MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các từ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục các hình
viii
MỞ ĐẦU
1
1
1.1.2
Di dân
4
1.1.3
Tái định cư
6
1.1.4
Di dân tái định cư trong các công trình thuỷ điện
7
1.1.5
Đời sống, sản xuất
9
1.2 Kinh nghiệm bố trí tái định cư tại các công trình thủy điện trên thế giới
11
2.2.1
22
1.3.3
Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây
dựng các công trình thủy điện đến đời sống của người dân tại
Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
29
Page iii
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
33
2.1 Đối tượng nghiên cứu
33
2.2 Nội dung nghiên cứu
33
2.2.1
2.3.1
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
33
2.3.2
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
34
2.3.3
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
34
2.3.4
Phương pháp thống kê, tổng hợp và xử lý số liệu
34
2.3.5
Phương pháp so sánh
35
44
3.2 Khái quát về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xây
dựng thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa
3.2.1
44
Khái quát về các đơn vị hành chính bị thu hồi đất để xây dựng
công trình thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa
3.2.2
44
Công tác thu hồi đất để xây dựng công trình thủy điện Sơn La
trên địa bàn huyện Tủa Chùa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
47
Page iv
3.2.3
Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất xây dựng công trình thủy điện Sơn La trên địa bàn
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Diễn giải
1
CHDC
Cộng hoà dân chủ
2
DS
Sau thu hồi
8
TĐC
Tái định cư
9
TH
Trường hợp
10
TT
Thứ tự
11
TTH
Trước thu hồi
12
UBND
3.4
bàn huyện Tủa Chùa
Tổng hợp kết quả bồi thường xây dựng dự án thủy điện Sơn La
trên địa bàn huyện Tủa Chùa
Kết quả hỗ trợ thu hồi đất xây dựng thủy điện Sơn La trên
địa bàn huyện Tủa Chùa
Kết quả bố trí tái định cư dự án xây dựng thủy điện Sơn La
50
3.5
3.6
51
trên địa bàn huyện Tủa Chùa
52
3.7
3.8
Hiện trạng sử dụng đất khu TĐC Huổi Lực năm 2014
Hiện trạng sử dụng đất khu TĐC Tả Huổi Tráng - Tà Si Láng
53
54
3.9
3.15
đất tại các điểm tái định cư huyện Tủa Chùa
Hiệu quả sản suất của người dân trước và sau thu hồi đất
64
65
Thu nhập bình quân của người dân trước và sau khi thu hồi đất
tại các điểm tái định cư huyện Tủa Chùa
Chi tiêu hàng năm của người dân trước và sau khi thu hồi đất
các điểm tái định cư huyện Tủa Chùa
66
tại
68
3.16
3.17
3.18
Tài sản của 1 hộ dân trước và sau khi thu hồi đất tại các điểm
69
3.19
tái định cư huyện Tủa Chùa
Điều kiện sinh hoạt của người dân trước và sau khi thu hồi đất
tại các điểm tái định cư huyện Tủa Chùa
Sơ đồ vị trí vùng ngập, tái định cư huyện Tủa Chùa
47
3.4
Hình ảnh điểm tái định cư Huổi Lực, xã Mường Báng
53
3.5
Hình ảnh điểm tái định cư Tả Huổi Tráng - Tả Si Láng
54
3.6
Hình ảnh điểm tái định cư Huổi Lóng, xã Huổi Só
55
3.7
Hình ảnh chăn nuôi trâu bò điểm tái định cư Huổi Lóng
62
3.8
Sau 7 năm xây dựng, Thủy điện Sơn La được khánh thành vào ngày 23 tháng
12 năm 2012, sớm hơn kế hoạch 3 năm, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt
Nam và cả khu vực Đông Nam Á. Hiện nay, phần lớn các hộ dân đã được bố trí vào
sinh sống tại các khu tái cư và được hưởng các chính sách của Nhà nước. Tuy
nhiên, một số bộ phận dân cư do phong tục tập quán, tư tưởng chưa quen với cách
chuyển đổi nghề nghiệp ở nơi ở mới nên họ gặp nhiều khó khăn trong đời sống và
sản xuất. Do vậy, đề tài "Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sản xuất
và đời sống của người dân tái định cư thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa
Chùa, tỉnh Điện Biên" là rất cần thiết và có ý nghĩa.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng sản xuất và đời sống của người dân tái định cư thủy điện
Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và đời sống cho người
dân tái định cư huyện Tủa Chùa.
