1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
PHẠM THỊ THU
XÂY DỰNG GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN
THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG TÀNG THƢ ADN
CỦA CÔNG AN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Hệ thống thông tin
Mã số: 60.48.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Hồ Văn Canh
Hà Nội - 2009
2
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................ 03
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................ 04
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT .............................................................................................. 05
MỞ ĐẦU
................................................................................................................ 06
TÀNG THƢ ADN CỦA CÔNG AN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................... 47
3
3.1 Đánh giá thực trạng ................................................................................................ 47
3.2 Yêu cầu đảm bảo an toàn thông tin trong hệ thống tàng thư ADN của Công an Thành
phố Hà Nội 47
3.3 Thành phần, chức năng và dữ liệu của hệ thống tàng thư ADN ............................ 50
3.4 Xây dựng giải pháp đảm bảo an toàn thông tin trong hệ thống tàng thư ADN của
Công an Thành phố Hà Nội .......................................................................................... 53
3.4.1 Kiểm soát lối vào ra của thông tin ............................................................ 54
3.4.2 Bảo đảm tính toàn vẹn của thông tin trong CSDL tàng thư ADN bằng chữ kí
số
................................................................................................................. 55
3.5 Xác thực người dùng .............................................................................................. 57
3.6 Sử dụng chữ kí số đảm bảo tính toàn vẹn của thông tin trong CSDL tàng thư ADN
của Công an Thành phố Hà Nội ................................................................................... 58
3.6.1 Phân tích mô hình kí và xác thực nội dung thông tin trong hệ thống ....... 58
3.6.2 Xây dựng hệ thống bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu trên tàng thư ADN của
Công an thành phố Hà Nội ................................................................................ 60
3.6.2.1 Quá trình người dùng nhập dữ liệu và kí .................................... 60
3.6.2.2 Quá trình Giám định viên kiểm tra thông tin đối tượng và kí .... 61
3.6.2.3 Quá trình Lãnh đạo phòng kiểm tra thông tin đối tượng và kí ... 62
3.7 Hoạt động của hệ thống bảo vệ toàn vẹn dữ liệu trong hệ thống quản lý tàng thư ADN
dựa trên chữ kí số ......................................................................................................... 63
3.7.1 Đăng nhập vào hệ thống ........................................................................... 63
3.7.2 Người dùng nhập thông tin đối tượng và kí trên nội dung thông tin đó .. 64
3.7.3 Giám định viên kiểm tra xác thực nội dung thông tin người dùng nhập và kí
xác nhận nội dung thông tin đó bằng chữ kí số ...................................... 65
3.7.4 Lãnh đạo phòng kiểm tra xác thực nội dung thông tin đối tượng và kí duyệt
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm của riêng cá
nhân, không sao chép lại của người khác. Trong toàn bộ nội dung của luận văn,
những điều được trình bày hoặc là của cá nhân hoặc là được sự tổng hợp từ nhiều
nguồn tài liệu. Tất cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và được trích
dẫn hợp pháp.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy
định theo lời cam đoan của mình.
Hà nội ngày 20 tháng 06 năm 2009
Phạm Thị Thu
6
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ACL:
Access Control List
ADN:
Deoxyribonucleic acid
ATM:
Automatic Teller Machine
CSDL:
XOR:
Exclusive-Or
7
MỞ ĐẦU
Kỹ thuật gen (ADN) trong khoa học hình sự đã được áp dụng từ cuối những
năm 1980 và đang ngày càng phổ biến trên thế giới với những ưu điểm lớn như
phong phú về chủng loại dấu vết bởi tất cả các dấu vết, mẫu vật từ cơ thể người
(lông, tóc, dịch, máu, mô…) đều có thể là nguồn giám định gen, lượng dấu vết cần
cho giám định ít, độ nhạy và tính chính xác cao. Giám định gen được dùng để truy
nguyên cá thể người, xác định quan hệ huyết thống, xác định hài cốt và người chết
chưa rõ tung tích, đạt hiệu quả rất cao trong truy tìm tội phạm, xác định tung tích
nạn nhân, giúp rút ngắn thời gian điều tra, xác minh, sàng lọc dấu vết thu được ở
hiện trường và chia sẻ dữ liệu quốc tế. Hiện nay, đã có hơn 60 nước trên thế giới áp
dụng công nghệ này trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Một số nước như Anh,
Australia, Trung Quốc, Singapore, Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản… đã xây được hệ thống
tàng thư gen tội phạm rất hiện đại và quy mô. Tại Việt Nam, từ năm 1999, Viện
Khoa học hình sự - Bộ Công an đã sử dụng công nghệ giám định gen, phục vụ đắc
lực công tác điều tra phá án, trong đó nhiều vụ án quan trọng giám định gen là chìa
khóa duy nhất để phá án. Điều này đã đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nước ta cần
8
có một tàng thư gen quốc gia phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và
các mục đích công khác.
