NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÂN VÙNG SINH THÁI CHĂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM
I.
Tính cấp thiết của đè tài
Trong những năm gần đây cùng với ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi của nước ta đã không ngừng phát
triển và đã được kết quả đáng kể. Đó là sự khởi đầu trong việc triển khai chương trình phát triển chăn nuôi,
đưa ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính. Khi hội nhập, ngành chăn nuôi được xem là một trong
những ngành sẽ phải chịu nhiều ảnh hưởng nhất trước sức ép cạnh tranh từ các sản phẩm thịt nhập khẩu,
các tập đoàn chăn nuôi đa quốc gia muốn đầu tư vào Việt Nam.
Đại lộc là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển nghành chăn nuôi, tuy nhiên do người dân chưa có nhiều
kinh nghiệm trong chăn nuôi làm ảnh hưởng đén tiềm năng của huyện. Chính vì vậy tôi đã thực hiện nghiên
cứu đè tài “hiên trạng và đề xuất phân vùng sinh thái chăn nuôi trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh
Quảng Nam” nhằm đánh giá thực trạng tình hình sản xuất, định hướng và đề ra một số biện pháp hợp lý để
thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi huyện
2. Mục tiêu đề tài
Điều tra được thực trạng chăn nuôi của huyện từ đó tìm ra được những khó khăn. Và đưa ra những giải
pháp và phân vùng hợp lí để phat triển chăn nuôi của huyện Đại Lộc
3. Nhiệm vụ đề tài
- Đánh giá thực trạng chăn nuôi, xác định được những nhân tố ảnh hưởng đén chăn nuôi
- Đề xuất phân vùng hợp lí, và đưa ra một số giải pháp phát triển chănnuôi
4. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập tài liệu
Phương pháp thống kê
Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
1.
-
PHẦN MỞ ĐẦU
Thị trường sản phẩm chăn nuôi tại Đông Nam Bộ (vùng chăn nuôi công nghiệp trọng điểm của cả nước):
Biểu đồ: Diễn biến giá heo, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại vùng Đông Nam Bộ đến 23/12/2014.
Theo chăn nuôi Việt Nam
Theo Cục Thú y, tính đến thời điểm 31/03/2015, cả nước không có địa phương nào có dịch lợn tai xanh và
LMLM.
Hiện cả nước có 1 ổ dịch Cúm gia cầm H5N1 tại 1 hộ chăn nuôi ở xã Long Mỹ, huyện Măng Thít (tỉnh Vĩnh
Long) đã qua 18 ngày và ổ dịch Cúm gia cầm H5N6 tại 2 hộ, 1 thôn thuộc xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia (tỉnh
Thanh Hóa) đã qua 16 ngày
Chăn nuôi gia súc tuy bị ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại ở một số huyện vùng núi phía Bắc nhưng do
công tác phòng chống đói rét cho đàn trâu, bò của một số địa phương được chuẩn bị khá chu đáo và kịp thời nên
hiện tượng trâu, bò chết rét không xảy ra trên diện rộng, chủ yếu là trâu, bò già. Theo Cục Chăn nuôi, tính đến hết
ngày 14/02/2015 đã có 1.748 con gia súc bị chết, giảm khoảng 19,7% so với cùng kỳ năm 2014 (gồm trâu, bò, lợn,
gà, ngựa và dê) xảy ra tại địa bàn của 5 tỉnh Sơn La (thiệt hại lớn nhất với 1.430 con gia súc, gia cầm bị chết), Cao
Bằng, Lào Cai, Lai Châu và Lạng Sơn. Hiện chưa có số liệu cập nhật về số liệu thiệt hại trên đàn vật nuôi, tuy
nhiên dự kiến giảm từ 20-25% so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung, thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán 2015, hoạt động sản xuất chăn nuôi phát triển ổn
định, lượng thực phẩm đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân; thời điểm sau Tết, người chăn nuôi tiếp
tục tái đàn, tăng đàn nhằm cung cấp nguồn cung con giống cho nhu cầu sản xuất đảm bảo nguồn cung thực phẩm
trong nước không bị thiếu hụt.
