Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô LVN99 trên đất dốc tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái. - Pdf 39

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THỊ TÂM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN VIÊN NÉN ĐẾN
SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ
LVN99 TRÊN ĐẤT DỐC TẠI HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Trồng trọt

Khoa

: Nông học

Khoá học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015


Khoá học

: 2011 - 2015

Giảng viên hƣớng dẫn : TS. Trần Trung Kiên

Thái Nguyên, năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết em xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô Trƣờng Đại học
Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên lời cảm ơn chân thành nhất. Quý Thầy, Cô
khoa Nông học – đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong
suốt 4 năm học tập và rèn luyện tại trƣờng.
Để có đƣợc kết quả này em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS.
Trần Trung Kiên, ngƣời đã rất nhiệt tình hƣớng dẫn giúp em hoàn thành
khóa luận này.
Với điều kiện thời gian có hạn cũng nhƣ kiến thức và kinh nghiệm còn
hạn chế của một sinh viên sẽ không tránh khỏi những sai sót trong bài báo cáo
này. Em rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý giá của các thầy cô
để em có điều kiện bổ sung vào hành trang kiến thức của mình.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Nông Thị Tâm




CSDTL (LAI) : Chỉ số diện tích lá
CV

: Hệ số biến động

CT

: Công thức

Đ/C

: Đối chứng

FAO

: Tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc

LSD

: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa

NSLT

: Năng suất lý thuyết

NSTT

: Năng suất thực thu


3.2.2. Thời gian nghiên cứu .................................................................... 25
3.3. Nội dung nghiên cứu ........................................................................ 25
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................. 26
3.4.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm .................................................... 26
3.4.2. Quy trình kỹ thuật ......................................................................... 27


v

3.4.3. Các chỉ tiêu và phƣơng pháp theo dõi, đánh giá ........................... 28
3.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu ............................................................... 32
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................ 33
4.1. Ảnh hƣởng của phân viên nén tới thời gian sinh trƣởng của giống
ngô LVN99 trong vụ Hè Thu 2014 tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ... 33
4.2. Ảnh hƣởng của phân viên nén tới đặc điểm hình thái, sinh lý của
giống ngô LVN99 trong vụ Hè Thu 2014 tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên
Bái ........................................................................................................... 36
4.2.1. Chiều cao cây ................................................................................ 37
4.3.2. Chiều cao đóng bắp ....................................................................... 37
4.2.3. Số lá trên cây ................................................................................. 38
4.2.4. Chỉ số diện tích lá.......................................................................... 39
4.3. Ảnh hƣởng của phân viên nén tới khả năng chống chịu sâu, bệnh của
giống ngô LVN99 trong vụ Hè Thu 2014 tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên
Bái ........................................................................................................... 40
4.3.1. Sâu đục thân .................................................................................. 41
4.3.2. Bệnh khô vằn ................................................................................ 42
4.4. Ảnh hƣởng của phân viên nén tới các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của giống ngô LVN99 trong vụ Hè Thu 2014 tại huyện Văn
Yên, tỉnh Yên Bái.................................................................................... 42
4.4.1. Số bắp trên cây .............................................................................. 43