Hệ thống thông tin quản lý tàng thư ADN được hình thành trên cơ sở đề tài
nghiên cứu“Bước đầu xây dựng tàng thư ADN nhận dạng cá thể tại địa bàn thành
9
tin phục vụ công tác giám định hiện nay vẫn chưa thể xác định được kết quả tra
cứu là hoàn toàn khách quan, không bị can thiệp bằng yếu tố chủ quan hoặc
nguyên nhân khách quan khác.
Trên cơ sở những nhận định trên nền việc phân tích, thiết kế Hệ thống thông
tin quản lý tàng thư ADN của Công an thành phố Hà Nội cũng như các yêu cầu về
mặt pháp lý đối với việc sử dụng tàng thư ADN để giám định hình sự, được sự
giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và được sự đồng ý của trường Đại học Công
nghệ, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và chọn đề tài “Xây dựng giải pháp đảm bảo an
toàn thông tin trong hệ thống tàng thư ADN của Công an Thành phố Hà Nội” làm
đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình. Trên cơ sở tìm hiểu các biện pháp bảo
đảm an toàn thông tin, luận văn đi sâu vào tìm hiểu chữ kí số và ứng dụng chữ kí
số trong việc đảm bảo tính toàn vẹn thông tin trong hệ thống thông tin quản lý tàng
thư ADN.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn bao gồm:
Chƣơng 1: Tổng quan về an toàn thông tin
Chương này cung cấp những thông tin khái quát về thông tin, các thuộc tính
của thông tin, an toàn thông tin và những yếu tố ảnh hưởng đến an toàn thông tin,
một số giải pháp đảm bảo an toàn thông tin.
Chƣơng 2: Xác thực và bảo đảm toàn vẹn dữ liệu dựa trên chữ kí số
Chương này nghiên cứu về xác thực, chữ kí số, các loại kí số và ứng dụng
chữ kí số vào đảm bảo tính toàn vẹn của thông tin. Chương 2 cũng đi sâu vào
nghiên cứu sơ đồ chữ kí RSA là sơ đồ chữ kí được sử dụng để đảm bảo tính toàn
vẹn dữ liệu trong Hệ thống thông tin quản lý tàng thư ADN.
Chƣơng 3: Xây dựng giải pháp đảm bảo an toàn thông tin trong hệ
thống tàng thƣ ADN của Công an Thành phố Hà Nội
Chương này đi sâu nghiên cứu thực trạng về Hệ thống tàng thư ADN, các
vấn đề an toàn đặt ra đối với Hệ thống tàng thư ADN của Công an Thành phố Hà
Nội. Từ đó xây dựng giải pháp để đảm bảo an toàn thông tin lưu trữ trong hệ
- Tính sở hữu hay tính kiểm soát (Possession or Control): giả sử một kẻ ăn
trộm được một phong bì đóng kín có chứa một thẻ tín dụng và trong đó
có cả mật mã (số PIN: Personal Identification Number). Thậm chí nếu kẻ
trộm không mở phong bì đó ra thì nạn nhân cũng lo lắng rằng kẻ trộm có
thể mở phong bì ra bất cứ khi nào hắn ta muốn mà không cần phải có sự
cho phép của người chủ sở hữu phong bì đó (nạn nhân). Điều này minh
họa cho việc mất tính sở hữu hoặc kiểm soát thông tin nhưng không bao
gồm sự xâm phạm tính bí mật.