3. Yêu cầu nghiên cứu của đề tài
- Các số liệu điều tra, thu thập phục vụ cho nghiên cưu đề tài đảm bảo độ
chính xác, tin cậy.
- Các giải pháp đề xuất nâng cao hiệu quả sản xuất và đời sống cho người dân
tái định cư huyện Tủa Chùa phải phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
thanh tra; Thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu sử dụng đất (tổ chức bị
giải thể, cá nhân bị chết, tự nguyện trả lại đất) phải trên cơ sở quyết định giải thể
của cơ quan có thẩm quyền, giấy chứng tử, đơn trả lại đất,...
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,
lợi ích công cộng được thực hiện theo một trình tự, thủ tục với thời gian tương đối
dài, bao gồm các bước thông báo thu hồi đất, đo đạc diện tích, kiểm đếm tài sản,
phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, cưỡng chế thu hồi đất và bàn giao đất
trên thực địa; thu hồi đất trong trường hợp người được trao quyền sử dụng đất vi
phạm pháp luật về đất đai gắn liền với thủ tục thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai; thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu
sử dụng đất có trình tự thủ tục đơn giản hơn.
- Tùy từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất mà người
bị thu hồi đất được bồi thường hoặc không được bồi thường thiệt hại về đất, về tài
sản gắn liền với đất: Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng và thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu
sử dụng đất và đất có nguồn gốc được giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng
đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, thu hồi đất nông nghiệp giao
cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường, do tự
nguyện trả lại đất thì được bồi thường; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai thì
không được bồi thường nhưng được xem xét trả lại giá trị đã đầu tư vào đất (tiền sử
dụng đất, tiền thuê đất đã trả trước, chi phí san lấp, giải phóng mặt bằng, đầu tư xây
dựng cơ bản, ...).
1.1.2. Di dân
Năm 1958, Liên hợp quốc đưa ra quan niệm về di dân, đó là sự di chuyển
1.1.3. Tái định cư
Vấn đề thu hồi đất, tái định cư là vấn đề chung của các quốc gia, nhất là các
nước đang phát triển. Đây là hậu quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và đô thị hóa. Ở nước ta, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày
càng có nhiều dự án đầu tư được triển khai cần phải thu hồi đất như xây dựng hệ
thống giao thông, bến càng, các khu công nghiệp, khu du lịch, các công trình thủy
điện,... Điều này kéo theo vấn đề phải bố trí tái định cư cho hàng trăm ngàn người
dân và làm thay đổi cuộc sống của họ vốn đã ổn định từ đời này sang đời khác.
Tái định cư được hiểu theo nghĩa rộng là mọi ảnh hưởng, tác động tới tài sản
và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do dự án phát
triển gây ra, bất kể họ có phải di chuyển hay không. Tái định cư theo nghĩa hẹp chỉ
sự di chuyển của các hộ bị ảnh hưởng tới định cư ở nơi ở mới (Phạm Hồng Hoa và
Lâm Mai Lan, 2000).
Tái định cư bao hàm tất cả những thiệt hại trực tiếp về kinh tế và xã hội gây
ra do thu hồi đất và hạn chế sự tiếp cận, cùng với những biện pháp bồi thường và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
khắc phục. Tái định cư không hạn chế sự di dời vật chất thông thường. Tái định cư
có thể, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, bao gồm (a) thu hồi đất và các công
trình trên đất, bao gồm cả doanh nghiệp, cửa hàng; (b) sự di dời vật chất; và (c) sự
phục hồi kinh tế của những người bị ảnh hưởng.
