PHẦN MỞ ĐẦU
Yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi Việt Nam tập trung xây dựng chiến
lược, kế hoạch, chính sách, pháp luật và chương trình hành động quốc gia để
các nhu cầu xã hội, môi trường và kinh tế được tổng hoà và đáp ứng một cách
cân đối với nhau. Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản toàn lần thứ IX, khẳng
định:‘‘Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và ‘‘Phát triển
kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài
hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đưa dạng
sinh học”.Điều này đặt ra yêu cầu tìm hiểu về vai trò của pháp luật trong giải
quyết các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội trong thời kỳ mới.
Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam, có nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú, đất đai màu mỡ, địa hình đa dạng và tiềm năng kinh tế biển
to lớn. Tuy vậy, với dân số trên 80 triệu người (đứng hàng thứ 14 trên thế
giới), Việt Nam đang đứng trước những thách thức về tài nguyên thiên nhiên
và môi trường, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ nghiêm trọng. Tình
hình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, nhất là quá trình đô thị hóa
trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang ảnh hưởng lớn đến tài
nguyên môi trường. Cần phải có những giải pháp để phát triển bền vững, ổn
định tối đa tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh
học đang là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay.
Theo ước tính của Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi
trường” Tổng thiệt hại kinh tế của nước ta do ô nhiễm môi trường gây ra
trong thời gian qua chiếm từ 1,5-3% GDP. Hầu hết môi trường từ đất, nước,
không khí, các khu dân cư, khu công nghiệp từ thành thị đến nông thôn đã và
đang bị xuống cấp, trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội.
Xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường và thực trạng môi trường
hiện nay, xuất phát từ vai trò của pháp luật với vấn đề xã hội nói chung và vấn
1
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp
trong hoạt động khai thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố môi trường.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật môi trường: là các quan hệ xã
hội trong quá trình tác động giữa xã hội, con người và môi trường.
Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và
văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi
trường mà các chủ thể phải thực hiện nhằm góp phần vào việc bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, môi trường trong sạch và phát triển bền vững. Các văn
bản này điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:
- Nhóm quan hệ hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước đối với
môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh chủ yếu của Luật Bảo vệ môi trường và
các luật có liên quan;
- Nhóm quan hệ về phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô
nhiễm môi trường, phòng chống sự cố môi trường. kiểm soát các hoạt động
ảnh hưởng đến môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo vệ môi
trường và hệ thống các văn bản có liên quan;
- Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng các thành
phần môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tài nguyên;
- Nhóm quan hệ về giải quyết tranh chấp môi trường, xử lý vi phạm
pháp luật môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của các ngành luật dân sự,
hình sự, hành chính;
- Nhóm quan hệ về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường.
3
Trên cơ sở việc điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội chủ yếu kể trên,
pháp luật bảo vệ môi trường được cấu thành bởi một số chế định căn bản sau:
- Chế định về quản lý nhà nước về môi trường;
- Chế định đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi
trường;
những quy định mang tính nguyên tắc về bảo vệ môi trường. Điều 29 Hiến
pháp đã quy định nghĩa vụ “bảo vệ môi trường” - một loại nghĩa vụ pháp lý
của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội.