- Tính toàn vẹn (Integrity): tham chiếu tới khía cạnh chính xác hoặc phù
hợp với trạng thái của thông tin mong muốn. Bất kỳ sự thay đổi không
được phép thông tin nào dù là vô tình hay cố ý đều xâm phạm đến tính
toàn vẹn của thông tin.
- Tính xác thực (Authenticity): tham chiếu đến nhãn hoặc quyền hạn chính
xác của thông tin. Ví dụ một tên tội phạm giả mạo phần đầu một bức thư
điện tử (email header) làm cho mọi người tưởng là một người vô tội khác
để gửi thư đe dọa. Ở đây không có sự xâm phạm tính bí mật (vì tên tội
phạm sử dụng tài khoản email của chính hắn), tính sở hữu hay kiểm soát
(không có thông tin nào vượt ra ngoài tầm điều khiển của nạn nhân), và
cũng không xâm phạm tính toàn vẹn (bức thư điện tử được gửi đi đúng
như tên tội phạm mong muốn). Cái bị xâm phạm ở đây là tính xác thực:
thư điện tử đó được quy cho một người khác. Tương tự việc lạm dụng
12
một trường trong cơ sở dữ liệu để lưu trữ những thông tin không đúng
nhãn là xâm phạm tính xác thực.
- Tính sẵn sàng (Availability): có nghĩa là sự truy cập tới thông tin đúng
lúc. Ví dụ một sự cố về đĩa hoặc một cuộc tấn công từ chối dịch vụ đều
xâm phạm đến tính sẵn sàng. Bất cứ một sự trễ nào vượt quá mức độ
phục vụ mong đợi của hệ thống đều có thể được coi như sự xâm phạm
để ý đến các dạng thông tin như: dạng lưu trữ trong máy tính, dạng in trên giấy…
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn thông tin
An toàn thông tin được đảm bảo dựa trên 4 yếu tố cơ bản là: chính sách, con
người, quy trình và công nghệ. Những yếu tố này cần được thiết lập để thực thi có
hiệu quả mục tiêu đảm bảo an toàn đối với một tổ chức hay một quốc gia.
a. Chính sách (Policy)
Chính sách an ninh an toàn là một kế hoạch ở mức cao, cung cấp định hướng
để thực hiện các quyết định nhất định. Nó là nền tảng để phát triển các hướng dẫn
về an ninh an toàn và các thủ tục mà người sử dụng, người quản trị hệ thống phải
thực hiện. Chính sách an ninh an toàn là tài liệu có tính định hướng chiến lược.
Mục đích của chính sách :
+ Cung cấp tổng quan các yêu cầu bảo mật của hệ thống và mô tả cách thức
điều khiển hoặc mô tả các kế hoạch để thỏa mãn các yêu cầu đó.
+ Quy định trách nhiệm và các ứng xử được phép của từng người truy cập hệ
thống.
b. Con người (People)
Con người là yếu tố tạo nên an toàn thông tin nhưng chính con người cũng
chịu ảnh hưởng của an toàn thông tin. Con người có thể góp phần thực hiện tốt các
chính sách an ninh bằng nhiều cách như: nhận dạng các đoạn mã hiểm độc, thông
báo những sự thay đổi của thông tin, phát hiện ra những hành động đáng ngờ nhằm
14
chiếm quyền sử dụng, v.v… Nhưng mặt khác, con người cũng được coi là mắt xích
yếu nhất trong vấn đề đảm bảo an toàn thông tin. Việc con người không tuân thủ
theo những chính sách an toàn thông tin chính là một nguyên nhân lớn nhất gây ra
các lỗ hổng bảo mật bên trong nội bộ của một tổ chức, một quốc gia. Việc đảm bảo
an toàn thông tin là cả một quá trình, trong đó đòi hỏi việc triển khai một chính
sách an ninh tốt, phù hợp với điều kiện thực tế, và yếu tố con người là một phần
chính trong quá trình đó.
Data Encryption Physical protection
Firewall
+ Thi hành quyền kiểm soát an ninh: tiếp nhận và thao tác công nghệ, ấn định
những nhiệm vụ và trách nhiệm đặc biệt cho những người lãnh đạo và các nhân viên,
triển khai sự kiểm soát các nguy cơ một cách thích hợp, và đảm bảo rằng người lãnh
15
đạo cũng như nhân viên phải hiểu được trách nhiệm của họ, phải có kiến thức, kĩ năng
và động lực cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ của họ.