2009) [24].
Trong các yếu tố làm tăng năng suất cây trồng thì phân bón có ảnh
hƣởng lớn nhất. Thực tế cho thấy, việc sử dụng phân bón theo phƣơng pháp
bón vãi thông thƣờng gây ra những tác động tiêu cực không chỉ ở việc làm
giảm hiệu suất sử dụng phân bón, tăng chi phí đầu vào của ngƣời nông dân
mà nó còn có tác động xấu tới môi trƣờng đất, nƣớc, không khí. Do đó cần có
một giải pháp làm tăng hiệu quả kinh tế cũng nhƣ hiệu quả sử dụng phân bón
là một yêu cầu bức thiết đặt ra.
Việc sử dụng phân viên nén đƣợc khẳng định là khắc phục đƣợc tình
trạng rửa trôi, bay hơi, liên kết với đất chặt hơn so với bón vãi thông thƣờng.
Dùng phân viên nén tiết kiệm đƣợc 35 - 40% lƣợng phân so với bón vãi, làm
tăng 15 -19% năng suất ở lúa, ít sâu bệnh do ruộng thông thoáng (Nguyễn Tất
Cảnh, 2005)[4]. Thí nghiệm bón phân viên nén cho ngô đã đƣợc tiến hành
năm 2006, 2007 tại Quảng Uyên, Cao Bằng; năm 2008 tại Sơn La đã làm tăng
năng suất 12 - 20% (Nguyễn Tất Cảnh, 2008)[6] tiết kiệm đƣợc 20 - 30% chi
phí bón phân do chỉ phải bón một lần trong cả vụ (Đỗ Hữu Quyết, 2008)[20];
Kết quả thí nghiệm về bón phân viên nén hữu cơ trên đất cát Quảng Bình cho
thấy, số lần bón phân viên nén hữu cơ khoáng chậm tan đƣợc chia làm 3 lần
bao gồm bón lót, bón thúc khi ngô 3 - 4 lá và khi ngô 6 - 7 lá cho các chỉ tiêu
sinh trƣởng và năng suất ngô cao nhất (Phạm Đức Ngà và cs, 2012)[14].
Ƣu điểm chính của các loại phân chậm tan là phân bón đƣợc cung cấp
từ từ, cây lúc nào cũng có đủ dinh dƣỡng, giảm chi phí lao động cho việc bón


2

phân, phun thuốc, hạn chế độc hại cho môi trƣờng. Tiềm năng sử dụng phân
chậm tan sẽ là rất lớn, đặc biệt là ở những nơi có nguy cơ bị mất đạm lớn và
đối với những cây trồng có bộ rễ ăn nông (Balkcom, K. S và cs, 2003)[29];
các thí nghiệm áp dụng các loại phân này cho thấy khi bón cho bông làm

tỉnh Yên Bái.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu ảnh hưởng của phân viên nén đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
của giống ngô LVN99 trên đất dốc tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Xác định đƣợc công thức phân viên nén thích hợp cho giống ngô
LVN99 trên đất dốc tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Giúp sinh viên trau dồi kiến thức và vận dụng những kiến thức đã học
vào thực tế một cách khoa học.
- Nâng cao trình độ chuyên môn, tác phong làm việc nghiêm túc, đúng
đắn, sáng tạo và có đƣợc những kinh nghiệm quý báu.
- Biết cách thực hiện một báo cáo nghiên cứu khoa học và có kinh
nghiệm để làm khóa luận tốt nghiêp.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở bƣớc đầu cho việc sử dụng
phân bón phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Xác định đƣợc lƣợng phân viên nén thích hợp cho giống ngô lai trên
chân đất dốc huyện Văn Yên nói riêng và của tỉnh Yên Bái nói chung, góp
phần tăng năng suất, sản lƣợng ngô trên đất dốc, tăng hiệu quả kinh tế, giúp
nông dân tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Kết quả nghiên cứu về phân
viên nén cho ngô trên đất dốc ở tỉnh Yên Bái có thể áp dụng ra một số tỉnh
khác lân cận ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

