Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa tại đồng bằng sông cửu long theo kịch bản biến đổi khí hậu - Pdf 40

i

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Chúng ta đang sống ở một giai đoạn lịch sử mà cả thế giới đều đang nỗ lực
tìm hiểu những tác động và các giải pháp hạn chế tác động của Biến đổi khí hậu tới
cuộc sống con người. Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững tại
Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã nhận định rằng những hậu quả của
biến đổi khí hậu toàn cầu trực tiếp tác động đến sự sinh tồn của loài người, cụ thể
đến: tài nguyên nước, năng lượng, sức khỏe con người, nông nghiệp - an ninh lương
thực và đa dạng sinh học ... Không một quốc gia nào trên thế giới có thể né tránh
được hậu quả của BĐKH, trong đó có Việt Nam.
Nhận thức rõ ảnh hưởng của BĐKH, ngày 03 tháng 12 năm 2007, Chính phủ
đã có Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì,
phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng
phó với biến đổi khí hậu. Một trong những nội dung quan trọng của Chương trình là
xây dựng và cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu. Mục tiêu của việc xây dựng các
kịch bản này là đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế BĐKH, nước biển dâng
tương lai cho Việt Nam tương ứng với các kịch bản phát thải thấp, trung bình và
cao. Mục tiêu của việc xây dựng các kịch bản trên là đưa ra những thông tin cơ bản
về xu thế BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam trong tương lai tương ứng với các
kịch bản khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu. Dựa trên cơ sở đó; các
Bộ, ngành, địa phương đánh giá các tác động có thể có của BĐKH đối với các lĩnh
vực kinh tế - xã hội, xây dựng và triển khai kế hoạch hành động nhằm thích ứng và
giảm thiểu tác động tiềm tàng của BĐKH trong tương lai.
Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé cùng các nhà khoa học,
các nhà quản lý về BĐKH thực hiện các mục tiêu trên, tác giả của Luận văn đã lựa
chọn Đề tài “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất lúa
tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long theo các kịch bản biến đổi khí hậu” làm
công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ



iii

như là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển,
thạch quyển ở hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo
mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự phát thải quá mức vào khí quyển các chất có
hiệu ứng nhà kính do hoạt động kinh tế và xã hội trên trái đất. Còn nước biển dâng
là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều,
nước dâng do bão.
Hai là: Giới thiệu các kịch bản nước biển dâng tại Việt Nam: Theo Ban liên
Chính phủ về BĐKH (IPCC), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng là bức
tranh toàn cảnh của khí hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp các mối quan hệ
khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hậu quả của BĐKH do
con người gây ra và thường được dùng như là đầu vào cho các mô hình đánh giá tác
động. Các kịch bản nước biển dâng tại Việt Nam được xây dựng cho khoảng thời
gian từ năm 2020 đến năm 2100, ứng với thời điểm 10 năm một sẽ có những mức
thay đổi khác nhau của mực nước biển lần lượt theo 3 kịch bản phát thải thấp, trung
bình và cao. Trong luận văn, tác giả sử dụng mức thay đổi tại thời điểm năm 2100
để đánh giá tác động, đó là: mức nước biển dâng cao 65cm với kịch bản phát thải
thấp, mức nước biển dâng cao 75 cm với kịch bản phát thải trung bình và mức nướ
biển dâng cao 100cm với kịch bản phát thải cao.
Ba là: Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn để đánh giá tác động của nước
biển dâng tới sản xuất lúa. Cơ sở lý luận ở đây là một chuỗi các phương pháp đánh
giá tác động môi trường như: Phương pháp Viễn thám và GIS, phương pháp chuyển
giao giá trị, phương pháp phân tích lợi ích – chi phí… Cơ sở thực tế của việc đánh
giá là vai trò của cây lúa đối với đời sống xã hội và những tác động của biến đổi khí
hậu đến sản xuất lúa. Các nhà khoa học, chuyên gia cho biết, sau năm 2020 biến đổi
khí hậu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến diện tích trồng lúa. Vào mùa mưa lũ;
BĐKH, nước biển dâng sẽ làm cho nhiều ha đất nông nghiệp bị ngập và bị nhiễm
mặn không sản xuất được, trong đó phần lớn là đất trồng lúa. Mưa nhiều gây hiện
tượng lũ lụt, ngập úng ảnh hưởng nghiêm trọng tới diện tích canh tác nông nghiệp.