1.2.2. Hệ thống Luật, Pháp lệnh
Trong hệ thống Luật và Pháp lệnh, việc bảo vệ môi trường được quy
định bởi Luật Bảo vệ môi trường (ban hành năm 1993 và được thay thế bởi
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 kể từ ngày 01/7/2006) và các văn bản có
liên quan. Hiện nay có 33 Luật và 22 Pháp lệnh có nội dung liên quan tới
công tác bảo vệ môi trường. Trong hệ thống các Luật, Pháp lệnh về bảo vệ
môi trường, Luật Bảo vệ môi trường có thể coi là đạo luật trung tâm trong hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi
trường năm 2005 gồm 136 điều được chia làm 15 chương quy định 14 nhóm
vấn đề quan trọng sau đây:
- Phạm vi, đối tượng điều chỉnh, nguyên tắc, chính sách về bảo vệ môi
trường của Việt Nam;
- Tiêu chuẩn môi trường;
- Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam
kết bảo vệ môi trường;
- Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên;
- Các biện pháp bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ;
- Các yêu cầu và biện pháp bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư;
- Bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác;
- Quản lý chất thải;
- Các biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô
nhiễm và phục hồi môi trường;
- Quan trắc và thông tin về môi trường;
- Nguồn lực bảo vệ môi trường;
5
Luật Tài nguyên nước (1998)
Luật Đầu tư nước ngoài (1997)
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1999)
Pháp lệnh Thú y (1993)
Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (1993)
Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ (1996)
Pháp lệnh Phí và lệ phí (2001)
6
1.2.3. Các văn bản quy phạm pháp luật khác
Để thực hiện các Luật, Pháp lệnh, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành hữu quan đã ban hành nhiều văn
bản hướng dẫn có nội dung quy định về bảo vệ môi trường:
Nghị định 175/CP năm 1994 của Chính phủ đã cụ thể hoá trách nhiệm
của chính quyền trung ương và địa phương trong việc thực hiện Luật bảo vệ
môi trường; lần đầu tiên đưa vào áp dụng một loạt các quy định liên quan đến
công tác đánh giá tác động môi trường, kiểm toán đối với các cơ sở mới của
quốc gia và áp dụng kiểm soát xuất, nhập khẩu và vận chuyển các loài quý
hiếm. Đồng thời, Nghị định này đã đề xuất quyền thanh tra và áp dụng các
khoản lệ phí và phạt hành chính môi trường, tuy nhiên khái niệm này vẫn còn
gây tranh cãi và khó đưa vào áp dụng.
Nghị định 26/CP, ban hành năm 1996, đã nâng khung phạt hành chính
đối với các vi phạm pháp luật môi trường liên quan đến những lĩnh vực: đánh
giá tác động môi trường và kiểm soát môi trường; bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên; buôn bán các loài quý hiếm; khai thác mỏ; cũng như hàng loạt những
hành vi vi phạm gây ô nhiễm.
Tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 36-CT/TƯ về
Tăng cường bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
năm 1993 đến nay đã phát triển cả nội dung lẫn hình thức, điều chỉnh tương
đối đầy đủ các yếu tố tạo thành môi trường.
Hai là, các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tương đối đầy đủ
các thành phần môi trường, nội dung các quy định đã cụ thể hoá tương đối kịp
thời và đầy đủ các chủ trương của Đảng cũng như những cam kết quốc tế về
môi trường mà Việt Nam là thành viên.
Ba là, bên cạnh việc tích cực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường, Việt Nam đã từng bước tham gia các điều ước quốc tế
về môi trường… Đây là tiền đề quan trọng cho việc hội nhập của pháp luật
Việt Nam với những tiêu chuẩn và quy phạm của pháp luật quốc tế.
Bốn là, chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được tập
trung vào một đầu mối thống nhất là Bộ Tài nguyên và Môi trường là đúng
8
hướng, tuy nhiên vẫn chưa triệt để. Bởi việc quản lý tài nguyên vẫn còn nằm
rải rác ở một số bộ, ngành, điều này dẫn tới cơ chế phối hợp trong quản lý nhà
nước chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, từ thực trạng tổ chức thi hành
các văn bản pháp luật về quản lý nhà nước và việc bảo vệ môi trường cho
thấy tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường đang có xu hướng gia tăng, đa
dạng sinh học trên đất liền và dưới nước bị suy giảm; không khí và nguồn
nước đang bị cạn kiệt dần về lượng, suy giảm về chất... Thực trạng trên do
nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do các chúng ta chưa
có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ trong lĩnh vực này.
Trên một số lĩnh vực còn thiếu văn bản có giá trị pháp lý cao, các quy
định rất tản mạn và được quy định trong rất nhiều văn bản và ở nhiều cấp độ
khác nhau, lĩnh vực quản lý các thành phần môi truờng còn được điều chỉnh
bằng nhiều luật, pháp lệnh quản lý từng thành phần môi trường như đã liệt kê
ở các phần trên.
