TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THÚY THẢO
NÂNG CAO NĂNG Lực Tự HỌC,
Tư NGHIÊN CỨU CỦA SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
TRẦN THỊ THÚY THẢO
VÀ AN NINH Ở TRƯỜNG ĐAI HOC
Sư PHẠM HÀ NỘI 2
NÂNG CAO NĂNG Lực Tự HỌC,
Tự NGHIÊN CỨU CỦA SINH VIÊN
NGÀNH
GIÁOTÓT
DỤC
QUỐC
KHÓA LUẬN
NGHIỆP
ĐẠIPHÒNG
HỌC
ngành: Giáo
quốc phòng và anĐAI
ninh HOC
VÀChuyên
AN NINH
ỞdụcTRƯỜNG
••
Sư PHẠM HÀ NỘI 2
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Thúy Thảo
KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIÉT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
GDQP & AN
Giáo dục quốc phòng và an ninh
NXB
Nhà xuất bản
ĐHSP
sv
Đại học Sư phạm
Sinh viên
GV
Giảng viên
1.12.
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa cuối thế kỷ XX,
khoa học giáo dục đã chuyển từ quan điểm dạy học “lấy người dạy làm trung
tâm”, sang quan điểm “lấy người học làm trung tâm” trong nhà trường từ tiểu
học đến đại học. Thực chất đó là chuyển từ chỗ lấy “việc dạy làm trung tâm”
sang lấy “việc học làm trung tâm”, khi lấy “việc học làm trung tâm” thì phương
pháp học tập trở nên có vai trò đặc biệt quan trọng.
1.13.
Phương pháp tự học, tự nghiên cứu là khâu then chốt đặc
biệt trong đào tạo của bất kì nhà trường nào. Nhà nghiên cứu khoa học Isaac
Asimov đã từng nói: “Chỉ có thể bằng con đường tự học
sv mới có thể học hỏi
được điều gì đó. Nhiệm vụ duy nhất của Nhà trường là tạo thuận lợi cho quá
trình tự học. Nếu như không làm được điều này, Nhà trường sẽ đánh mất ý
nghĩa tồn tại của mình”, Bác Hồ đã dạy “về cách học phải lấy tự mình làm cốt”.
1.14.
Tự học, tự nghiên cứu cũng là chủ trương của Đảng, của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, ở Nghị quyết kì họp lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII đã nêu rõ: “Đổi mói mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
với khối lượng ngày càng lớn. Bản thân những tri
thức đó cũng ngày một tăng nhưng cũng nhanh chóng bị lạc hậu, trong khi đó
thời gian đào tạo không tăng. Vì vậy, để học tốt các môn học của chuyên ngành
GDQP & AN thì việc tự học, tự nghiên cứu đóng vai ừò hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, hiện nay việc tự học, tự nghiên cứu của
sv còn khá nhiều bất cập,
sv còn khá lúng túng trong việc tìm ra phương pháp học tập hợp lý,
nhiều sv còn chưa nhận thức được đúng đắn về sự cần thiết của hoạt động tự
học, tự nghiên cứu. sv chưa tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức cho
đa số
mình mà còn thụ động, phụ thuộc nhiều vào những gì thày dạy, không có nhu
cầu mở rộng hiểu biết, phát huy sáng tạo, đào sâu kiến thức. Phương pháp tự
học theo kiểu đối phó, theo phong trào, học để thi vẫn là hình thức tự học phổ
biến hiện nay.
1.17.
Từ những cơ sở khoa học đã trình bày ở trên, để
sv ngành
GDQP & AN ở trường ĐHSP Hà Nội 2 có ý thức tự học, tinh thần tự giác, tích
cực trong học tập để nâng cao chất lượng đào tạo ngành GDQP & AN thì nâng
cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho
sv
- Đề xuất biện pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của
sv
ngành GDQP & AN ở trường ĐHSP Hà Nội 2.
- Khảo nghiệm các biện pháp đưa ra nhằm khẳng định tính cấp thiết và
khả thi của đề tài.
4. Đổi tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đổi tượng nghiên cứu
1.19.
Quá trình học tập của sv ngành GDQP & AN ở trường
ĐHSP Hà Nội 2.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
1.20.
sv ngành GDQP & AN ở trường ĐHSP Hà Nội 2.
5. Các phương pháp nghiên cứu
5.1.
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
1.24.
Sau khi tiến hành điều tra thu thập được số liệu, tôi tiến
9
hành áp dụng phương pháp toán học thống kê để xử lý số liệu.
1.25.
Sử dụng công thức tính tỉ lệ %: c% = - X 100 (%)
1.27.
Trong đó: m: số cá thể
1.26.
1.28.
n
n: Tổng số cá thể
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1.