hiệu quả của chúng phụ thuộc nhiều vào môi trƣờng bên ngoài nhƣ độ ẩm,
mặt khác nơi sản xuất ở xa so với nơi sử dụng dẫn đến chi phí vận chuyển
cao, hơn nữa do tính đa dạng về loại đất nên các loại phân trên khó đáp ứng
đƣợc nhu cầu dinh dƣỡng cả về lƣợng và tỷ lệ cho cây trồng. Để khắc phục
những trở ngại trên Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu và
sản xuất loại phân viên nén có chứa các chất điều tiết việc giải phóng các chất
dinh dƣỡng trong phân bằng nguyên liệu sẵn có trong nƣớc và có thể sản xuất
ngay tại địa phƣơng. Điểm khác biệt của phân viên nén đƣợc sản xuất bởi
Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội với các loại phân chậm tan trên thế giới
là ở chỗ đạm không phải đƣợc bọc lại và đạm đƣợc kết hợp với các chất phụ
gia cho vào trong viên phân để tạo thành các hợp chất đạm khó tan hơn, đạm
và các chất dinh dƣỡng đƣợc bọc lại trong những “viên phân” nhỏ hơn trong
một viên phân lớn hơn.
Để cho viên phân khi bón vào đất nhanh chóng hút nƣớc hoà tan, phân
hoá học đƣợc trộn với một lƣợng nhỏ các chất hữu cơ. Trong điều kiện đất cây
trồng cạn có nhiều khe hở, phân có thể bị mất đi dƣới dạng bay hơi, để khắc
phục tình trạng này sau khi bón phân viên nén trên đất dốc trồng ngô, sắn đƣợc
che phủ bởi nilon tự huỷ hoặc có thể dùng thảm tàn dƣ cây trồng, về sau có thể
sử dụng các nguyên liệu hữu cơ địa phƣơng (tàn dƣ thân lá ngô, rơm rạ, cỏ
v.v.) để sản xuất các tấm thảm che phủ cho ngô. Các biện pháp trồng xen để
giữ độ ẩm cũng đƣợc khuyến khích áp dụng.
2.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Trên thế giới có nhiều giả thuyết về nguồn gốc cây ngô, những nghiên
cứu về di truyền học gần đây cho rằng quá trình thuần hóa diễn ra vào khoảng
năm 7000 TCN tại miền trung Mexico và tổ tiên của cây ngô là loại cỏ


6



56,6

58,1

59,3

48,1

49,7

51,2 271,9 288,8

304,3

Châu Âu

16,6

18,3

19,0

66,6

51,7

61,9 110,6

94,7


20,4

66,5

70,0

71,6

Châu Úc

0,86

0.94

1,02

68,2

72,9

70,8

0,58

0,68

0,73

888

Năng suất
(tạ/ha)

Sản lƣợng
(triệu tấn)



35,5

99,7

353,7

Trung Quốc

35,2

61,8

217,8

Brazil

15,3

52,5

80,5


nhất thế giới với diện tích 35,5 triệu ha, sản lƣợng đạt 353,7 triệu tấn chiếm
34,8% sản lƣợng ngô thế giới. Trung Quốc là nƣớc có diện tích trồng ngô lớn
thứ 2 trên thế giới với 35,2 triệu ha đạt sản lƣợng 217,8 triệu tấn chiếm 25%
tổng sản lƣợng ngô của thế giới. Mặc dù có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt,
diện tích trồng ngô nhỏ (0,033 triệu ha) nhƣng với trình độ khoa học cao, đầu
tƣ lớn nên Isarel có năng suất ngô cao nhất thế giới đạt 256 tạ/ha cao hơn gấp
5,2 lần so với bình quân năng suất ngô thế giới (năm 2013).
2.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Cây ngô đƣợc du nhập vào nƣớc ta cách đây khoảng 300 năm nhƣng
đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệ
thống cây lƣơng thực. Lịch sử trồng ngô của nƣớc ta qua các thời kỳ là một
quá trình phát triển không đồng đều và bền vững thậm chí có giai đoạn rất trì
trệ và không tƣơng xứng với tiềm năng sẵn có của cây ngô.
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2013
Diện tích

Năng suất

Sản lƣợng

(1000 ha)

(tạ/ha)

(1000 tấn)

