề vì đây là lần đầu
tiên mua hàng.
- Mua lại trực tiếp (straight rebuy purchase): Mua lại các sản phẩm và dịch vụ một
cách lặp đi lặp lại nhiều lần.
- Mua lại có thay đổi (modified rebuy purchase): Khách hàng muốn mua các sản
phẩm hay dịch vụ mới từ các nhà cung cấp hiện có, hoặc họ muốn mua các sản
họ không chỉ có thể ảnh hưởng đến quyết định mua mà còn có thể hủy bỏ cả một
thương vụ. Chính vì vậy, ảnh hưởng có hai chiều: tích cực và tiêu cực.
Các ảnh hưởng còn tùy thuộc vào vai trò mà cá nhân đó thể hiện trong quy trình
mua. Có mấy loại ảnh hưởng chính sau:
- Người khởi xướng (initiators): là những người đầu tiên nhận diện và xác định
vấn đề, mà có thể được giải quyết thông qua việc mua hàng hóa và dịch vụ.
- Người canh cổng (gatekeepers): là những người có vai trò điều khiển các dòng
thông tin, vềviệc tiếp cận những người ra quyết định.
- Những người ảnh hưởng (influencers): là những người sẽ có ý kiến tích cực hay
tiêu cực trong việc ra quyết định mua hay không mua sản phẩm hoặc dịch vụ.
- Người quyết định (deciders): là những người thực sựcra quyết định mua hay
không mua hàng hóa và dịch vụ.
- Người mua (purchasers): là người thực hiện các công đoạn giấy tờ, thủ tục và đặt
hàng.
- Người sử dụng (users): là những người sẽ sử dụng hàng hóa và dịch vụ được
mua.
2.2.5.4 Các yếu tố thuộc về tổ chức và nội bộ tổ chức
23
Mỗi tổ chức mua hàng đều có những mục tiêu, chính sách, thủ tục, cơ cấu tổ
chức và các hệ thống riêng của mình. Người hoạt động trên thị trường các doanh
nghiệp phải tìm hiểu chúng. Thường nảy sinh các câu hỏi như: Có bao nhiêu người
tham gia vào quyết định mua sắm ? Họlà những ai ? Tiêu chuẩn đánh giá của họ
như thế nào ? Những chính sách và hạn chế của công ty đối với người mua là gì ?
2.2.5.5 Các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường là các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến các công ty tiếp thị
giữa các tổ chức nhưng các công ty này ngược lại không thể điều khiển hay tác
động vào các yếu tố này. Vì vậy, các nhà quản lý tiếp thị thường tìm cách thích nghi
muốn, nhận thức, sở thích, hành vi lựa chọn và mua sắm của khách hàng mục tiêu,
từ đó mới có căn cứ để phát triển tính năng sản phẩm, xác định giá cả, các thông tin
và các yếu tố khác trong tiêu thụ sản phẩm.
2.2.6.1 Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống
Trong mỗi giai đoạn khác nhau của cuộc đời, con người có nhu cầu về những
loại hàng hóa khác nhau. Ví dụ khi còn nhỏ, con người ăn thức ăn cho trẻ sơ sinh,
phần lớn thực phẩm trong nhưng năm lớn lên và trưởng thành và những thức ăn
kiêng cữ trong những năm cuối đời.
Vì vậy, các doanh nghiệp cần xác định sản phẩm, dịch vụ của mình phù hợp với
đối tượng tiêu dùng nào nhằm xây dựng thị trường mục tiêu của mình. Ví dụ những
doanh nghiệp kinh doanh thiết bị chủ yếu của nhà bếp, đồ gỗ căn bản, ôtô, thiết bị
trò chơi hai người thì thị trường mục tiêu của họ sẽ là những người trẻ tuổi độc
thân. Những doanh nghiệp kinh doanh ôtô, tủ lạnh, bếp, đồ gỗ cần thiết và bền, đi
nghỉ… thì thị trượng mục tiêu là các cặp vợ chồng mới cưới chưa có con…
2.2.6.2 Nghề nghiệp
Cách thức tiêu dùng của con người còn chịu sự chi phối rất lớn bởi nghề
nghiệp của họ. Một ca sỹ chuyên biểu diễn trên sân khấu luôn mua sắm quần áo
hàng hiệu, độc đáo…, người làm nghề giáo viên lại thường mua quần áo trang nhã,
kín đáo… Doanh nghiệp cần cố gắng xác định những nhóm nghề nghiệp có quan
25