2.1.2. Các nguyên tắc và chính sách về bảo vệ môi trường
Một trong những thành tựu của hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ
môi trường là việc xây dựng và ghi nhận, xác định được hệ thống nguyên tắc
cơ bản trong chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. Những nguyên tắc,
chính sách cơ bản về bảo vệ môi trường đã được khẳng định ngày một nhất
quán và rõ hơn. Những nguyên tắc, chính sách cơ bản này xuất phát từ chủ
trương phát triển kinh tế - xã hội theo mô hình phát triển bền vững (vừa đảm
bảo tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và ổn định, công bằng xã hội). Đó
là các nguyên tắc đã được nêu tại Điều 4 và Điều 5 Luật Bảo vệ môi trường
năm 2005. Ngoài các nguyên tắc kể trên, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc
gia của Việt Nam còn khẳng định nguyên tắc “Bảo vệ môi trường phải trên
cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật đi đôi với việc nâng
cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội về
bảo vệ môi trường”.
2.1.3. Tính khả thi của pháp luật bảo vệ môi trường
10
Trong thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật có tầm hiệu lực pháp lý cao, đủ mạnh để điều chỉnh các quan
hệ phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
2.1.4. Tính toàn diện và đồng bộ của pháp luật bảo vệ môi trường
Việt Nam đã xây dựng được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
tương đối toàn diện. Rà soát các quy định về bảo vệ môi trường chúng ta có
thể thấy, những quan hệ xã hội cơ bản phát sinh trong hoạt động bảo vệ môi
trường đã được quy định khá đầy đủ và toàn diện.
Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có thể
kể đến đó là các quan hệ xã hội sau:
- Quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ môi
sự. Cho đến nay, có thể nói, pháp luật về bảo vệ môi trường đã có cả 3 loại
chế tài này.
2.2. Những vấn đề đặt ra hiện nay trong việc điều chỉnh của pháp
luật bảo vệ môi trường
2.2.1. Tính đồng bộ của pháp luật bảo vệ môi trường
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được ban hành là một bước tiến lớn
trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước. Tuy nhiên,
một trong những vấn đề về mặt pháp lý mà Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
chưa giải quyết được chính là việc xác định vị trí của đạo luật này trong hệ
thống pháp luật và xử lý mối quan hệ giữa đạo luật này với các đạo luật có
liên quan trong đó có các đạo luật về tài nguyên (Luật Đất đai, Luật Tài
nguyên nước, Luật Khoáng sản v.v.) và các đạo luật có liên quan khác (chẳng
hạn như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp v.v.). Thực tế quá trình áp dụng
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng cho thấy, do thiếu quy phạm xử lý
mối quan hệ giữa Luật Bảo vệ môi trường và các đạo luật có liên quan mà
trong trường hợp có sự chồng lấn, mâu thuẫn giữa các quy định trong Luật
Bảo vệ môi trường (hoặc các văn bản hướng dẫn luật này) với các quy định
trong các đạo luật khác (hoặc các văn bản hướng dẫn các đạo luật này) thì
12
việc chọn quy phạm nào để áp dụng cho hợp lý có khá nhiều lúng túng,
vướng mắc.
