TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THÚY THẢO
NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC,
TỰ NGHIÊN CỨU CỦA SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
VÀ AN NINH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
HÀ NỘI - 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THÚY THẢO
NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC,
TỰ NGHIÊN CỨU CỦA SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
VÀ AN NINH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Người hướng dẫn khoa học
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
GDQP & AN
Giáo dục quốc phòng và an ninh
NXB
Nhà xuất bản
ĐHSP
Đại học Sư phạm
SV
Sinh viên
GV
Giảng viên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
2.4.1. Điểm mạnh ............................................................................................ 26
2.4.2. Điểm hạn chế......................................................................................... 26
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 27
CHƯƠNG 3. BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC, TỰ
NGHIÊN CỨU CỦA SV NGÀNH GDQP & AN Ở TRƯỜNG ĐHSP HÀ
NỘI 2 .............................................................................................................. 28
3.1. Cơ sở để đề xuất biện pháp ...................................................................... 28
3.2. Nguyên tắc để đề xuất biện pháp ............................................................. 29
3.3. Biện pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của SV ngành GDQP
& AN ở trường ĐHSP Hà Nội 2. .................................................................... 30
3.3.1. Nâng cao nhận thức của SV đối với việc tự học, tự nghiên cứu .......... 30
3.3.2. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “dạy cách học” ................. 32
3.3.3. Đổi mới phương pháp tự học, tự nghiên cứu của SV ........................... 34
3.3.4. Nâng cao công tác quản lý quá trình tự học, tự nghiên cứu của SV. .............. 41
3.3.5. Các điều kiện bảo đảm cho việc tự học, tự nghiên cứu. ....................... 43
3.4. Khảo nghiệm các biện pháp nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của
SV ngành GDQP & AN ở trường ĐHSP Hà Nội 2. ....................................... 44
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 47
1. Kết luận ....................................................................................................... 47
2. Kiến nghị ..................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1. Phương pháp các GV sử dụng trong giảng dạy để SV tích cực hơn
trong việc tự học, tự nghiên cứu ..................................................................... 18
Bảng 2.2. GV hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu ....................................... 19
Biểu đồ 2.1. Mức độ quan trọng của việc tự học, tự nghiên cứu .................... 20
Tự học, tự nghiên cứu là hình thức học tập không thể thiếu của SV
trong các cơ sở giáo dục đại học. SV có phát huy được năng lực tự học, tự
nghiên cứu mới hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức. Chính trong quá trình này, tư duy
độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo được nảy nở và phát triển. Để biến
những kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến
1
thức của chính mình đòi hỏi mỗi SV phải tự học, đây là cơ sở để người học có
thể học suốt đời, nâng cao trình độ trong cuộc sống.
Đối với SV ngành GDQP & AN do đòi hỏi đặc thù môn học chuyên
ngành, những tri thức về quốc phòng và khoa học quân sự hiện đại cần phải
trang bị cho SV với khối lượng ngày càng lớn. Bản thân những tri thức đó
cũng ngày một tăng nhưng cũng nhanh chóng bị lạc hậu, trong khi đó thời
gian đào tạo không tăng. Vì vậy, để học tốt các môn học của chuyên ngành
GDQP & AN thì việc tự học, tự nghiên cứu đóng vai trò hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, hiện nay việc tự học, tự nghiên cứu của SV còn khá nhiều bất cập,
đa số SV còn khá lúng túng trong việc tìm ra phương pháp học tập hợp lý,
nhiều SV còn chưa nhận thức được đúng đắn về sự cần thiết của hoạt động tự
học, tự nghiên cứu. SV chưa tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức
cho mình mà còn thụ động, phụ thuộc nhiều vào những gì thầy dạy, không có
nhu cầu mở rộng hiểu biết, phát huy sáng tạo, đào sâu kiến thức. Phương pháp
tự học theo kiểu đối phó, theo phong trào, học để thi vẫn là hình thức tự học
phổ biến hiện nay.
Từ những cơ sở khoa học đã trình bày ở trên, để SV ngành GDQP &
AN ở trường ĐHSP Hà Nội 2 có ý thức tự học, tinh thần tự giác, tích cực
trong học tập để nâng cao chất lượng đào tạo ngành GDQP & AN thì nâng
cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho SV ngành GDQP & AN là biện pháp
hết sức quan trọng và thiết thực. Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng
Sử dụng để thu thập các thông tin nghiên cứu trong đề tài. Dùng phiếu
điều tra, thăm dò ý kiến để qua đó đánh giá chất lượng học tập của SV.
5.3. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến đánh giá, góp ý của các cán bộ quản lý, GV Trung tâm giáo
dục quốc phòng Hà Nội 2 về tự học, tự nghiên cứu của SV.
5.4. Phương pháp toán học
Sau khi tiến hành điều tra thu thập được số liệu, tôi tiến hành áp dụng
phương pháp toán học thống kê để xử lý số liệu.
3
Sử dụng công thức tính tỉ lệ %: C% =
𝑚
𝑛
× 100 (%)
Trong đó: m: Số cá thể
n: Tổng số cá thể
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Đóng góp về cơ sở lý luận về việc nâng cao năng lực tự học, tự nghiên
cứu của SV ngành GDQP & AN từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và kết quả
học tập của SV.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được thực trạng tự học, tự nghiên cứu của SV ngành GDQP
& AN ở trường ĐHSP Hà Nội 2.
- Là tài liệu để các nhà quản lý giáo dục, đồng nghiệp tham khảo, SV
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học,
5
tự rèn luyện để biến đổi nhân cách của mình. Người dạy giỏi là người dạy cho
học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục”.
Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung và vấn đề tự
học của SV nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu vì vai trò quan
trọng của tự học, tự nghiên cứu trong quá trình dạy và học theo hướng đổi
mới lấy người học làm trung tâm. Chúng ta có thể nhắc đến bài viết của
Nguyễn Nghĩa Dán “Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh” (Tạp chí
“Nghiên cứu giáo dục”, số 2/1998), hay Giáo sư Cao Xuân Hạo đã có những
phân tích thấu đáo và ý kiến sâu sắc trong bài “Bàn về chuyện tự học” (Kiến
thức ngày nay, số 396, năm 2001). GV ở các trường đại học cũng có những
nghiên cứu để dần đưa việc tự học, tự nghiên cứu thành một hoạt động không
thể thiếu trong quá trình dạy và học hiện nay như bài “Phương pháp tự học –
cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học” của Diệp Thị Thanh trường Đại
Học Đà Nẵng. Hay những SV làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cũng chọn đề
tài tự học, tự nghiên cứu, đã nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và đưa ra
được biện pháp nâng cao khả năng tự học môn học giáo dục quốc phòng cho
học sinh trung học phổ thông, như đề tài “Nâng cao khả năng tự học giáo dục
quốc phòng đối với học sinh trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Hồng
Hạnh SV trường ĐHSP Hà Nội 2, “Một số biện pháp nâng cao năng lực tự
học môn học GDQP-AN 10 cho học sinh THPT” của Nguyễn Đức Dân.
Như vậy, vấn đề tự học của học sinh, SV đã được nhiều nhà khoa học,
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Trong các
công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt
động tự học, biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người
học phương pháp tự học, hình thành ở người học kỹ năng tự học. Đồng thời
Từ những quan điểm về tự học, có thể hiểu: “Tự học là quá trình cá nhân
người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào
7
đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích
nhất định”.
Tự học của SV sư phạm GDQP & AN vừa có những đặc điểm chung
như tự học của SV đại học, vừa có nét riêng trong môi trường học tập quân
sự, đó là:
- Do tính đặc thù quân sự, SV ngành GDQP & AN phải sinh hoạt ăn và ở
tập trung, được tổ chức biên chế thành các đơn vị (tiểu đội, trung đội, đại đội),
chịu sự quản lý trực tiếp của cán bộ chuyên trách quản lý SV. Đây là môi
trường và điều kiện rất thuận lợi để SV tập trung thời gian tự học, trao đổi
kinh nghiệm tự học.
- SV ngành GDQP & AN phải hoạt động theo điều lệnh quản lý bộ đội,
thực hiện các chế độ trong ngày, trong tuần. Vì vậy, hoạt động tự học của SV
ngành GDQP & AN cũng luôn bị chi phối bởi điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân
sự nghiêm ngặt. Hoạt động tự học của SV sẽ chịu sự kiểm tra, đôn đốc, nhắc
nhở trực tiếp, thường xuyên của đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là về các mặt:
thực hiện kế hoạch tự học, chấp hành thời gian, kỷ luật tự học và phương pháp
tự học. Đây là điều kiện thúc đẩy việc tự học và mang cả ý nghĩa “bắt buộc”
SV thực hiện.
Tác giả Diệp Thị Thanh - trường Đại học Ngoại Ngữ (Đại học Đà Nẵng)
cho rằng tự nghiên cứu là quá trình “người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải
thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới
(chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có
tính chất cá nhân”.
Theo từ điển Tiếng Việt “Tự nghiên cứu là tự thu thập dữ liệu thông tin,
chung là những năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau; năng lực
riêng là những năng lực có tính chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu của một
lĩnh vực chuyên biệt nào đó.
9
Tác giả Trịnh Quốc Lập và cộng sự sau nhiều năm nghiên cứu về sự
phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam đã đi đến kết luận: Năng
lực tự học được thể hiện ở phẩm chất của con người (tự xác định đúng đắn
động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái
độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động
học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình) và hành động cụ thể (độc
lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác).
Nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường ĐHSP Hà Nội khi
nghiên cứu vấn đề tự học, tác giả đã đề cập đến năng lực tự học thông qua việc
tập trung rèn luyện kĩ năng, tác giả chia kĩ năng tự hoc thành 4 nhóm đó là:
nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập kế hoạch), nhóm kỹ
năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu năng lực tự học của SV ngành
GDQP & AN là khả năng thực hiện có hiệu quả hoạt động học tập cả về
chuyên môn và nghiệp vụ nghề chuyên ngành GDQP & AN.
1.3. Cơ sở lý luận về tự học, tự nghiên cứu
1.3.1. Qui trình tự học, tự nghiên cứu
Bao gồm 4 nội dung: Lập kế hoạch; thực hiện kế hoạch; tự kiểm tra, tự
đánh giá; tự điều chỉnh kế hoạch tự học, tự nghiên cứu.
- Lập kế hoạch tự học, tự nghiên cứu:
Cơ sở xây dựng kế hoạch học tập: SV tự biết điều kiện sức khỏe, điều
kiện kinh tế, khả năng học tập của mình, điều kiện môi trường học tập của
bản thân; SV phải biết chương trình (thời gian, nội dung, tư liệu học tập, thời
lớp, của các tổ chức xã hội trong trường…) hay do chủ quan (sức khỏe cá
nhân, điều kiện học tập của bản thân…) thì kế hoạch từng ngày từng tuần cần
phải điều chỉnh.
11
Có khi lịch tự học, tự nghiên cứu trong ngày phù hợp, nhưng hiệu quả
chất lượng không cao thì phải điều chỉnh lại việc sử dụng phương pháp,
phương tiện tự học, tự nghiên cứu cho phù hợp.
1.3.2. Các hình thức tự học, tự nghiên cứu
Hoạt động tự học, tự nghiên cứu diễn ra dưới nhiều hình thức và mức
độ khác nhau như:
Thứ nhất, cá nhân tự tìm hiểu theo sở thích và hứng thú độc lập không
có sách và sự hướng dẫn của giáo viên. Hình thức này phải dựa trên nền tảng
tư tưởng một niềm khát khao say mê, khám phá tri thức mới, đồng thời phải
có vốn tri thức vô cùng sâu rộng. Với hình thức này, người học không tiếp
xúc với thầy và sách giáo khoa mà chỉ cọ sát thực tiễn.
Thứ hai, tự học, tự nghiên cứu thông qua sách nhưng không có giáo viên
bên cạnh. Ở hình thức này, tự học, tự nghiên cứu có thể diễn ra ở 2 mức sau:
+ Tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy, người học tự học,
tự nghiên cứu để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách. Qua đó sẽ phát triển tư
duy tự học với sách.
+ Tự học có thầy từ xa hướng dẫn: trao đổi thông tin giữa thầy và trò thông
qua các phương tiện thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và giải
đáp các thắc mắc, làm bài tập, kiểm tra,…
Thứ ba, tự học có sách, có thầy trong một số tiết học sau đó SV tự học
ở nhà dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên. Trong quá trình học tập trên
lớp, người thầy có vai trò chỉ đạo, tổ chức, điều khiển và tạo điều kiện để trò
tự chiếm lĩnh tri thức. Trò tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá
một vấn đề, nội dung của tài liệu trong đó có thể phân tích, so sánh, đánh
giá…theo ý kiển của bản thân. Phương pháp ghi chép theo kiểu tự do đòi hỏi
tư duy độc lập và tư duy phê phán của người học.
- Phương pháp nghe kết hợp ghi chép: yêu cầu SV tập trung tư tưởng
theo dõi bài giảng của GV kết hợp ghi chép. Ghi những thông tin GV ghi trên
13
bảng, tự ghi chép lại một cách tóm tắt những thông tin GV trình bày (thông
báo, giới thiệu, ví dụ,…) mà GV không ghi lên bảng nhưng bản thân thấy cần
thiết cho mình thì phải tự mình ghi lại vào vở.
- Phương pháp sử dụng từ điển Việt Nam, sổ tay tra cứu và mạng
Internet: mỗi khi gặp một từ, một khái niệm, một đại lượng, …mà bản thân
không hiểu rõ, không biết thì phải sử dụng từ điển, sổ tay tra cứu…SV phải
biết cách sử dụng các phương tiện đó để tìm kiếm thông tin một cách chính
xác, nhanh nhất.
- Phương pháp ghi nhớ thông tin: Những thông tin quan trọng, người
học phải nhớ để rồi có thể tái hiện sử dụng. Mỗi khi có thời gian rỗi hoặc theo
kế hoạch ôn tập thì người học phải chủ động đọc lại, nhẩm lại, diễn đạt lại
bằng ngôn ngữ nói hoặc viết, để nhớ lâu và chính xác.
- Phương pháp đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi: Nói đến việc đặt câu hỏi
và trả lời câu hỏi là vấn đề lớn về mặt lý luận. Ở đây, mức độ đầu là biết đặt
những câu hỏi tái hiện và phát hiện vấn đề trong nội dung tài liệu học. Khi
đọc hay nghe một nội dung về vấn đề nào đó, người học phải tự mình đặt ra
những câu hỏi như: Nội dung chính của vấn đề? Hiện tượng đã xảy ra? Vì
sao? …
Để trả lời câu hỏi thì phải biết phân tích câu hỏi để xác định đúng nội
dung cần trả lời, cần tìm kiếm thông tin.
- Phương pháp luyện tập (rèn luyện kỹ năng thực hành): Luyện tập là
vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học. Bởi từ
đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo,
thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng. Có thể
xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học, tự nghiên cứu) như một điều
kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại.
Trong đó hoạt động tự học, tự nghiên cứu là những biểu hiện sự gắng sức cao
về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua
sự hưng phấn tích cực. Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong
15
học tập. Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên
cứu khám phá. Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác. Tính tích cực của con
người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú
với tự giác. Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập.
- Tự học, tự nghiên cứu giúp cho mọi người có thể chủ động học tập
suốt đời.
Học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến.Tự học, tự
nghiên cứu giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế
- xã hội. Bằng con đường tự học, tự nghiên cứu mỗi cá nhân sẽ không cảm
thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình
huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn
từ môi trường nghề nghiệp. Nếu rèn luyện cho người học có được phương
pháp, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu biết linh hoạt vận dụng những điều đã học
vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày
càng được nâng cao.
Với những cơ sở lý luận trình bày ở trên tác giả nhận thấy, xây dựng được
phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ
khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học.
phân tích, tức rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo.
Để đánh giá thực trạng hiện nay về vấn đề giảng dạy của GV chuyên
ngành GDQP & AN, tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu câu hỏi (xem chi tiết
ở Phụ lục 3) với tổng số 22 GV. Số phiếu phát ra là 22, số phiếu thu về là 22,
có 22 phiếu đạt yêu cầu về nội dung thông tin và thu được kết quả như sau:
* Việc nhận thức về vai trò của việc tự học, tự nghiên cứu.
- Có 22/22 GV tỉ lệ 100% cho rằng tự học, tự nghiên cứu có vai trò
quan trọng đối với SV trong quá trình học tập.
- Không có GV nào cho rằng tự học, tự nghiên cứu có vai trò bình
thường hay không quan trọng đối với SV trong quá trình học tập.
17