nước. Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số vùng ĐBSCL là
17.524.000 người, chiếm khoảng 20,5% dân số cả nước.Diện tích toàn châu thổ là


v

40.604,7 km2 với bờ biển dài trên 700 km. Đất đai chủ yếu ở ĐBSCL là do đất phù
sa, ngoài ra còn có vùng đất mặn do ảnh hưởng của biển và thuỷ triều, đất phèn
chua … ĐBSCL nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo, ít có bão lớn xảy ra,. Mùa vụ
gieo trồng chỉ phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và lượng mưa. Mùa lũ sông Cửu
Long bắt đầu vào tháng 6, cao vào trung tuần tháng 7, sau đó giảm xuống rồi lại lên
vào tháng 9 -10. Mùa khô thường khô hơn vì không có thời kỳ mưa phùn ẩm ướt
vào tháng 2 -3 như ở miền Bắc. Độ ẩm tương đối bình quân 81.8%, so với Huế là
89.1% và Hà Nội 84.5%. Gió mùa Đông Nam hoặc Tây Nam, hầu như không chịu
ảnh hưởng của bão.
Hai là: Tầm quan trọng của sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL đối với vấn đề
an ninh lương thực trong nước và quốc tế. Từ lâu vùng ĐBSCL đã trở thành vựa lúa
lớn nhất trong cả nước và là nơi cung cấp nguồn gạo chính cho xuất khẩu của Việt
Nam. Thực tế cho thấy, cây lúa có vị trí quan trọng đặc biệt ở ĐBSCL, đóng góp
50% sản lượng lúa cả nưóc và 80% gạo xuất khẩu. Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh
An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang. Lúa gắn liền
với đời sống kinh tế và tinh thần của bà con vùng ĐBSCL, trở thành một biểu tượng
sống động cho sự phồn thịnh ở nơi đây.
Ba là: Thực trạng tình hình sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL. Ỏ vùng
ĐBSCL có 3 vụ lúa chính là: vụ mùa, vụ Đông xuân và vụ Thu phân. Trong đó vụ
mùa là vụ lúa cổ truyền, vụ Đông xuân và vụ Thu phân là hai vụ lúa mới, ngắn
ngày. Tuy mới chính thức hình thành và phát triển mạnh sau ngày giải phóng miền
nam nhưng về cơ cấu mùa vụ, vụ Đông xuân và vụ Thu phân đã đóng góp hầu hết
cho sản lượng gạo tại vùng ĐBSCL. Về diện tích đất trồng lúa, ĐBSCL hiện có
khoảng 7.41 triệu ha, chiếm từ 47 đến 51% trong cả nước. Hàng năm, vùng ĐBSCL

ngập 100cm, .
Thứ ba : Với hiệu suất xay xát từ lúa chuyển sang gạo thành phẩm 15% tấm
là 0,65 theo quy ước, thì sản lượng gạo thành phẩm 15% tấm bị giảm do sản lượng
lúa bị giảm theo tính toán là trên 1.6 triệu tấn gạo với kịch bản ngập 65cm, giảm
trên 2.3 triệu tấn gạo với kịch bản ngập 75cm, giảm trên 3.9 triệu tấn gạo với kịch
bản ngập 100cm


vii

Thứ tư: Giá trị thiệt hại trong nước do giảm sản lượng lúa là trên 5.84 nghìn
tỷ VND ứng với kịch bản ngập 65cm, trên 8.22 nghìn tỷ VND ứng với kịch bản
ngập 75cm, trên 14.109 nghìn tỷ VND ứng với kịch bản ngập 100cm.
Thứ năm: Giá trị thiệt hại trong nước do giảm sản lượng gạo là trên 5.72
nghìn tỷ VND với kịch bản ngập 65cm, trên 8.04 nghìn tỷ VND với kịch bản ngập
75cm, trên 13.81 nghìn tỷ VND với kịch bản ngập 100cm. Kết quả thu được từ việc
lấy sản lượng gạo bị giảm nhân với đơn giá trung bình một tấn gạo thành phẩm 15%
tấm tại mạn
Thứ sáu: Nếu coi sản lượng gạo bị giảm là hoàn toàn dùng để xuất khẩu, thì
giá trị thiệt hại về xuất khẩu gạo là xấp xỉ 432.8 triệu USD ứng với kịch bản ngập
65cm, 609.2 triệu USD ứng với kịch bản ngập 75cm, 1,075 triệu USD ứng với kịch
bản ngập 100 cm. Kết quả thu được từ việc lấy sản lượng gạo bị giảm nhân với đơn
giá xuất khẩu trung bình một tấn gạo thành phẩm 15% tấm
Thứ bảy: Với nhu cầu trung bình gạo một người một năm là 130 kg thì số
người bị thiếu lương thực do sản lượng gạo bị giảm là xấp xỉ 12.784 nghìn người.
ứng với kịch bản ngập 65cm, 17,997 nghìn người. ứng với kịch bản ngập
75cm,30,877 nghìn người. ứng với kịch bản ngập 100cm.
Thứ tám: So sánh giá trị thiệt hại kinh tế của việc giảm sản lượng lúa do tác
động của nước biển dâng với chi phí đầu tư xây đê biển ở Đồng bằng Sông Cửu
Long, kết quả thu được là chúng ta chỉ nên đắp đê trong trường hợp kịch bản ngập