2.2.2. Những tồn tại, bất cập trong một số nhóm quy phạm cụ thể
a) Quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường:
Về lý thuyết, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ môi trường là một bộ phận
quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, đó là những quy
định, chuẩn mực, giới hạn mà các nhà quản lý căn cứ vào đấy để quản lý môi
trường, nó là công cụ chủ yếu trong quản lý môi trường. Hiện nay, phần lớn
Với quy định về phân định thẩm quyền nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường,Luật Bảo vệ môi trường chưa có quy định rõ ràng giữa quản lý
nhà nước về bảo vệ môi trường với quản lý nhà nước về khai thác, sử dụng và
bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, nước, khoáng sản, dầu khí,
thuỷ sản… Do đó, nhiều trường hợp còn xảy ra sự chồng chéo chức năng,
thẩm quyền giữa các Bộ Tài nguyên và Môi trường với các Bộ, ngành quản lý
các thành phần môi trường khác có các hoạt động quản lý liên quan đến môi
trường. Sự “chồng chéo ngang” về chức năng, thẩm quyền có thể nhìn nhận
khi các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên do các bộ, ngành quản lý
khác quy định. Dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (tại Điều 121) đã cố
gắng cụ thể hóa việc phân định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường giữa các Bộ, ngành nhưng ngay cả như vậy, thì việc xảy ra chồng lấn
cũng là điều khó tránh. Cụ thể Chương XIII Luật Bảo vệ môi trường năm
2005 không quy định rõ vai trò của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc
giúp Chính phủ chủ trì, thống nhất các hoạt động quản lý nhà nước; không
quy định trách nhiệm các bộ, ngành cần phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi
trường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong ngành, lĩnh vực mình
quản lý.
d) Quy định về thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ môi trường:
Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trực
thuộc cấp tỉnh và huyện đã được quy định tại Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày
04/02/và Nghị định 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ, Quyết
định số 45/2003/QĐ-TTg ngày 2/4/2003 về việc thành lập Sở Tài nguyên và
14
Môi trường, đổi tên Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành Sở Khoa
học và Công nghệ thuộc Uỷ ban nhân dân, thành phố trực thuộc Trung ương;
Thông tư số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi
răn đe đối với các đối tượng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, chồng
chéo với các văn bản quy phạm pháp luật khác như 04/2008/TT-BTNMT,
việc dẫn chiếu tới các văn bản khác không cụ thể...Điều này khiến các đơn vị
quản lý nhà nước gặp nhiều khó khăn khi sử dụng Nghị định 117/2009/NĐCP, còn đối với các doanh nghiệp thì lại rất khó thực hiện đúng. Việc xử lý
các vi phạm pháp luật về môi trường, các quy định hay gặp sự mâu thuẫn
chồng chéo nhất chính là các quy định xử lý hành chính.
- Chưa có quy định rõ ràng để phân biệt giữa trách nhiệm khắc phục,
phục hồi môi trường theo pháp luật về hành chính và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại theo pháp luật về dân sự.
- Các quy định về khuyến khích, khen thưởng đối với hoạt động bảo vệ
môi trường còn chung chung, không thể thực hiện được trên thực tế. Bởi thiếu
các cơ chế tài chính, hỗ trợ và ưu đãi cho các hoạt động này.
e) Những nội dung còn thiếu hoặc cần hướng dẫn chi tiết:
Các loại quy định còn thiếu có thể kể đến các quy định về bảo vệ môi
trường biển, các quy định về thu phí khí thải, tiếng ồn, các quy định về sử
dụng hạn ngạch phát thải trong bảo vệ môi trường v.v. Thêm vào đó, trong
khi một số Bộ, ngành đã ban hành được các Quy chế bảo vệ môi trường trong
các hoạt động thuộc Bộ, ngành mình quản lý
Các quy định cần hướng dẫn thêm: Với việc ban hành Luật Bảo vệ môi
trường năm 2005, nhiều nội dung, tinh thần mới trong chính sách bảo vệ môi
trường được đưa vào trong Luật, tuy nhiên để triển khai các quy định ấy cũng
cần có sự hướng dẫn, cụ thể hóa.
g) Hiệu lực thi hành trong thực tế thấp:
Tình trạng ô nhiễm ngày càng lớn tại các khu đô thị, khu công nghiệp,
nhiều làng nghề, một số khu nông thôn hiện nay cho thấy công tác bảo vệ môi
trường của nước ta hiện này chưa đáp ứng được yêu cầu. Một trong những
16
1.2. Nội dung các vấn đề xã hội
-
Y tế
Giáo dục
An sinh xã hội
Trật tự và an toàn xã hội
Nhóm dễ bị tổn thương
Dân tộc, tôn giáo
Môi trường
2. Pháp luật về các vấn đề xã hội
2.1. Khái niệm
Pháp luật về các Vấn đề xã hội là hệ thống các quy phạm pháp luật điều
chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội;
18
Là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong các lĩnh vực xã hội, bao gồm y tế, giáo dục, môi trường, bảo hiểm
xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội.