1.1.2Vai trò và đặc điểm ngành chăn nuôi
1.1.2.1 Vai trò nghành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi là một bộ phận quan trọng của nền nông nghiệp Việt Nam. Giai đoạn 1990-2001, giá trị
sản ohaamr chăn nuôi chiếm đến 17-20% trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp. Chăn nuôi có một vai trò rất to
lớn không chỉ trong nông nghiệp mà còn kể cả trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong đời sống xã hội. Nó
không ngừng đóng góp một phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân mà nó còn sử dụng có hiệu quả các nguồn
tài nguyên thiên nhiên và nhân lực. Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quý giá cho các
- Sự
Lao động
Con giống
1,57
21,14
2,17
22,83
21
18,63
Nguồn: IFPRI-MARD,
Thức ăn
77,29
75,00
78,16
phát triển và phân bố ngành chăn nuôi phụ thuộc chặt chẽ vào cơ sở nguồn thức ăn. Đây là đặc điểm
quan trọng nhất. Ngoài các đồng cỏ tự nhiên thì phần lớn thức ăn của ngành chăn nuôi đều do ngành trồng trọt
cung cấp.Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ những thành tựu khoa học - kĩ thuật. Các
đồng cỏ tự nhiên được cải tạo, các đồng cỏ trồng với các giống mới cho năng suất và chất lượng cao ngày càng phổ
biến. Thức ăn cho gia súc, gia cầm được chế biến bằng phương pháp công nghiệp. Giá thành thức ăn cao do nhiều
nguyên nhân trong đó chủ yếu là do giá nguyên liệu cao. Hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khá nhiều ngô, đậu
tương để phục vụ nhu cầu của các nhà máy chế biến thức ăn. Chính vì thế giá nguyên liệu của chúng ta cao hơn
nhiều so với các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ, kiểm soát thị trường của các công ty
thức ăn chăn nuôi nước ngoài cũng là một lý do đẩy giá TACN lên caodo yếu tố độc quyền.
*Tỷ lệ nuôi gia công hợp đồng ít
Chỉ có khoảng 2% số người chăn nuôi có tham gia vào hình thức nuôi gia công. Lý do cơ bản của việc ít
Nguồn thức ăn cho chăn nuôi chủ yếu là các sản phẩm cây trồng, việc trồng trọt cũng phải chịu nhiều tác
động từ phía môi trường ngoài. Các số liệu dự báo sớm cụ thể, chi tiết có thể giúp cho người dân tích cực chuẩn bị
nguồn thức ăn dự trữ cho vật nuôi vào những tháng thời tiết không thuận lợi.
Bên cạnh đó, các yếu tố dịch bệnh làm ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi. Dịch bệnh gia súc, gia cầm
thường phát theo mùa, phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết và khí hậu. Sự phát triển, tăng trưởng của các tác nhân
gây bệnh như vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm…quan hệ mật thiết với các yếu tố khí hậu, thời tiết.
1.3 Khái niệm phân vùng và các dang phân vùng
1.3.1Khái niệm phân vùng
Phân vùng là phân chia lãnh thỗ, vùng biển ra thành các vùng hay các phần, được phân biệt bởi mức độ đồng
nhất bên trong nó. Những dấu hiệu được sử dụng để phân vùng có thể khác nhau về đặc điểm, theo mức độ rộng
hẹp của dấu hiệu nào đó về phân bố hoặc theo mục đích phân vùng. Thời kỳ đầu nghiên cứu lãnh thỗ thường phải
phân vùng, từ đó cho phép sử dụng hợp lý tài nguyên và lao động.
* Nguyên tắc phân vùng: Theo Lê Bá Thảo phân vùng dựa trên 3 nguyên tăc:
- Về tính đồng nhất tương đối, thường áp dụng để phân định các vùng – cảnh quan, vùng tự nhiên hay vùng văn
hóa lịch sử
- Sự khai lợi và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó sự gắn kết cduar vùng được thể hiện thông qua vai trò
của hệ thống các đô thị các cấp, quan trọng nhất lả của thành phố có sức hút và của vùng ảnh hưởng lớn nhất, coi
như cực tạo vùng
- Tính hữu hiệu của các điều kiện đảm bảo quản lý lãnh thổ
1.3.2 Các dạng phân vùng
- Phân vùng địa lý : là hệ thống phân chia bề mặt trái đất, cơ sở để phân chia và nghiên cứu là tổ hợp các dấu
hiệu bên trong và rất đặc trưng cho riêng nó – thiên nhiên. Người ta có thể phân chia theo từng tổ hợp riêng hoặc
phân chia theo cả một tập hợp các yếu tố
- Phân vùng khí hậu: Về tự nhiên trái đất được chia thành 6 châu lục, mỗi châu lục có những đặc điểm về khí
hậu khác nhau. Trong mỗi châu lục lại có sự phân miền khí hậu. Phân vùng khí hậu ngày nay, ngoài việc phân chia
các đới, vùng còn phân ra các đơn vị nhỏ hơn với sự giống nhau ít nhiều của các điều kiện khí hậu chung hay
những đặc điểm riêng biệt của khí hậu, nó có giá trị về mặt khoa học hay kinh tế nông nghiệp
được tạo thành chảy xuôi từ Tây sang Đông trên địa bàn huyện có chiều dài trên 24 km, rộng trung bình 150 m.
Sông Thu Bồn chảy qua huyện Đại Lộc với huyện Duy Xuyên và Điện Bàn. Sông Vu Gia và Thu Bồn hợp thủy tại
Giao Thủy, nằm trên địa bàn xã Đại Hòa và Đại An
1.4.2. Điều kiện kinh tế- xã hội
Đặc điểm về đất đai
1.4.2.1
Huyện Đại Lộc có tổng diện tích tự nhiên là 587,08 km² (58.708 ha); trong đó, đất nông nghiệp: 9.469,44 ha,
đất lâm nghiệp: 31.882,15 ha, đất phi nông nghiệp: 9.634,14 ha, đất chưa sử dụng: 7.718,54 ha. Đất đai cũng đa
dạng, gồm 4 loại đất chính: Đất cát, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất đỏ vàng
•
Đất nông nghiệp: 9.408,54 ha, trong đó:
+ Đất trồng cây hằng năm: 7.199,54 ha:
- Đất canh tác lúa nước: 7.199,75 ha
- Đất canh tác cây hằng năm khác: 2.852,55 ha. Trong đó có khoảng 30 ha đất trồng cỏ làm thức ăn chăn
nuôi gia súc
Hệ số sử dụng ruộng đất trung bình = 2. Bình quân đất sản xuất nông nghiệp/đầu người: 450 m². Đất sản xuất
nông nghiệp ổn định, sản xuất cây lương thực đảm bảo đủ cung cấp cho nhu cầu tại chổ và có thừa một ít phục
nhu cầu sản xuất chăn nuôi.
•
Đất lâm nghiệp: 31.882,15 ha; trong đó:
- Đất có rừng sản xuất: 16.227,22 ha, chủ yếu là rừng trồng cây nhân dân do hộ gia đình quản lý, sử dụng.
- Đất rừng phòng hộ: 15.654,93 ha.
- Bò : + Cày kéo
+ Bò lai
+ Bò sữa
+ Bò cái sữa
- Trâu
- Lợn : + Lợn nái
+ Lợn thịt
+ Lợn sữa
Về thành phần gia cầm có:
- Gà
- Vịt, ngan, ngỗng
Về chăn nuôi khác có:
- Thỏ
- Dê
3.2 Hiện trạng cơ cấu đàn vật nuôi theo các địa bàn huyện Đại Lộc, Quảng Nam
3.2.1 Một số điều tra của một số hộ chăn nuôi ở huyện Đại Lộc
* Trang tại nuôi vịt của chú Trần Đông, trú thôn Hà Tân, xã Đại Lãnh
Hình 1: đàn vịt của chú Trần Đông
Hình 2: hình ảnh chú Trần Đông đứng bên đàn vịt của mình
Mỗi năm chú nuôi 2 đợt, mỗi đợt 2000 con. Chăn nuôi theo hình thức chăn thả ở ao, hồ, khe. Cho ăn bột và
bắp.Trừ mọi chi phí mỗi năm chú thu được hơn 100 triệu đồng
*Trại nuôi bò của chú Nguyễn Văn Dự
Hình 3: đàn bò của chú Nguyễn Văn Dự
cám, rau, thân chuối...Trừ mọi chi phí, mỗi năm chị thu lãi khoảng 100 triệu đồng
Điều tra trại nuôi gà của anh Nguyễn Quốc Khánh, thôn Hà Thanh, Xã Đại Đồng
,
Hình 8: trại nuôi gà của anh Nguyễn Quốc Khánh
Hình 9: Anh Nguyễn Quốc Khánh với đàn gà của mình
Mỗi năm anh nuôi 2 đợt, mỗi đợt anh nuôi gần 300 con. Chăn nuôi theo hình thức chăn thả trong
vườn. Thức ăn là bắp, lúa, bột gà... Trừ mọi chi phí, mỗi đợt lãi được hơn 6 triệu đồng
3.3 Hiện trạng cơ cấu đàn vật nuôi trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
Trong những năm qua ngành chăn nuôi huyện có mức tăng trưởng khá cả về số lượng tổng đàn cũng như
giá trị sản xuất; cụ thể như sau:
Con vật nuôi
Tổng đần trâu
Tăng trưởng so với năm trước
Tổng đàn bò
Tăng trưởng so với năm trước
Tđó: Bò lai sind
Tổng đàn lợn
Tăng trưởng so với năm trước
Tđó: Lợn nái
Tổng đàn gia cầm
Tăng trưởng so với năm trước
ĐVT
Con
%
Con
590.742
573.769
600.000
97,1
104,6
- Đối với đàn trâu: Có tốc độ tăng trưởng trung bình 8%/năm. Ngoài việc giải quyết sức kéo trong sản
xuất nông nghiệp còn góp phần cung cấp thịt cho nhu cầu thị trường hằng năm trên 100 tấn thịt hơi
- Tổng đàn bò: Có tốc độ tăng trưởng trung bình 6,5%/năm; bò lai sind tăng trung bình 8,79%. Tỷ lệ bò
lai chiếm 70% trên tổng đàn; trong đó trên 50% máu ngoại chiếm 63%. Trong năm 2006, số lượng liều
tinh lai sind phối cho bò đạt rất cao: 9.520 liều tinh, chiếm trên 50% tổng đàn bò, có nghĩa là gần như
100% đàn bò nái được phối tinh. Diện tích đất trồng cỏ nuôi bò hiện có khoảng 30 ha, tập trung ở các
xã vùng A và vùng B
- Về chăn nuôi lợn: Tổng đàn không tăng so với 2011, giữ mức ổn định khoảng trên 60.000 con; nguyên
nhân chính là do giá thức ăn liên tục tăng cao, người nông dân đầu tư nuôi lợn liên tục tăng cao, người
nông dân nuôi lợn không có lãi, bên cạnh đó tình hình dịch bệnh gây hại
- Chăn nuôi gia cầm: Về số lượng, tổng đàn gia cầm đến năm 2010 có tăng nhưng không đáng kể so với
năm 2005. Tuy nhiên, về chất lượng nuôi và phương pháp nuôi có nhiều thay đổi. Trước đây việc nuôi gà
được phân tán đều trong mỗi hộ dân, gần như nhà nào có vườn là có nuôi gà; hiện nay việc nuôi gà phần
lớn được tập trung ở các trang trại hoặc gia trại nuôi gia cầm
Dưới đây là bảng phân bố các loài vật nuôi toàn huyện phân bố theo các xã được chi cục thống kê thống
kê vào thời điểm năm 2013:
Bò
TT
Đơn vị
TỔNG SỐ
465
210
860
139
2
Xã Đại Lãnh
279
874
435
2244
396
3
Xã Đại Hưng
490
1.144
3266
414
6
Xã Đại Quang
36
2.073
1.125
3371
593
7
Xã Đại Phong
70
919
510
2610
10 Xã Đại Thắng
120
1.495
852
3838
620
11 Xã Đại Thạnh
236
960
479
1746
268
12 Xã Đại Chánh
958
904
15 Xã Đại Hiệp
50
1.164
679
2849
541
16 Xã Đại Hoà
40
447
260
1315
225
17 Xã Đại An
30
601
Ngan, ngỗng
284.708
268.718
12.063
3.927
1
Xã Đại Sơn
4.445
3.918
354
173
2
Xã Đại Lãnh
7.400
6.632
Xã Đại Đồng
12.627
11.734
672
221
6
Xã Đại Quang
22.008
20.539
1.200
269
7
Xã Đại Phong
7.138
6.469
Xã Đại Thắng
18.139
17.408
385
346
11
Xã Đại Thạnh
6.948
5.943
748
257
12
Xã Đại Chánh
16.801
16.107
Xã Đại Hiệp
32.851
32.057
642
152
16
Xã Đại Hoà
10.183
9.158
812
213
17
Xã Đại An
9.059
8.560
chăn nuôi phát triển mạnh theo hướng hàng hóa và bền vững thì trước tiên phải đảm bảo an toàn dịch bệnh bằng
việc tăng cường kiểm dịch bệnh, kiểm soát giết mổ và nhất là công tác tiêm phòng vacin, tiến tới nhân rộng mô
hình dịch vụ thú y trọn gói. Bên cạnh đó phải tập trung kiện toàn lực lượng thú y cơ sở và thường xuyên tập
huấn, đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ này. Đây được xem là lực lượng chủ
lực trong vấn đề tiêm phòng vắc xin cũng như đối phó với dịch bệnh.
3.5 Đề xuất phân vùng sinh thái chăn nuôi trên địa bàn huyện Đại Lộc
Dựa vào đặc điểm địa hình và đất đai ta có thê phân được các vùng sinh thái:
- Phía Bắc chủ yếu là các đồi núi, các khe suối và cánh đồng, nhiều thảm cỏ tự nhiên. Thuận lợi cho việc chăn thả
các loại gia súc gia cầm như trâu, bò, gà, vịt, dê, heo
- Phía Nam chủ yếu là đồi núi và các cồn cát, có sông chia cắt và các khe suối. Thuận lợi cho việc nuôi vịt, trâu,
heo, bò
- Phía Tây chủ yếu là đồi, gò nhỏ và núi cao, sông chia cắt. Thuận lợi cho chăn nuôi trâu, bò, vịt, dê, gà
- Phía Đông là đồng bằng, có sông chia cắt. Thuận lợi cho nuôi vịt, gà, heo.
PHẦN KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ
1.
Kết luận
Những năm qua, ngành chăn nuôi của huyện nhà đã có nhiều chuyển biến rõ nét, nhiều gia đình nông dân đã
vươn lên làm giàu chính đáng, tuy nhiên thực tế cho thấy dịch bệnh vẫn thường xuyên bùng phát, chi phí đầu tư
lớn, giá bán sản phẩm không ổn định nên lĩnh vực này phát triển thiếu bền vững. Vì vậy, trong thời gian tới,
muốn tạo ra bước đột phá trong lĩnh vực chăn nuôi thì ngành chăn nuôi huyện phải cần nhiều giải pháp đồng
bộ, thực thi để hướng đến chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững
Trong tổng kết phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi giai đoạn 2012-2014, toàn huyện đã bình chọn
được 9.601 hộ nông dân SXKDG các cấp, tăng 2.000 hộ so với giai đoạn 2010-2012. Không chỉ phát triển về
số lượng, 3 năm qua, phong trào nông dân SXKDG Đại Lộc còn phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu khi
số hộ đạt danh hiệu cấp tỉnh và trung ương chiếm 268/7644 hộ. Toàn huyện có hơn 7 trang trại và 60 gia trại,
2.
3.
4.
Báo cáo tổng kết sản xuất ngành nông nghiệp 2014, triển khai thực hiện kế hoạch năm 2015.
Đề án phát triển chăn nuôi của huyện Đại Lộc giai đoạn 2014 – 2020
Niên giám thống kê cơ cấu đàn vật nuôi huyện Đại Lộc
Tham khảo trang website dailocrt.vn và dailoc.quangnam.gov.vn