2004

991,1


1.140,2

40,2

4.573,1

2009

1.086,8

40,8

4.431,8

2010

1.126,9

40,9

4.606,3

2011

1.081,0

46,8

4.684,3


Việt Nam. Ngô ở nƣớc ta thực sự có những bƣớc tiến nhảy vọt là từ đầu những
năm 1990 đến nay, do không ngừng mở rộng diện tích trồng giống ngô lai ra
sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của
giống mới. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam đƣợc thể hiện ở bảng 2.3.
Số liệu bảng 2.3 cho thấy sản xuất ngô của nƣớc ta tăng nhanh về diện
tích, năng suất và sản lƣợng trong giai đoạn 2004- 2013. Năm 2004 cả nƣớc
trồng đƣợc 991,1 nghìn ha, năm 2013 là 1.172,6 nghìn ha, tăng hơn 181,5
nghìn ha so với năm 2004. Việc tăng cƣờng sử dụng giống ngô lai cho năng
suất cao kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, áp dụng những
thành tựu khoa học đã khiến cho năng suất ngô liên tục tăng trong giai đoạn
2004- 2013 (từ 34,6 tạ/ha lên 44,3 tạ/ha). Sản lƣợng ngô năm 2013 đã tăng so
với năm 2012 lên mức 5.193,5 nghìn tấn. Tuy diện tích, năng suất và sản
lƣợng ngô của chúng ta đều tăng nhanh nhƣng so với bình quân chung của thế
giới và khu vực thì năng suất ngô của nƣớc ta còn rất thấp (năm 2011 năng
suất ngô của Việt Nam 46,8 tạ/ha, bằng 90,27% năng suất bình quân của thế
giới, nhƣng đến năm 2013 năng suất ngô giảm nhẹ xuống còn 44,3 tạ/ha. Điều
này đặt ra cho ngành sản xuất ngô Việt Nam những thách thức và khó khăn to
lớn, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển nhƣ hiện nay. Đòi hỏi đội
ngũ chuyên môn cũng nhƣ các nhà khoa học trong cả nƣớc tiếp tục lỗ lực,
nghiên cứu ra những giống ngô va biện pháp kỹ thuất canh tác hiệu quả để


10

nâng cao năng suất và chất lƣợng của sản xuất ngô Việt Nam, góp phần vào
sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam.
2.2.3. Tình hình sản xuất ngô tại tỉnh Yên Bái
Yên Bái là tỉnh miền núi, nằm giữa vùng Tây Bắc - Đông Bắc và Trung
du Bắc bộ. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Yên Bái là 688.627,64 ha, trong đó
diện tích nhóm đất nông nghiệp là 585.088,51 ha, chiếm 85% diện tích đất tự

2006

14,3

24,5

35,0

2007

15,8

25,3

39,9

2008

17,4

26,0

45,3

2009

18,5

26,7


31,6

84,4

(Nguồn: FAOSTAT, 2015) [38]
Trong những năm gần đây, diện tích trồng ngô của tỉnh Yên Bái tăng
thêm chủ yếu là tăng diện tích ngô Xuân và ngô Hè Thu gieo trồng trên đất
đồi dốc. Tổng diện tích đất trồng ngô của Yên Bái từ 22.000 - 25.600 ha.
Diện tích này không hoàn toàn cố định mà thay đổi rất nhiều do các điều
kiện sản xuất, cơ cấu luân canh, thời vụ và thị trƣờng tiêu thụ. Diện tích


11

trồng đã tăng gấp đôi từ 13 nghìn ha (2004) lên 26,7 nghìn ha (2013), tuy
nhiên năng suất ngô của tỉnh vẫn ở mức thấp và tăng chậm trong những năm
gần đây, năm 2004 đạt 23,3 tạ/ha đến 2013 chỉ tăng lên 31,6 tạ/ha. Có tới
95% sử dụng giống ngô lai song năng suất vẫn thấp, nguyên nhân là do điều
kiện tự nhiên khô hạn, rét kéo dài và trình độ thâm canh còn thấp. Sản lƣợng
tăng đều theo diện tích ngô hàng năm, năm 2013 sản lƣợng ngô đạt 84,4
nghìn tấn tăng gấp đôi so với năm 2007.
Cơ cấu mùa vụ sản xuất của Tỉnh Yên Bái:
+ Vụ ngô Xuân (từ tháng 2 đến tháng 6 hàng năm): Đây là vụ sản xuất
chính trong năm với diện tích 7.000 - 7.500 ha, chiếm 42 - 45% tổng diện tích
gieo trồng cả năm. Diện tích ngô xuân đƣợc trồng chủ yếu trên diện tích đất đồi
thấp (80 - 82%) và diện tích soi bãi chuyên canh ngô (18 - 20%). Các giống
ngô đựơc gieo trồng chủ yếu là các giống ngô lai có thời gian sinh trƣởng trung
ngày, năng suất khá, chịu hạn tốt nhƣ LVN99, LVN10, C919, CP999,
NK4300, B06…Năng suất ngô vụ Xuân bình quân đạt 26 - 27 tạ/ha, sản lƣợng
hàng năm đạt 17.500 - 18.000 tấn chiếm 40 - 45% sản lƣợng ngô cả năm.

+ Giống ngô: Trên 95% diện tích ngô tỉnh Yên Bái đƣợc gieo trồng
bằng các giống ngô lai, diện tích ngô thụ phấn tự do hiện chỉ còn rất ít tập
trung chủ yếu tại các xã vùng cao hoặc vùng ven đô thị nơi có nhu cầu sử
dụng ngô làm lƣơng thực (ăn tƣơi). Các giống ngô lai đƣợc sử dụng chủ yếu
là: LVN99, C919, B06, LVN10, CP999, NK4300, các giống nếp lai. Nguồn
gốc giống ngô đƣợc cung ứng chủ yếu qua hệ thống cung ứng của Trung tâm
Giống cây trồng, các đại lý vật tƣ nông nghiệp, Công ty CP lƣơng thực Yên
Bái và một số công ty cung ứng trực tiếp cho các chƣơng trình dự án.
+ Đầu tƣ phân bón: Ngô là cây trồng có nhu cầu đầu tƣ phân bón cao,
song thực tế lƣợng phân bón hiện tại thấp, đối với diện tích ngô trên đất đồi dốc
ngƣời dân chủ yếu lợi dụng độ phì của đất lƣợng bón vô cơ mới chỉ đạt 30 - 40%
yêu cầu chủ yếu là bón lót phân NPK với lƣợng 300 - 500kg/ha. Đối với diện


13

tích ngô trên đất soi bãi và đất 2 vụ lúa lƣợng phân bón đã đáp ứng đƣợc 70 75% nhu cầu phân đạm song lƣợng phân hữu cơ và phân kali tƣơng đối thấp.
+ Mật độ và khoảng cách: Mật độ trồng ngô tại Yên Bái về số lƣợng
cây/ha có thể đảm bảo song khoảng cách giữa các cây không đảm bảo đặc
biệt là ở các xã vùng cao, ngƣời dân thƣờng có thói quen gieo dày nhiều
cây/hốc và khoảng cách giữa các hốc thƣa do đó dẫn đến tình trạng bắp nhỏ,
năng suất thấp.
2.3. Nghiên cứu về phân bón cho ngô trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Nghiên cứu về phân bón cho ngô trên thế giới
Trong điều kiện thiếu nƣớc hiệu quả sử dụng đạm giảm. Vì vậy, để sản
xuất ngô lai đạt hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện thiếu nƣớc nên bón đạm
ở liều lƣợng thấp. Trong 3 năm 1995 – 1997, tại Thái Lan, nghiên cứu ảnh
hƣởng của lƣợng đạm bón từ 80 – 160 kg N/ha đến 2 giống ngô thụ phấn tự
do (Swan 1 La và Postai Seqiua) và 2 giống ngô lai (KTX – 2602 và DK888)
cho thấy: trong điều kiện gặp hạn trƣớc trỗ các giống ngô thí nghiệm đạt năng

hơn sự hút đạm nitrat, trái lại các cây ngô già dạng đạm hút chủ yếu là đạm
nitrat và có thể chiếm tới hơn 90% tổng lƣợng đạm cây hút (Arnon, 1974) [28].
Năng suất ngô vùng Nhiệt đới thấp hơn năng suất ngô vùng Ôn đới bởi
số hạt/ diện tích đất và chỉ số thu hoạch (HI) của ngô Nhiệt đới thấp hơn ngô
của vùng Ôn đới. Nhìn chung, cây ngô quang hợp theo chu trình C4 và nó
phù hợp nhiệt độ cao, ngƣời ta thừa nhận là ngô có thể đạt năng suất chất khô
cao ở vùng Nhiệt đới (Evan, 1985) (Mitsuru, 1994) [33].
Canh tác ngô trong điều kiện đủ hay thiếu nƣớc cũng ảnh hƣởng đến
hiệu quả sử dụng phân bón nói chung, phân đạm nói riêng. Nếu hạn ở mức
thấp mà canh tác ngô vừa thiếu đạm vừa thiếu nƣớc thì ảnh hƣởng của thiếu
đạm đến năng suất ngô mạnh hơn ảnh hƣởng của thiếu nƣớc. Nếu hạn nặng
thì ảnh hƣởng của nƣớc trở nên rõ rệt hơn (Bennett, J. M., 1986) [30].


15

Theo Dauphin (1985) để tạo ra mỗi một tấn hạt, cây ngô hút từ 23 – 24
kg N; 6,5 – 11 kg P2O5 và 14 – 42 kg K2O/ha từ đất. Yêu cầu dinh dƣỡng thay
đổi khác nhau tuỳ thuộc vào giống và mức năng suất đƣợc tạo ra. Năng suất
ngô cao không thể thiếu đƣợc sự cung cấp dinh dƣỡng thật đầy đủ (dẫn theo
Subandi và cs, 1998) [35].
Trong điều kiện đất nghèo đạm và canh tác nhờ nƣớc trời thì giống ngô
lai có thể đạt hiệu quả sử dụng đạm ở mức 20 – 40 kg ngô hạt/ kg N. Trong
điều kiện này tƣơng quan giữa năng suất và lƣợng đạm cây hút thƣờng đạt hệ
số r > 0,9 trong phạm vi lƣợng đạm bón thấp. Tuy nhiên, khi lƣợng đạm bón
tăng lên đến mức độ nhất định nếu tiếp tục tăng thì năng suất ngô lại bị giảm
(Arnon, I., 1974) [28].
Các tác giả Seats và Stanberry (1963) cho rằng: Lân trong đất thƣờng ở
hai dạng chất khoáng và chất hữu cơ. Về số lƣợng thƣờng thấp hơn N và K và
ở mức độ rất khác nhau từ 0,1 – 0,4%, hiếm khi lớn hơn 0,5%. Hầu hết lân

bón cân đối (trung bình của nhiều liều lƣợng đạm) có thể đạt 33 tạ/ha trên đất
phù sa sông Hồng; 37,7 tạ/ha trên đất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên đất xám và 3,9
tạ/ha trên đất đỏ vàng. Xét về hiệu quả kinh tế thì bón phân cân đối cho ngô
trên đất bạc màu, đất xám có lãi hơn nhiều so với đất phù sa và đất đỏ vàng
(Nguyễn Văn Bộ, 2007) [2].
Trên đất bạc màu, không bón kali, cây trồng chỉ hút đƣợc 80 – 90 kg
N/ha trong khi đó bón kali làm cây trồng hút đƣợc tới 120 – 150 kg N/ha
(Nguyễn Văn Bộ, 2007) [2].
Theo hƣớng dẫn của Cục Trồng trọt (2006) [5], để đạt năng suất ngô
trên 7 tấn/ha ở các tỉnh miền Bắc, thì lƣợng phân bón nhƣ sau:
- Đối với loại đất tốt: 10 - 15 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 100 120 kg P2O5; 80 - 100 kg K2O/ha.


17

- Đối với đất trung bình: 10 - 15 tấn phân chuồng; 180 - 200 kg N; 120
- 140 kg P2O5; 100 - 120 kg K2O/ha.
Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002)[7], từ năm 1985 đến nay tình hình sử
dụng phân đạm ở nƣớc ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là 13,9%/năm,
phân kali là 23,9%/năm. Tổng lƣợng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng
trung bình 9,0%/năm. Tỷ lệ N : P2O5 : K2O trong 10 năm qua đã cân đối hơn
với tỷ lệ tƣơng ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000 là 1 : 0,12 : 0,05; 1 : 0,46
: 0,12 và 1 : 0,44 : 0,37. Lƣợng phân bón/ha cũng đã tăng lên qua các năm
1990, 1995, 2000 với tổng lƣợng N : P2O5 : K2O tƣơng ứng là 58,7; 117,7 và
170,8 kg/ha, tỷ lệ này còn thấp so với các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Hàn Quốc,
Pháp, Nhật với tổng lƣợng N : P2O5 : K2O khoảng 240 – 400 kg/ha.
Kết quả nghiên cứu của Lê Quý Kha (2001)[10] đã chỉ ra rằng mặc dầu
trong điều kiện ít có khả năng đầu tƣ đạm và thiếu nƣớc, ví dụ nhƣ nhờ nƣớc
trời, tốt hơn hết vẫn phải chia nhỏ lƣợng đạm làm nhiều lần để bón thì hiệu
quả sử dụng đạm của cây ngô mới cao..


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status