Ý nghĩa khoa học
Lực Tự HỌC,
Tự NGHIÊN CỨU CỦA sv NGÀNH GDQP & AN
1.1.
Lịch sử nghiên cứu về vấn đề tự học, tự nghiên cứu
1.32.
Ngay từ thòi kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng
đất nước ta vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất. Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố
được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản
thân. Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm
gương tự học thành tài. Nhưng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế “người
học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người học học thuộc
lòng...”.
1.33.
Thòi kì thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục phương
tây rất phát triển nhưng nền giáo dục của nước ta vẫn chậm đổi mới. vấn đề tự
học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự
học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội.
1.34.
Trong năm 1945 vấn đề tự học thực sự được phát động
đổi mới lấy ngưòi học làm trung tâm. Chúng ta có thể nhắc đến bài viết của
Nguyễn Nghĩa Dán “Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh” (Tạp chí “Nghiên
cứu giáo dục”, số 2/1998), hay Giáo sư Cao Xuân Hạo đã có những phân tích
thấu đáo và ý kiến sâu sắc trong bài “Bàn về chuyện tự học” (Kiến thức ngày nay,
số 396, năm 2001). GV ở các trường đại học cũng có những nghiên cứu để dàn
đưa việc tự học, tự nghiên cứu thành một hoạt động không thể thiếu trong quá
trình dạy và học hiện nay như bài “Phương pháp tự học - càu nối giữa học tập và
nghiên cứu khoa học” của Diệp Thị Thanh trường Đại Học Đà Nằng. Hay những
sv
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cũng chọn đề tài tự học, tự nghiên cứu, đã
nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và đưa ra được biện pháp nâng cao khả năng
tự học môn học giáo dục quốc phòng cho học sinh trung học phổ thông, như đề
tài “Nâng cao khả năng tự học giáo dục quốc phòng đối với học sinh trung học
phổ thông” của Nguyễn Thị Hồng Hạnh
sv
trường ĐHSP Hà Nội 2, “Một số
biện pháp nâng cao năng lực tự học môn học GDQP-AN 10 cho học sinh THPT”
của Nguyễn Đức Dân.
1.37.
Như vậy, vấn đề tự học của học sinh,
sv đã được nhiều nhà
1.38.
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức thì “Tự
học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học. Đó là một hình thức nhận
thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người
học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình
và sách giáo khoa đã được qui định.
1.39.
Như Viện sĩ Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác
của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ
kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ
của xã hội”.
1.40.
Giáo s ư - T i ế n sỹ Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học - là tự
mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân
tích, tổng họp...) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm
chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như
tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì,
nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khỏ khăn thành thuận lợi
v.v...) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó
thành sở hữu của mình”.
1.41.
sv
ngành GDQP & AN phải hoạt động theo điều lệnh quản lý bộ đội,
thực hiện các chế độ trong ngày, trong tuần. Vì vậy, hoạt động tự học của
sv
ngành GDQP & AN cũng luôn bị chi phối bởi điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân sự
nghiêm ngặt. Hoạt động tự học của
sv
sẽ chịu sự kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở
trực tiếp, thường xuyên của đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là về các mặt: thực hiện
kế hoạch tự học, chấp hành thời gian, kỷ luật tự học và phương pháp tự học. Đây
là điều kiện thúc đẩy việc tự học và mang cả ý nghĩa “bắt buộc” sv thực hiện.
1.43.
Tác giả Diệp Thị Thanh - trường Đại học Ngoại Ngữ (Đại học Đà
Nang) cho rằng tự nghiên cứu là quá trình “người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả,
giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức
mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có
tính chất cá nhân”.
1.44.
Hình thức tự học, tự nghiên cứu là hình thức học tập độc lập
của ngưòi học nhằm lĩnh hội, củng cố, vận dụng các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. Là
một hình thức tổ chức dạy học mang tính chất cá nhân; người học tự tổ chức quá
trình nhận thức của mình, thể hiện tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của bản
thân; người dạy giữ vai trò chỉ đạo, định hướng, song không trực tiếp can thiệp
vào quá trình tự lĩnh hội của người học; nó giúp người học củng cố, mở rộng, đào
sâu, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức, rèn luyện kĩ xảo, tư duy độc lập, sáng
tạo, vận dụng vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn.
1.2.3.
Năng lực tự học, tự nghiên cứu
1.48.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lý và
sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với
chất lượng cao”.
1.49.
Năng lực gồm có hai loại: năng lực chung và năng lực riêng.
Năng lực chung là những năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau; năng
lực riêng là những năng lực có tính chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu của một
lĩnh vực chuyên biệt nào đó.
1.50.
Cơ sở lý luận về tự học, tự nghiên cứu
1.3.1.