+ Kiểm tra sự an toàn: Việc sử dụng những phương pháp khác nhau để thu
thập và đảm bảo những nguy cơ đó được đánh giá và giảm nhẹ. Những phương
pháp kiểm tra này cần phải kiểm chứng rằng những kiểm soát quan trọng đó có
hiệu quả và được thực hiện như dự định.
+ Sự kiểm soát và cập nhật: Quá trình liên tục tập hợp và phân tích thông tin
về các nguy cơ mới, sự tấn công thực tế tại một cơ quan hay những tổ chức cùng
hợp tác. Thông tin này được dùng để cập nhật đánh giá rủi ro, chiến lược và việc
kiểm soát. Việc theo dõi và cập nhật làm quá trình được liên tục.
d.Công nghệ (Technology):
Công nghệ chính là vấn đề sử dụng các kỹ thuật cả về phần cứng và phần
mềm nhằm đảm bảo an toàn thông tin, một trong những yếu tố quyết định đến sự
thành công trong bảo đảm an toàn của một hệ thống.
Công nghệ hiện nay bao gồm những sản phẩm như Firewall, IDS (hệ thống
phát hiện xâm nhập), phần mềm phòng chống virus, giải pháp mật mã, chữ kí số,
sản phẩm mạng, hệ điều hành và những ứng dụng như: trình duyệt Internet và phần
mềm nhận Email từ máy trạm.v.v...
Qua phân tích 4 yếu tố của an toàn thông tin kể trên, có thể đưa ra một số
kẻ tấn công bất hợp pháp hoặc những người trong nội bộ cơ quan, tổ chức có thông
tin cần bảo vệ. Do đó việc bảo đảm an toàn thông tin là rất cần thiết.
- Trong một mạng thì việc truy cập các thông tin không có quyền vô cùng dễ
dàng nhưng việc phát hiện truy cập lại vô cùng khó.
- Sự dùng chung: Chính vì sự chia sẻ tài nguyên và các khối lượng công việc
trên mạng đã làm tăng số người sử dụng có khả năng truy cập tới các hệ thống
được nối mạng, việc bảo vệ tài nguyên đó tất yếu sẽ phức tạp hơn so với trường
hợp một máy tính đơn lẻ.
- Có quá nhiều mục tiêu tấn công: Khi một tệp được lưu trữ trong một máy
chủ ở xa, người sử dụng phải qua rất nhiều máy mới có thể sử dụng được tệp đó.
Mặc dù người quản trị của một host có thể thi hành các chính sách an ninh thật
chặt chẽ nhưng người đó lại không thể làm gì khác với các host khác trong mạng.
Người sử dụng phải phụ thuộc vào cơ chế điều khiển truy cập của tất cả các hệ
thống này.
Ngay cả khi người sử dụng không lưu trữ bất kỳ một thông tin có giá trị nào
thì máy tính của họ cũng có thể là một mắt xích yếu giúp kẻ xâm nhập có thể truy
cập các thông tin không có quyền.
Các thông tin thường bị khai thác:
+ Phần cứng và phần mềm mà hệ thống sử dụng
+ Cấu hình hệ thống
17
+ Kiểu kết nối mạng
+ Số điện thoại
+ Các thủ tục xác thực và truy cập
+ Các thông tin liên quan đến bảo mật của một hệ thống: passwords,
các khóa và file điều khiển truy cập, các thông tin cá nhân và các thuật toán mã hóa.
Có thể thấy hầu hết các thông tin đều có thể bị lợi dụng để xâm phạm an
ninh an toàn trong quá trình bảo mật lưu trữ.
tin. Hai người đang giao tiếp với nhau có thể nhận dạng lẫn nhau. Thông tin truyền
trên các kênh cũng cần được xác thực nguồn gốc, ngày tháng, nội dung dữ liệu,
thời gian gửi….Vì những lý do trên mà lĩnh vực này được chia thành 2 nhóm
chính: xác thực thực thể và xác thực dữ liệu gốc. Xác thực dữ liệu gốc cũng chứa
yêu cầu về tính toàn vẹn dữ liệu.