lượng lúa với sự thay đổi các yếu tố khí hậu, môi trường như nhiệt độ, ánh sáng,
lượng mưa do BĐKH mang lại. Muốn thực hiện được điều đó đòi hỏi phải có bộ
nguồn số liệu đủ lớn và chính xác cũng như các mô hình đánh giá cụ thể. Do năng
lực và thời gian còn hạn chế nên tác giả chưa nghiên cứu được vấn đề này.
Thứ ba: Nguồn dữ liệu đầu vào dùng để đánh giá tác động chưa đủ lớn nên
trong quá trình đánh giá còn sử dụng nhiều giả định. Điều này sẽ làm giảm mức độ
tin cậy của kết quả đánh giá đưa ra
Trên cơ sở thực trạng về tình hình sản xuất và những kết quả đánh giá tác


ix

động của nước biển dâng tới sản xuất lúa gạo ở vùng ĐBSCL, tác giả mạnh dạn đề
nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa. Bộ giải pháp tác giả đưa ra
được tiếp cận theo hai hướng: Giảm thiểu và Thích ứng đối với những tác động của
nước biển dâng tới sản xuất lúa tại vùng ĐBSCL
Thứ nhất: Cải thiện công tác giống lúa
Công tác giống lúa cần được nghiên cứu theo hướng tạo ra những giống lúa
có khả năng chịu mặn cao để dần thích ứng với việc xâm nhập mặn do nước biển
dâng. Ngoài tính chịu mặn, cũng nên lai tạo các giống lúa mới có thời gian sinh
trưởng ngắn, cho năng suất cao.
Thứ hai: Điều chỉnh cơ cấu mùa vụ
Từ thập niên 60 của thế kỷ 20 trở về trước, ở ĐBSCL mỗi năm chỉ trồng
được một vụ lúa mùa hoặc lúa mùa nổi, năng suất thấp. Đến nay số vụ lúa ở
ĐBSCL đã lên tới 3 vụ, trong đó vụ Thu phân và vụ Đông Xuân mang lại sản lượng
lúa lớn, chiếm đa số tổng sản lượng lúa trong năm. Trong tương lai, khi công tác cải
thiện giống lúa đem lại những bước đột phá mới thì cơ cấu mùa vụ ở ĐBSCL cũng
cần được điều chỉnh để diện tích gieo trồng lúa càng ngày càng tăng trong bối cảnh
diện tích canh tác bị giảm. Bên cạnh đó, cũng cần thay đổi phương thức sản xuất
lúa, thử nghiệm những hệ thống sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và

hút cát sỏi - những hoạt động có thể làm tăng sự sụt lở vùng bờ, do đó làm tăng
nguy cơ của nước biển dâng
Đề tài luận văn “Đánh giá tác động của BĐKH đến sản xuất lúa tại vùng
ĐBSCL theo các kịch bản nước biển dâng” đã được thực hiện như một nghiên cứu
thí điểm ban đầu áp dụng phương pháp Viễn thám và GIS cho 01 lĩnh vực cụ thể là
sản xuất lúa trên 01 địa điểm cụ thể là khu vực ĐBSCL. Mặc dù đã rất cố gắng
trong quá trình làm luận văn, song do thời gian và năng lực có hạn nên luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm và
góp ý của Thầy cô và các chuyên gia để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status