Qui trình tự học, tự nghiên cứu
1.53.
Bao gồm 4 nội dung: Lập kế hoạch; thực hiện kế hoạch; tự
kiểm tra, tự đánh giá; tự điều chỉnh kế hoạch tự học, tự nghiên cứu.
1.54.
1.55.
- Lập kế hoạch tự học, tự nghiên cứu:
Cơ sở xây dựng kế hoạch học tập:
sv tự biết điều kiện sức
khỏe, điều kiện kinh tế, khả năng học tập của mình, điều kiện môi trường học tập
của bản thân; sv phải biết chương trình (thời gian, nội dung, tư liệu học tập, thời
khóa biểu...) của các môn đang theo học; biết được các hoạt động xã hội của
khoa, của nhà trường theo kế hoạch cố định và đột xuất; các phương pháp tự học
cơ bản, các kỹ năng tự học cần phải rèn luyện.
1.56.
Dựa vào những cơ sở trên
hiện kế hoạch tự học, tự nghiên cứu của mình (thực hiện nghiêm túc, không
nghiêm túc, chưa thực hiện được kế hoạch).
1.59.
Tự kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động tự học,
tự nghiên cứu theo kế hoạch trong từng ngày về kiến thức, kỹ năng của từng môn
học.
- Tự điều chỉnh kế hoạch tự học, tự nghiên cứu:
1.60.
Ke hoạch tự học, tự nghiên cứu phù họp và có hiệu quả cho
hoạt động tự học, tự nghiên cứu thì tiếp tục duy trì. Nếu không phù hợp, hay có
những biến động đột xuất do khách quan (chương trình đào tạo, hoạt động xã hội
của lớp, của các tổ chức xã hội ừong trường...) hay do chủ quan (sức khỏe cá
nhân, điều kiện học tập của bản thân...) thì kế hoạch từng ngày từng tuần cần phải
điều chỉnh.
1.61.
Có khi lịch tự học, tự nghiên cứu trong ngày phù hợp, nhưng
hiệu quả chất lượng không cao thì phải điều chỉnh lại việc sử dụng phương pháp,
phương tiện tự học, tự nghiên cứu cho phù hợp.
1.3.2.
triển tư duy tự học với sách.
1.66.
+ Tự học có thầy từ xa hướng dẫn: trao đổi thông tin giữa thầy và
trò thông qua các phương tiện thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh
và giải đáp các thắc mắc, làm bài tập, kiểm tra,...
1.67.
Thứ ba, tự học có sách, có thầy trong một số tiết học sau đó
sv tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên. Trong quá trình học
tập trên lớp, người thầy có vai trò chỉ đạo, tổ chức, điều khiển và tạo điều kiện để
trò tự chiếm lĩnh tri thức. Trò tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá
trình học tập. Trong quá trình tự học, tự nghiên cứu ở nhà, dưói sự hướng dẫn,
giúp đỡ của thầy, ngưòi học phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động tự sắp
xếp kế hoạch học tập, huy động mọi tri thức, kĩ năng để hoàn thành những nhiệm
vụ giáo viên đề ra. Như vậy ở hình thức thứ ba này quá trình tự học, tự nghiên
cứu của
sv
có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của
nhiều yếu tố, ừong đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của giáo
viên và quá trình tự học, tự nghiên cứu của sv.
1.71.
+ Ghi chép theo kiểu trích dẫn: trích dẫn lại nguyên văn một
câu, một đoạn của tài liệu.
1.72.
+ Ghi chép theo kiểu luận đề: trình bày ngắn gọn nội dung
quan trọng của một vấn đề, luận điểm của một phần, một chương.. .của tài liệu
theo ngôn ngữ của mình. Đòi hỏi phải đọc tìm ra những ý chính, nội dung chính,
tài liệu trình bày là gì? Ghi lại tóm tắt nội dung, không làm sai lệch nội dung, tư
tưởng của tác giả, tác phẩm.
1.73.
+ Ghi chép tự do: là cách ghi chép cảm xúc, suy nghĩ của
bản thân về một vấn đề, nội dung của tài liệu ừong đó có thể phân tích, so sánh,
đánh giá.. .theo ý kiển của bản thân. Phương pháp ghi chép theo kiểu tự do đòi
hỏi tư duy độc lập và tư duy phê phán của người học.
- Phương pháp nghe kết họp ghi chép: yêu cầu
sv tập trung tư tưởng theo
dõi bài giảng của GV kết họp ghi chép. Ghi những thông tin GV ghi trên bảng, tự
ghi chép lại một cách tóm tắt những thông tin GV trình bày (thông báo, giới
thiệu, ví dụ,...) mà GV không ghi lên bảng nhưng bản thân thấy càn thiết cho
1.75.
sv
biết cách đọc, cách ghi chép, cách tìm kiếm thông tin,
cách ghi nhớ thông tin, cách hỏi và ưả lời, cách tổ chức luyện tập đó là những
phương pháp cơ bản của hoạt động tự học, tự nghiên cứu.