Có nhiều cách phân loại tái định cư. Xét về hình thức tái định cư thì có các
dạng như sau: Di dời dân cư vào khu đô thị; Chuyển dịch nội thành và ngoài thành
từ các chương trình cải tạo đô thị hóa, chuyển dịch theo cơ sở tự nguyện của người
dân; Tái định cư tại chỗ khi chính quyền thực hiện các dự án khu dân cư. Xét về cơ
sở tự nguyện của người dân thì có tái định cư tự giác, tái định cư tự phát và tái định
quan. Điều quan trọng là phải cân nhắc lợi ích đạt được với cái giá phải trả cho các
ảnh hưởng này bằng cách xem xét các phương án triển khai hoặc không phải di dân,
hoặc chỉ gây gián đoạn nhỏ về kinh tế, xã hội và tìm ra cách để hoà hợp những
quyền lợi và mâu thuẫn nói trên. Trường hợp không tránh khỏi tái định cư, phải tiến
hành các biện pháp cụ thể nhằm đạt được các nội dung như sau: Bảo vệ quyền lợi
và cuộc sống của những người bị di chuyển do dự án; Giảm và đền bù những thiệt
hại về tiềm năng kinh tế của người bị ảnh hưởng, của nền kinh tế khu vực và địa
phương; Hỗ trợ phát triển tiềm năng kinh tế, xã hội và văn hoá cho các cộng đồng
và người bị ảnh hưởng (Phạm Minh Hạnh, 2009).
Di dân tái định cư trong các dự án thuỷ điện chủ yếu được đầu tư xây dựng ở
bên các con sông có địa hình đồi núi cao. Mục đích xây dựng nhằm lợi dụng địa thế
tự nhiên để hình thành các hồ chứa nhân tạo. Một nhà máy thuỷ điện không chiếm
nhiều diện tích nhưng hồ chứa nước để đảm bảo vận hành nhà máy chiếm diện tích
rất lớn, từ vài km2 đến hàng trăm km2 (diện tích hồ thuỷ điện Hoà Bình là 208 km2 ,
Sơn La là 224 km2). Điều đó cũng có nghĩa là có diện tích đất tương ứng bị mất đi,
hơn nữa, đó chủ yếu là diện tích canh tác đã ổng định lâu đời (do điều kiện đất ở
đây gần nguồn nước, trong thung lũng và được canh tác lâu đời chủ yếu là đất tốt).
Diện tích đất bị thu hồi sử dụng rất lớn tới hàng chục ngàn ha cho việc tạo
lòng hồ, xây dựng các công trình nhà máy, khu phụ trợ và mặt bằng thi công. Phần
lớn đất ngập lại là các thung lũng, vùng đất thấp, đất bằng phẳng màu mỡ, nơi tập
trung đông dân cư. Đời sống chủ yếu của dân cư ở khu vực này là sản xuất nông
nghiệp, làm nương rẫy và khai thác lâm sản phụ. Trình độ sản xuất còn rất thô sơ,
quảng canh, sống phụ thuộc vào thiên nhiên là chính. Bên cạnh đó, trình độ học vấn
và khả năng tiếp thu các yếu tố kỹ thuật, văn hóa bên ngoài rất hạn chế. Nhiều tập
quán hủ tục vẫn còn tồn tại và duy trình trong đời sống cư dân và các bản làng. Do
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
- Đời sống tinh thần: Đời sống tinh thần được hiểu bao gồm tất cả những gì
liên quan đến lĩnh vực tinh thần: từ những giá trị, sản phẩm tinh thần đến những
hiện tượng, quá trình tinh thần, từ những hoạt động tinh thần (sản xuất tinh thần,
phân phôi, tiêu dùng giá trị tinh thần...) đến những quan hệ tinh thần (trong trao
đổi, giao tiếp tinh thần...). Nói đến đời sống tinh thần là nói đến tính liên tục về
thời gian, tính rộng lớn về không gian của tất cả những hiện tượng, những quá
trình tinh thần.
1.1.5.2. Sản xuất
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt
động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay
để trao đổi trong thương mại. Tùy theo sản phẩm, sản xuất được phân thành ba khu
vực: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản; Khai thác mỏ, công nghiệp chế tạo, xây
dựng; Dịch vụ.
- Sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của
xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi
làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một
số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm
nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn
bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.
- Khai thác mỏ, công nghiệp chế tạo, xây dựng:
+ Khai thác mỏ là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất
từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu được khai
thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá
phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng
cơ cấu kinh tế nhằm cải thiện đời sống của toàn bộ người dân bị ảnh hưởng để
từng bước ổn định cuộc sống,... đang là mối quan tâm và trách nhiệm của Nhà
nước, chính quyền địa phương. Do đó, việc tìm hiểu những kinh nghiệm tái định
cư, đặc biệt là tái định cư các công trình thủy điện ở một số nước Châu Á có điều
kiện tương đồng với Việt Nam là rất cần thiết để rút ra bài học kinh nghiệm, góp
phần tổ chức và thực hiện công tác tái định cư các công trình thủy điện ở nước ta
được tốt hơn.
1.2.1. Trung Quốc
Trung Quốc là nước có số người bị di chuyển là khá lớn. Từ năm 1980 nước
này đã đưa ra nhiều luật và quy định ở các cấp khác nhau theo mọi khía cạnh của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
công tác tái định cư. Luật Quản lý đất đai của Trung Quốc năm 1986 và các điều
sửa đổi, bổ sung năm 1988 đã làm rõ quyền về đất và đảm bảo quyền sử dụng đất
thuộc sở hữu Nhà nước. Cá nhân không thể mua hay bán quyền sở hữu đất. Luật
này hướng dẫn các tỉnh, thành phố, quận, huyện và thị trấn chịu trách nhiệm thực
hiện chiếm dụng đất và tái định cư, chính thức hóa các thủ tục, tham khảo ý kiến và
giải quyết khiếu nại của những người bị ảnh hưởng (Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai
Lan, 2000). Những bài học cơ bản của Trung Quốc trong việc triển khai công tác tái
định cư là:
- Trong hoạt động tái định cư khu vực xây dựng thủy điện, thủy lợi, các
chính sách và thủ tục được quy định chi tiết, rõ ràng, ràng buộc chặt chẽ với các
hoạt động khác trong xây dựng, nông nghiệp, giao thông, thương mại,... Mục tiêu
của chính sách là nhằm bảo đảm tái định cư đi liền với sự phát triển của cộng đồng
dân cư. Phương thức tiếp cận cơ bản là nhằm tạo ra các nguồn tài nguyên sản xuất
cho những người tái định cư, bao gồm sự kết hợp tốt giữa đất trồng trọt với sự thích
giới hiện nay, được xây dựng trên sông Trường Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc. Diện tích
ngập lòng hồ là 632 km2, 24,5 nghìn ha đất canh tác và 17,2 nghìn ha đất ruộng,
liên quan đến 20 huyện thị, 237 ấp xã, 1424 thôn, trong đó có 2 thành phố, 8 huyện
lỵ, 116 thị trấn tập trung đông dân. Tổng số dân phải di chuyển là 844 nghìn người,
có 362 nghìn nông dân. Đến cuối năm 2003, Trung Quốc đã bố trí tái định cư cho
khoảng 75,7 vạn người trong đó có 14 vạn người di chuyển khỏi tỉnh Hồ Bắc và
33,09 triệu m2 nhà cửa được xây dựng. Cơ sở hạ tầng các khu vực định cư mới đã
được hoàn tất. Người dân đã được ổn định và cải thiện đời sống đáng kể ở vùng đất
mới. Kinh nghiệm tái định cư khi xây dựng nhà máy thủy điện Tam Hiệp có nhiều
bài học chúng ta cần học tập như sau (Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai Lan, 2000):
- Xác định đúng ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác tái định cư và có
những nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn. Công tác tái định cư được Trung Quốc xác
định có vị trí quan trọng ngang công việc xây dựng nhà máy. Do đó các nguyên tắc
nhất quan trong quá trình tái định cư là dân đến nơi ở mới phải sớm ổn định đời
sống, có mức sống bằng và hơn nơi ở cũ; bảo đảm tính bền vững và phát triển trên
cơ sở khai thác tiềm năng lao động và tài nguyên vùng dân cư đến; Bảo đảm nguyên
tắc bình đẳng, công bằng, công khai trong di dân.
- Huy động sự tham gia, ủng hộ của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa
phương. Trung Quốc đã huy động cả nước tham gia công tác tái định cư và được
thực hiện trên địa bàn 11 tỉnh, ngoài hai tỉnh chủ yếu theo kế hoạch và chính sách
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
chung. Về huy động nguồn lực, ngoài ngân sách đầu tư của nhà nước, các địa
phương, các tổng công ty cũng đóng góp nguồn lực tài chính, vật chất đáng kể, góp
phần san sẻ gánh nặng cho nhà nước.
- Tăng cường sự tham gia và trách nhiệm của nhân dân: Đại bộ phận người
chức di chuyển phải hết sức chu đáo, cố gắng tạo thuận lợi, tránh phiền hà cho dân;
Khi điều phối đất cho dân phải tạo điều kiện để dân tiến hành sản xuất một cách
thuận lợi (tiêu chuẩn 1,5 mẫu đất canh tác và đất vườn tương đương 1.000 m2 cho
một nhân khẩu).
+ Di dân công nghiệp và đô thị: Đây là chủ trương được Trung Quốc chú
trọng đặc biệt, có đến 60% dân cư được sắp xếp tái định cư theo hình thức di dân
công nghiệp vào các đô thị trên cơ sở đầu tư các doanh nghiệp mới hiện đại, bố trí,
giải thể các cơ sở cũ, lạc hậu, xây dựng các cụm công nghiệp và đô thị mới,..
+ Trung Quốc chú trọng và khuyến khích các hình thức tái định cư tự nguyện
xen ghép vào các vùng dân cư, tái định cư tại các đô thị.
- Xây dựng hệ thống chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp. Đối với công
trình Tam Hiệp, Trung Quốc đã tập trung vào tái định cư công nghiệp, đô thị bên
cạnh tái định cư nông nghiệp với chính sách điều lệ về di dân Tam Hiệp; khung
chính sách là mức đảm bảo tối thiểu, các địa phương có thể căn cứ vào đó, tùy theo
điều kiện của từng địa phương mà bố trí cao nhất tới mức có thể cho dân. Chính
sách của nhà nước bao gồm: đền bù khi thu hồi đất, di chuyển nhà ở và phần hỗ trợ;
phần hỗ trơ chủ yếu chỉ là lương thực một năm/khẩu tương đương 150kg. Các chính
sách khuyến nông, đào tạo nghề,... cũng có nhưng chưa nhiều. Nhà nước đảm bảo
san ủi mặt bằng xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình giao thông, điện nước
điểm đến định cư.
- Quản lý công tác di dân được phân cấp mạnh mẽ: chủ yếu theo 3 cấp với
nguyên tắc Trung ương lãnh đạo thống nhất, các tỉnh chịu trách nhiệm, lấy huyện
làm cơ sở, xã có bộ máy nhưng không chính thức. Tuy nhiên với các điểm di dân
nông thôn lại được thực hiện theo 5 cấp quản lý, lấy thôn, xã làm chính.
- Làm tốt công tác tư tưởng, chính trị, tuyên truyền, vận động nhân dân và
các tổ chức địa phương trong cả nước tạo nhận thức thống nhất trong toàn thể nhân
dân để có chung hành động thực hiện tốt.
Sau 10 năm triển khai, Trung Quốc đã di chuyển 75,7 vạn người trên tổng số
84,4 vạn người cần di chuyển, chiếm gần 90%; đảm bảo tiến độ xây dựng công
thu hồi; Người bị thu hồi nhà, không bị mất đất; Người bị thu hồi một phần đất;
Người bị thiệt hại hoặc mất nguồn lợi, nguồn sống mặc dù không bị mất đất và nhà.
Với mỗi dự án, Ban đền bù được thành lập, bao gồm đại diện của những
người bị ảnh hưởng. Đền bù dựa trên nguyên tắc các tài sản bị mất phải được định
giá ở mức giá trị thay thế đầy đủ. Chi phí đất thay thể được xây dựng có tham khảo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
giá đất thị trường. Thay vì đền bù tiền mặt, người dân có quyền yêu cầu đồi đất ở
một địa điểm chấp nhận được và chất lượng đất chấp nhận được. Chi phí đền bù nhà
ở và các công trình được tính trên tổng; chi phí dỡ bỏ, hư hỏng gắn với việc di
chuyển; chi phí vận chuyển đến; chi phí xây dựng nhà với vật liệu mới và lao động
đi thuê. Việc phục hồi cuộc sống bao gồm các chi phí đào tạo hướng nghiệp, tạo
việc làm, mở rộng dịch vụ, tín dụng và trợ cấp tạm thời cho đến khi hộ gia đình tự
ổn định được cuộc sống.
Trên thực tế chính sách của EGAT đã vượt lên các quy định về khuôn khổ
chính sách chung hiện hành, mang tính tiến bộ, hướng tới mục tiêu nâng cao mức
sống của những người bị ảnh hưởng. Đây cũng là những kinh nghiệm của Thái Lan
trong công tác tái định cư các công trình thủy điện khiến cho Thái Lan được đánh
giá là một trong 4 quốc gia thực hiện tốt nhất trên thế giới hiện nay.
2.2.3. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, từ năm 1970 vấn đề tái định cư ở
các công trình thủy điện bắt đầu nảy sinh khi xây dựng công trình thủy điện Nậm
Ngừm với 3.200 dân cư bị ảnh hưởng hồ chứa. Do nhu cầu của sự phát triển quốc
gia, Chính phủ Lào đã ban hành chính sách tái định cư vào năm 1998. Trong đó, có
các điểm chính nổi bật như (Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai Lan, 2000):
- Coi việc giải quyết tái định cư không tự nguyện là kết quả của dự án phát
Như vậy, có thể thấy trong chính sách tái định của Lào thể hiện nhiều điểm
tiến bộ mà chúng ta nên học tập. Chính sách đó đã đảm bảo quyền lợi cho những
người phải tái định cư không tự nguyện, đồng bào dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng của
các dự án phát triển vì lợi ích quốc gia.
1.3. Cơ sở thực tiễn và ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây dựng các công trình
thủy điện đến đời sống, sản xuất của người dân tại Việt Nam
1.3.1. Thực trạng phát triển các công trình thủy điện ở Việt Nam
Chiến lược Phát triển nguồn điện Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010, định
hướng đến năm 2020 đã xác định: “Ưu tiên phát triển thủy điện, nhất là các công
trình có lợi ích tổng hợp (cấp nước, chống lũ, chống hạn...); khuyến khích đầu tư
các nguồn thủy điện nhỏ với nhiều hình thức để tận dụng nguồn năng lượng sạch,
tái sinh”. Theo đó, trong khoảng 20 năm tiếp theo sẽ xây dựng hầu hết các nhà máy
thủy điện tại những nơi có khả năng. Dự kiến đến năm 2020, Việt Nam sẽ khai thác
hầu hết năng lực thủy điện trên các dòng sông chính (Thủ tướng Chính phủ, 2004).
Với hơn 2.372 sông, suối lớn nhỏ có dòng chảy liên tục và dài hơn 10 km,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 18
tiềm năng thủy điện lý thuyết khoảng 35.000 MW. Tuy nhiên, tiềm năng kinh tế có
thể khai thác được khoảng 26.000 MW (tương đương khoảng 100 tỷ KWh/năm).
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đến 2012, tổng công suất lắp máy của tất
cả các nhà máy thủy điện đã vận hành khai thác đạt 13.509 MW, chiếm đến 50,17%
tổng công suất lắp máy, và sản lượng điện đạt 53,122 tỷ KWh hay 45,18% sản
lượng điện của lưới điện quốc gia. Hiện Việt Nam đã khai thác trên 80% tiềm năng
kinh tế thủy điện toàn quốc. Do chiếm một tỷ lệ lớn trong hệ thống điện quốc gia,
thủy điện đang có một vai trò rất quan trọng trong mạng lưới điện của Việt Nam.
An ninh năng lượng quốc gia hiện tại và trong tương lai gần rõ ràng đang phụ thuộc