Để bảo đảm được những yêu cầu trên, cần phải hiểu được các nguy cơ bị
xâm hại đối với thông tin và dữ liệu, từ đó lựa chọn đưa ra các biện pháp thích hợp
nhất để ngăn chặn một cách có hiệu quả đối với các nguy cơ này.
1.4 Một số giải pháp đảm bảo an toàn thông tin.
1.4.1 Bảo vệ nội dung thông tin trên máy tính.
Các máy tính (thông thường là các PC) phải được bảo vệ nhằm chống lại các
đe doạ xuất phát từ phần mềm hoặc dữ liệu được tải xuống máy tính từ Internet.
a. Giám sát Active content
Các trình duyệt Navigator của Netscape và Internet Explorer của Microsoft
được trang bị để nhận biết các trang Web có chứa active content chuẩn bị được tải
xuống. Khi bạn tải về và chạy các chương trình được nhúng vào các trang Web,
bạn muốn đảm bảo rằng các chương trình này đến từ một nguồn bạn biết và tin
cậy, và kiểm soát được nội dung thông tin khi tải về không bị thêm bớt trên đường
truyền.
b. Đối phó với các cookie
Cookie được lưu giữ trong máy trạm, hoặc được tạo ra, sử dụng và huỷ bỏ
trong một lần duyệt Web. Ta có thể cho phép đặt ra thời gian tồn tại từ 10, 20 hoặc
30 ngày. Một cookie có chứa nhiều thông tin, chẳng hạn như tên của Website phát
hành nó, các trang mà ta đã truy cập vào, tên người sử dụng và mật khẩu, các thông
tin về thẻ tín dụng và địa chỉ. Chỉ có site tạo ra các cookie mới có thể lấy lại các
cookie này, các cookie thu thập và lưu giữ các thông tin không nhìn thấy được.
Chính vì thế ta không phải nhập lại tên người sử dụng, mật khẩu cho lần truy cập
19
- Bức tường lửa tự bảo vệ mình.
Các mạng bên trong bức tường lửa được gọi là các mạng tin cậy, các mạng
bên ngoài được gọi là các mạng không tin cậy. Đóng vai trò như một bộ lọc, bức
20
tường lửa cho phép các thông báo (có chọn lọc) đi vào, hoặc ra khỏi các mạng
được bảo vệ. Ví dụ, một chính sách an toàn cho phép tất cả các luồng thông tin
HTTP (Web) vào ra, nhưng không cho phép các yêu cầu FTP hoặc Telnet vào,
hoặc ra khỏi các mạng được bảo vệ. Bức tường lửa ngăn chặn, không cho phép
truy nhập trái phép vào các mạng bên trong bức tường lửa.
1.4.2 Bảo vệ an toàn thông tin khi trao đổi qua mạng bằng mã hóa.
1.4.2.1 Mã hóa là gì?
Có rất nhiều tài liệu viết về mã hóa (encryption) và khái niệm mã hóa. Dưới đây là
một vài định nghĩa về mã hóa:
- Charles P. Pfleeger (trong cuốn Security in computing) đã định nghĩa như
sau: “Mã hóa là quá trình mã một đoạn tin sao cho nghĩa của đoạn tin đó trở nên
khó hiểu, còn giải mã là quá trình ngược lại”. [14]
- Oli Cooper viết trong tài liệu “Cryptography”: “Mã hóa là ngành khoa học
nghiên cứu các phương pháp cho phép thông tin được gửi đi dưới hình thức bảo
mật mà chỉ người nhận hợp lệ có thể khôi phục lại được đoạn tin này”.
- Trong cuốn “Handbook of Applied Cryptography”, A. Menezes, P. van
Oorschot và S. Vanstone đã đưa ra định nghĩa: “Mã hóa là ngành khoa học nghiên
cứu các thuật toán có liên quan đến an toàn thông tin như: tính tin cậy, tính toàn
vẹn dữ liệu, tính xác thực thực thể và xác thực dữ liệu gốc”. [15]
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song tất cả những định nghĩa
trên đều có chung nguyên tắc cơ bản: sử dụng thuật toán để biến đoạn tin dưới
dạng bản rõ thành một đoạn tin mà nghĩa của nó trở nên khó hiểu nhằm đảm bảo
chỉ có người nhận hợp thể mới đọc được bản tin rõ.
Khái niệm mã hóa được mô tả dưới dạng toán học như sau:
Thông tin nhận
Thông tin gốc
Nút trung gian 1
E1
D1
E2
Dn
Hình 1.2 Bảo vệ thông tin bằng mã hóa theo đường truyền
a.Tiếp cận theo đường truyền
Trong cách tiếp cận thứ nhất, thông tin được mã hoá để bảo vệ trên đường
truyền giữa hai nút không quan tâm đến nguồn và đích của thông tin đó. Ưu điểm
của cách tiếp cận này là có thể bí mật được luồng thông tin giữa nguồn và đích và
có thể ngăn chặn được toàn bộ các vi phạm nhằm phân tích lưu thông trên mạng.
Nhược điểm của nó là thông tin chỉ được mã hoá trên đường truyền nên đòi hỏi các
nút phải được bảo vệ tốt.
22
Nút nguồn
Nút đích
Thông tin nhận
Thông tin gốc
E
C
D
Văn bản
gốc
Hình 1.4 Sơ đồ quy trình mật mã.
Trong đó:
C là bản mã (Ciphertext)
E là hàm mã hoá (Encryption Function)
D là hàm giải mã (Decryption Function)
Khoá KE được dùng để mã hoá còn khoá KD được dùng để giải mã.
1.4.2.3 Các phương pháp mã hóa.
Hiện có 2 loại mã hóa chính : mã hóa khóa bí mật và mã hóa khóa công khai.
a. Mã hoá khoá bí mật (khoá đối xứng).
23
Khoá bí mật
Giải mã
Mã hoá
Bản rõ
Bản mã
24
Ưu điểm của hệ mã hóa khóa đối xứng là mã hóa và giải mã nhanh hơn hệ
mã hóa công khai. Tuy nhiên hệ mã hóa này lại có một số hạn chế :
- Mã hóa khóa đối xứng chưa thật an toàn vì người mã hóa và người giải
mã phải có chung một khóa. Khóa phải được giữ bí mật tuyệt đối vì biết
khóa này dễ xác định được khóa kia và ngược lại.
- Vấn đề thỏa thuận khóa và quản lý khóa chung là khó khăn và phức tạp.
Người gửi và người nhận phải luôn thông nhất với nhau về khóa. Việc
thay đổi khóa là rất khó và dễ bị lộ. Khóa chung phải được gửi cho nhau
trên kênh an toàn. Mặt khác khi hai người (lập mã, giải mã) cùng biết
chung một bí mật thì càng khó giữ được bí mật.
Do những ưu nhược điểm trên nên hệ mã hóa khóa đối xứng thường được sử
dụng trong môi trường mà khóa chung có thể dễ dàng trao chuyển bí mật, chẳng
hạn trong cùng một mạng nội bộ. Hệ mã hóa khóa đối xứng thường dùng để mã
hóa những bản tin lớn, vì tốc độ mã hóa và giải mã nhanh hơn hệ mã hóa khóa
công khai.
b. Mã hoá khoá công khai (mã hoá bất đối xứng).
Mã hóa bất đối xứng hay còn gọi là mã hóa khóa công khai (public key) là
mô hình mã hóa 2 chiều sử dụng một cặp khóa là khóa riêng (private key) và khóa
công khai (public key). Khóa công khai được dùng để mã hóa và khóa riêng được
dùng để giải mã.
Bản rõ
Khoá công khai
Khoá bí mật
Mã hoá
nghệ- Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
5. Văn Thị Nhiên (2007), Khảo sát các chữ kí số dựa trên hệ RSA, nghiên cứu
lược đồ chữ kí RSA-PSS và những chuẩn hóa, tr 10-34, Luận văn thạc sĩ,
Trường Đại học Công nghệ- Đại học Quốc gia, Hà Nội.
6. Đề tài KC-01-01(2004), Phụ lục: Một số nghiên cứu về hàm băm và giao thức
mật mã, Hà Nội, tr1-75, 115-145.
7. />w/ND26CP.DOC
8. />214128/View/Thuong-Mai-Dien-Tu/SSL_la_gi/?print=34337965
9. />10. />