1.4.
Vai trò của tự học, tự nghiên cứu
- Tự học, tự nghiên cứu là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học.
1.76.
Từ lâu các nhà su phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phuơng
pháp dạy tự học, tụ nghiên cứu. Trong quá trình hoạt động dạy học GV không chỉ
dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu càu
s V ghi nhớ mà
sv tụ mình khám phá ra những
qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học. Giúp sv không chỉ nắm bắt
quan trọng hơn là phải định huớng, tổ chức cho
người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá. Hứng thú
là động lực dẫn tới tự giác. Tính tích cực của con ngưòi chỉ được hình thành trên
cơ sở sự phối họp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác. Nó bảo đảm cho sự định
hình tính độc lập trong học tập.
1.78.
- Tự học, tự nghiên cứu giúp cho mọi người có thể chủ động
học tập suốt đòi.
1.79.
Học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống
hiến.Tự học, tự nghiên cứu giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Bằng con đường tự học, tự nghiên cứu mỗi cá nhân sẽ
không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với
những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách
thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp. Neu rèn luyện cho người học có được
phương pháp, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu biết linh hoạt vận dụng những điều
đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ
ngày càng được nâng cao.
1.80.
Với những cơ sở lý luận trình bày ở trên tác giả nhận thấy, xây
dựng được phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động
sv
ngành GDQP & AN ở trường
ĐHSP Hà Nội 2
1.84.
Trong buổi toạ đàm với chủ đề “Nâng cao chất lượng đào tạo
đại học” do báo Tuổi trẻ tổ chức với sự tham gia của các thày giáo đại học, các
nhà quản lý giáo dục và các
sv
của một số trường Đại học, đã có ý kiến của
nhiều bạn sv thẳng thắn bức xúc: "SV chúng tôi như những cỗ máy rỉ sét, chúng
tôi vào lớp viết chính tả và sau đó trả bài thuộc lòng, lắp ghép các kiến thức rời
rạc. Học đối phó và thi đối phó để lấy cho được mảnh bằng, thế thôi. Đại học
sv không đủ tiền mua sách, không có chỗ ở đủ
điều kiện để học... Việc học với sv là: học, ghi, thi phải thuộc. Cả bốn góc của tứ
giác: thày, chương trình, sv, cơ sở - thiết bị đều có vấn đề."
1.85.
Hiện nay, việc dạy ở đại học bao gồm 2 phàn: cung cấp kiến
không có thư viện đúng nghĩa,
thức và hướng dẫn cách học. Đó là chưa nói đến một nhiệm vụ lớn của đại học:
giúp
- Có 18/22 GV tỉ lệ 81,8% đồng ý phương pháp dạy học cốt lõi chính là
dạy tự học, tự nghiên cứu.
- Có 4/22 GV tỉ lệ 18,2 % không đồng ý phương pháp dạy học cốt lõi
chính là dạy tự học, tự nghiên cứu.
1.89.
Bảng 2.1. Phương pháp các GV sử dụng trong giảng dạy để sv
tích cực
1.3.
1.4.
hơn trong việc tự học, tự nghiên cứu
S
1.5.
Phương pháp
1.6. Kết quả
1.10. C 1.11.
ó (%)
hông(%)
K Ghi chú
1
trình
3
nhóm
1.28. 1.29.
Nêu và
4
giải quyết vấn đề
Tăng
1.33. 1.34.
5
1.38.
1.90.
1.91.
1.92.
1.93.
cường kiểm tra trên
lớp
100%
77,3%
86,4%
+ Có 10/22 GV tỉ lệ 45,4 % thường xuyên hướng dẫn
sv tự học, tự nghiên cứu.
1.94.
+ Có 7/22 GV tỉ lệ 31,8 % thỉnh thoảng hướng dẫn sv tự
học, tự nghiên cứu.
1.95.
+ Có 5/22 GV tỉ lệ 22,8 % không bao giờ hướng dẫn sv tự
học, tự nghiên cứu.
1.39.
Bảng 2.2. GV hướng dẫn sv tự học, tự nghiên cứu
1.42.
Kết
1.43.
1.40.
quả
Ghi
1.41.
Nôi dung
STT
1.47. 1.48. K
Có (%)
tài liệu
Tự nghiên cứu
81,8%
18,2%
1.62.
59,1%
1.67.
1.63.
40,9%
1.68.
54,5%
- Hiệu quả của bài giảng khi hướng dẫn
45,5%
1.64.
1.69.
sv có thói quen tự
học, tự nghiên cứu: