TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
ĐẶNG THỊ KIM NGÂN
VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
TRONG XÂY DựNG Lực LƯỢNG vũ TRANG
CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỜI KỲ 1941 ■ 1945
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
HÀ NỘI - 2016
ĐẶNG THỊ KIM NGÂN
VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
TRONG XÂY
DựNG Lực LƯỢNG vũ
TRANG CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỜI KỲ
1941 -1945
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Ngưòi hướng dẫn khoa học
Đại tá Đào Văn Chung
Để hoàn thành khóa luận này, bằng sự cố gắng, nỗ lực của bản thân và những kiến thức được học tại trường,
cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy Đào Văn Chung, em đã hoàn thành khóa luận này.
QDND
Quân đội nhân dân
LLVT
Lực lượng vũ trang
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
CAND
Công an nhân dân
ANTT
An ninh trật tự
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
BVTQ
Bảo vệ tổ quốc
MỤC LỤC
3.1. Xây dụng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thấm nhuần sâu sắc, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, kế thừa những bài học kinh
nghiệm của ông cha ta về xây dựng tổ chức quân sự trong lịch sử giữ nước của
dân tộc, đồng thời đi sâu phân tích bản chất của chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí
Minh đã sớm chỉ ra đối với các dân tộc thuộc địa, muốn chiến thắng kẻ thù
hung bạo thì không có sự lựa chọn nào khác là phải “dùng bạo lực cách mạng
chống bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”.
Đầu năm 1941 sau gần ba mưoi năm hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí
Minh trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trực tiếp chỉ đạo xây
dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Sự ra đòi và lớn mạnh không
ngừng của lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, dân tộc ta
đã giành được thắng lợi vẻ vang trong Cách mạng Tháng 8 năm 1945, trong hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những thắng lợi vĩ đại
đó là minh chứng cho sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo và vai trò to lớn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, nhà chiến lược quân sự thiên tài, người cha thân yêu của lực
lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, người sáng lập, giáo dục rèn luyện Quân
đội nhân dân Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là một
bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản quân sự mà người để lại cho toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nội dung những quan điểm đó không chỉ có ý
nghĩa trực tiếp đến việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân
đội nhân dân trong đấu tranh cách mạng, mà còn là cơ sở nền tảng để Đảng ta
xây dựng lực lượng vũ ừang nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Trước yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu và vận
-
Vận dụng những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
4. Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của Hồ Chí Minh trong xây dựng lực
lượng vũ trang Cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 - 1945.
4.2.
-
Phạm vỉ nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng lực
lượng vũ trang cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 - 1945 và vận dụng
trong xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay.
8
5. Phương pháp nghiền cứu
-
Phương pháp lịch sử
-
-
Nội dung gồm: 3 chương
Chương 1: Bối cảnh tình hình thế giới và Việt Nam trong những năm đầu
của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai
Chương 2: Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng
vũ trang cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 - 1945
Chương 3: Vận dụng những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về xây dựng lực lượng vũ ừang nhân dân hiện nay
-
Kết luận và kiến nghị
-
Tài liệu tham khảo
Chương 1
BỐI CẢNH TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG NHỮNG
NĂM ĐẦU CỦA CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
•
9
1.1.
Vài nét về tình hình thế giói
năm 70 khi các nước tư bản phục hồi và vươn lên nhanh chóng, trước hết là Tây
Âu và Nhật Bản.
Bị thiệt hại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chẳng những mất
hết thuộc địa mà nền kinh tế cũng lâm vào tình ừạng bị phá hủy hoàn toàn. Đất
nước tiêu điều, các thành phố lớn bị tàn phá nặng nề, Nhật Bản bị kiệt quệ về
kinh tế, bị đè bẹp về quân sự, bị suy sụp về tinh thần, bị thiệt hại lớn về người
và của. Nhờ vào kế hoạch đầu tư của Mỹ mà bước sang những năm 60 của thế
kỷ XX, kinh tế Nhật Bản đã có bước phát triển nhanh chóng, đuổi kịp và vượt
các nước Tây Âu, vươn lên đứng thứ hai (sau Mỹ) trong thế giới tư bản chủ
nghĩa. Thực ra sự phát triển nhanh chóng vượt bậc này của kinh tế Nhật Bản có
những nguyên nhân khách quan, chủ quan của nó, và sự “thần kỳ” này đã chứa
đựng những mặt trái của nó mà từ đầu những năm 70 trở đi đã ngày càng bộc lộ
rõ ràng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng Nhật Bản đã có những bước tiến
hết sức kỳ diệu trong tất cả các lĩnh vực, khiến cả thế giới phải kinh ngạc.
- Thứ hai, hai cường quốc Xô - Mỹ từ quan hệ đồng minh trong Chiến
tranh thế giới thứ hai, sau chiến tranh quan hệ ấy nhanh chóng chuyển thành
quan hệ đối đầu. Từ quan hệ đối đàu giữa hai nước chuyển thành quan hệ đối
đầu giữa hai phe - phe xã hội chủ nghĩa và phe tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên,
trong bối cảnh thế giới hai cực, quan hệ Xô - Mỹ, quan hệ giữa hai phe, mặc dù
mâu thuẫn, nhưng vẫn phụ thuộc và kiềm chế nhau, đều thực hiện chiến lược
phòng ngự, đều tránh đụng đầu trực tiếp vói nhau. Vì thế, về đại cục, hòa bình
thế giới được duy trì trong suốt thời kì chiến tranh lạnh và cả sau đó.
Giữa “hai cực” Liên Xô và Mỹ có những mâu thuẫn rõ ràng. Trong khi
“cực” Liên Xô luôn luôn làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng xã hội chủ
nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc và sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, dân
chủ và tiến bộ xã hội; ngược lại, “cực” Mĩ luôn ra sức cấu kết, giúp đỡ các thế
lực phản động chống phá cách mạng thế giới với mưu đồ vươn lên vị trí thống
Thứ tư, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cao trào giải phóng dân tộc diễn
ra sôi nổi ở khắp các lục địa của Ắ, Phi, Mỹ Latinh, hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa thực dân bị tan vỡ từng mảng lớn và đến giữa những năm
1
2
60 đã sụp đổ về cơ bản. Hơn 100 quốc gia dân tộc trẻ tuổi ra đòi, ngày
càng tham gia tích cực vào đời sống chính trị thế giới. Bộ mặt hành tinh
thay đổi to lớn. Trong chiến lược của hai cường quốc Xô - Mỹ và hai hệ
thống không thể không tính đến lực lượng này.
-
Thứ năm, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật bùng nổ vào những năm
40 của thế kỷ XX và diễn ra mạnh mẽ sau đó. Cuộc cách mạng này đã
đưa lại những tiến bộ nhảy vọt, những thành tựu kì diệu, những tác động
tích cực và những hậu quả của nó rất to lớn. Những nước nào đi sâu vào
cách mạng khoa học - kỹ thuật, tận dụng những thành tựu của nó thì
vươn lên mạnh mẽ, tiếng nói của họ trong quan hệ quốc tế ngày càng có
trọng lượng hơn. Những nước bỏ lỡ cơ hội tận dụng thành tựu của cách
mạng khoa học - kỹ thuật, thì tụt hậu, hình bóng của các nước ấy trong
quan hệ quốc tế cũng trở nên mờ nhạt.
1.1.2. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hay còn gọi là cách mạng kỹ
thuật lần thứ hai có những điểm khác biệt so vói cuộc Cách mạng kỹ
thuật lần thứ nhất
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, hay còn gọi là cách mạng kỹ thuật
làn thứ hai có những điểm khác biệt so với cuộc Cách mạng kỹ thuật làn thứ
nhất, vì có nội dung phong phú hơn và phạm vi rộng lớn hơn nhiều, nó diễn ra
1.2.2. Đời sắng của nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về chính
trị, bần cùng về kỉnh tế, chịu cảnh “một cồ hai tròng”
Lợi dụng sự thất thủ của Pháp ở Đông Dương, tháng 9/1940 Nhật Bản
cho quân xâm lược Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng và dâng Đông
Dương cho Nhật. Chịu cảnh “một cổ hai tròng” đòi sống của nhân dân Việt
Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế.
-
Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam vói Pháp, Nhật và tay sai phản động
ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
1.3.
Các cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên bùng nổ
1.3.1. Khởi nghĩa Bắc Sơn, Khởi nghĩa Nam Kỳ và Bỉnh biến Đô Lương
-
Ngày 27 tháng 9 năm 1940, người dân Bắc Sơn do Đảng bộ Đảng Cộng
sản Đông Dương địa phương lãnh đạo đã chớp cơ hội đế quốc Nhật tấn
công vào Lạng Sơn, đế quốc Pháp trốn chạy về Thái Nguyên qua Bắc
Sơn,
Đảng bộ Bắc Sơn huy động dân chúng vũ trang cướp chính quyền, tấn công
chiếm được đồn Mỏ Nhài, tiếp tục tấn công tàn quân Pháp ở đèo Canh Tiêm,
Sập Dì. Xứ ủy Bắc Kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương cử Trần Đăng Ninh lãnh
1
4
Ngày 13/1/1941, dưới sự chỉ huy của Đội Cung (Nguyễn Văn Cung),
binh lính người Việt trong quân đội Pháp đang đóng ở đồn Chợ Rạng
(Thanh
1
5
Chương, Nghệ An) đã nổi dậy. Tối hôm đó, họ đánh chiếm đồn Đô Lương rồi
lên xe kéo về Vinh, định cùng binh lính người Việt ở đây tấn công Pháp để
chiếm thành. Ke hoạch không thành, Đội Cung bị bắt và bị xử tử cùng với 10
đồng đội của ông tại Vinh ngày 24/4/1941. Nhiều người khác bị kết án khổ sai
và đưa đi đày.
1.3.2. Phong trào Việt Minh
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam và trực tiếp lãnh đạo cách
mạng chống Pháp. Sau một thòi gian nắm tình hình quốc nội và chuẩn bị,
Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần vm Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Đông Dương từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941
trong rừng Khuổi Nậm, thuộc Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Hội
nghị Pác Bó đã xác định cuộc cách mạng ở Đông Dương ừong giai đoạn hiện
tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng và chủ trương thành lập Mặt trận
dân tộc thống nhất riêng cho mỗi nước Việt Nam, Lào, Cam-pu- chia. Ngoài ra,
hội nghị cũng hoàn chỉnh hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng được đề ra từ
hội nghị VI vào tháng 11 năm 1939 là đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
hàng đầu. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, vào ngày 19 tháng 5 năm 1941,
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là
Việt Minh).
1.3.3. Cao trào kháng Nhật
Cao trào kháng Nhật cứu nước và Khởi nghĩa Ba Tơ
Quân đội Nhật đã mở các cuộc càn quét, bình định, tấn công mạnh vào các
vùng của Việt Minh. Quân Việt Minh, các đội dân quân - tự vệ, du kích đã
chống trả quyết liệt, bảo vệ căn cứ của họ. Tại các đô thị, các phong trào đấu
tranh của công nhân, học sinh, viên chức dâng cao. Nhiều tổ chức công nhân
cứu quốc được xây dựng ở nhiều xí nghiệp. Cao trào kháng Nhật hoạt động sôi
nổi trên cả nước.
1.3.4. Cách mạng tháng Tám
- Khi Đế quốc Nhật đầu hàng phe Đồng Minh giữa năm 1945, Việt Nam
có cơ hội lớn giành lại độc lập. Cơ hội này đã được Hồ Chí Minh và Việt
Minh tận dụng. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương và
1
7
Mặt trận Việt Minh tổ chức cuộc Cách mạng tháng Tám, khởi đầu từ Tổng khởi
nghĩa Hà Nội rồi dần lan rộng ra khắp miền Bắc, miền Trung, miền Nam và cả
nước. Kết quả Đe quốc Nhật và chính phủ Đe quốc Việt Nam do họ thành lập
và bảo hộ đã sụp đổ.
- Việt Nam phục hồi độc lập.
1.3.5. Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam
Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội,
Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ
nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để ra mắt
người dân và chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ
cộng hòa.
Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh mời một số người đến góp ý
cho bản Tuyên ngôn độc lập do ông soạn thảo.
Ngày 31 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh bổ sung thêm cho dự thảo
-
về đến Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ sở
cách mạng, tổ chức quần chúng, chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần
thứ tám của Đảng. Hội nghị họp trong tháng 5/1941 tại Pắc Bó do Ngưòi
chủ trì, tiếp tục chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, nhưng
nêu cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chủ
trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Việt Nam,
Lào, Cam-pu-chia, ở mỗi nước thành lập một mặt trận đoàn kết dân tộc
đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không
phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cầu cuộc
dân tộc giải phóng. Chuẩn bị tiến tói cuộc khởi nghĩa vũ trang khi thời
cơ đến lúc này được coi là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân
ta.
-
Cuối năm 1940, sau khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, theo chủ trương của
Đảng, một bộ phận lực lượng vũ trang chuyển sang xây dụng các đội du
kích, sau thống nhất thành đội Cứu quốc quân hoạt động ở căn cứ Bắc
Sơn - Võ
Nhai. Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng (từ tháng 71941 đến tháng 2/1942) sau đó phân tán thành nhiều bộ phận để chấn chỉnh lực
1
9
lượng và tiến hành công tác vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở chính trị
trong quàn chúng ở các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn.
thị cho các cấp sửa soạn khởi nghĩa và kêu gọi nhân dân “Sắm vũ khí
đuổi thù chung”. Tháng 10/1944, Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào
toàn quốc nêu rõ: “phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt... Cơ hội cho
1 dân tộc ta chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thòi gian rất gấp,
2
0
ta phải làm nhanh”.
2.1.4. Hai đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân
cùng nhau hợp nhất thành Việt Nam Giải phóng quân
-
Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và được Hồ Chí Minh giao trọng
ttách, ngày 22/12/1944 Võ Nguyên Giáp thành lập “Đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân” gồm 34 chiến sĩ trong một khu rừng thuộc
huyện Nguyên Bình - Cao Bằng. Sau đó, Đội xuất quân và giành chiến
thắng liền trong hai trận, tiêu diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần
(Cao Bằng) ngày 25 và 26/12/1944.
-
Phát huy trận đầu ra quân là chiến thắng, đội đẩy mạnh hoạt động vũ
trang tuyên truyền, kết hợp chính trị và quân sự, xây dựng cơ sở cách
mạng, góp phần củng cố và mở rộng khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng, cổ vũ
và thúc đẩy phong trào cách mạng trong cả nước.
+ Ở Thái Nguyên, đội Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích, hạ
nhiều đồn địch, phối họp cùng với nhân dân thành lập chính quyền ở một số
-
Đảng và Mặt trận Việt Minh còn phái các cán bộ hoạt động dưới hình
thức công khai, bán công khai trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng để gây
dựng phong trào văn hoá tư tưởng tiến bộ, cách mạng, mang tính chất
quần chúng; họ đi sâu đi sát với những người làm công tác văn hoá - văn
nghệ, với giới trí thức, thanh niên để tổ chức, đoàn kết họ, hướng họ
tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, vào công cuộc chuẩn bị khởi
nghĩa của toàn dân.
-
Đề cương văn hoá Việt Nam do Đảng Cộng sản đưa ra năm 1943 đã
vạch rõ tính chất phản động của văn hoá nô dịch của thực dân Pháp phát xít Nhật và tay sai, nêu lên tầm quan trọng của cách mạng văn hoá,
là một trong ba mặt trận đấu ừanh do Đảng lãnh đạo đó là chính ừị, kinh
tế và tư tưởng văn hoá.
-
Văn hoá mới của Việt Nam là nền văn hoá mang tính chất dân tộc và dân
chủ. Nền văn hoá đó phải được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản:
khoa học, dân tộc, đại chúng.
Muốn cho ba nguyên tắc đó được thực hiện, một mặt, cần ra sức xây dựng
nó; mặt khác, cần tích cực đấu tranh chống lại văn hoá tư tưởng thực dân phong
kiến, nô dịch, phản khoa học, phản dân tộc, phản nhân dân, xa ròi quàn chúng.
Cùng với “Đe cương văn hoá Việt Nam”, Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam ra
2
2
Người, được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:
+ Một là, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam phải do Đảng tổ chức,
2
3
lãnh đạo, giáo dục và luôn mang bản chất giai cấp công nhân. Để đáp ứng tình
hình phát triển của phong trào cách mạng, ngay sau khi về nước (đầu năm
1941), Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng tháng 5/1941. Người xác định: Cách mạng Đông Dương phải kết
liễu chế độ thực dân phong kiến bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Muốn vậy,
Đảng phải thành lập những đội tuyên truyền để tổ chức bảo vệ tất cả hội viên
cách mạng và đông đảo dân chúng tham gia khởi nghĩa, phải lập những đội tự
vệ làm quân chủ lực ttong khởi nghĩa. Như vậy, theo Người, vấn đề cốt lõi là
lực lượng vũ trang phải do Đảng Cộng sản tổ chức, lãnh đạo và giáo dục, rèn
luyện. Trong “Cuốn sách của người chính trị viên” Nguyễn Ái Quốc viết:
Người đứng ra tổ chức và lãnh đạo lực lượng vũ trang là Đoàn thể (Đảng) của
chúng ta. Tiếp đó, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm “Cách đánh du kích”, trong
đó vạch ra những nguyên tắc và phương pháp tác chiến của lực lượng vũ trang
trong thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền. Để đánh du kích giành thắng lợi,
trước hết phải “có con đường chính trị đúng”; “dựa trên cơ sở quần chúng”; “có
tổ chức vững chắc và nghiêm mật”; “có một lối đánh tài giỏi”.
Theo Người, đánh du kích của lực lượng vũ ừang không phải là hoạt động
nhỏ, lẻ theo kiểu manh động, mà là hoạt động của một tổ chức vũ trang cách
mạng, có kỷ luật chặt chẽ, dựa vào đường lối chính trị đúng đắn của đoàn thể
cách mạng tiên phong và cao trào cách mạng của quần chúng. Quan điểm của
Người là, lực lượng vũ trang nhân dân phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Đông Dương và mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân.
Điều này càng được khẳng định khi thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải
kế hoạch hoạt động, giải quyết kịp thời đúng đắn các việc cấp bách trước mắt
và các việc sinh hoạt tinh thần, vật chất hằng ngày. Chính trị viên phải nhúng
tay vào tất cả mọi việc để dìu dắt người khác. Người cũng đã bồi dưỡng và chỉ
đạo các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn hai tác phẩm:
“Công tác chính trị ừong quân đội cách mạng” và “Chính trị viên trong quân
đội”. Đây là hai cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam về công tác Đảng, công tác
2
5