2.2. Đối tượng điều chỉnh
- Điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các
vấn đề xã hội;
-
Điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực giáo dục, y
tế, môi trường, an sinh-xã hội…
19
Trong xã hội, để tồn tại và phát triển, các cá nhân buộc phải liên kết với
nhau thành những cộng đồng lớn nhỏ khác nhau. Đời sống cộng đồng đòi hỏi
phải phối hợp, quy tụ hoạt động của những cá nhân riêng rẽ trong xã hội theo
những hướng nhất định. Để đạt được mục đích đó, loài người đã sử dụng rất
nhiều các công cụ điều chỉnh khác nhau, trong đó có pháp luật . Pháp luật là
sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó không chỉ là công cụ quản lý Nhà nước
hữu hiệu mà còn xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh.
3.1. Vai trò xã hội của pháp luật
Pháp luật là phương tiện thể chế hóa đướng lối, chủ trương của Đảng.
Đảng được nhân dân trao cho sứ mệnh vẻ vang là người lãnh đạo nhà nước,
lãnh đạo xã hội, không ngừng củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng
là quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng được
thực hiện trước hết bằng việc đề ra các đường lối, chủ trương đúng đắn, sử
dụng các hình thức, phương tiện, phương pháp khác nhau để thực hiện trong
thực tế các chủ trương đó.Thể chế hóa đường lối, chủ trương thành pháp luật
chính là phương thức thông qua nhà nước làm cho đường lối, chủ trương của
Đảng trở thành những quy tắc chung đối với mọi thành viên của xã hội. Do
được thể chế hóa thành pháp luật, đường lối, chủ trương của Đảng trở thành
những mệnh lệnh, chỉ thị mang tính chất quyền lực nhà nước, được thực hiện
một cách trực tiếp, chính xác và thống nhất trong cả nước. Cũng qua đó quần
chúng lao động hiểu biết được cụ thể đường lối, chủ trương của Đảng và pháp
luật của nhà nước. Nếu gắn với các lĩnh vực hoạt động của đời sống và với
việc thực hiện các chức năng của nhà nước thì vai trò của pháp luật được thực
hiện ở những điểm sau:
Pháp luật góp phần tích cực vào việc tổ chức, quản lý và điều tiết nền
kinh tế. Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, vì vậy, nhà nước có
Pháp luật là cơ sở cho việc tổ chức, hoạt động và giám sát hoạt động
của bộ máy nhà nước. Pháp luật do nhà nước ban hành, song khi có hiệu lực
pháp lý thì pháp luật lại tạo ra cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước. Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật. Pháp
luật quy định các loại cơ quan nhà nước, trình tự thành lập, cơ cấu tổ chức của
21
từng loại, từng cấp và từng cơ quan, những quy định đó trở thành cơ sở để tổ
chức bộ máy nhà nước. Để quản lý toàn bộ xã hội, nhà nước dùng nhiều
phương tiện, biện pháp, nhưng pháp luật là phương tiện quan trọng nhất. Với
những đặc điểm riêng có của mình, pháp luật có khả năng triển khai những
chủ trương chính sách của nhà nước một cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu
quả nhất, trên quy mô rộng lớn nhất. Nhà nước cũng dựa vào pháp luật để
phát huy quyền lực và kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, các cơ
quan, các nhân viên nhà nước và mọi công dân. Ngoài ra, thông qua việc quy
định bằng pháp luật các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, quyền hạn và nghĩa
vụ, các chế độ, thể lệ, quy chế của các cơ quan quản lý nhà nước, quy chế
viên chức nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước…mà nhà nước tự hoàn thiện
bản thân mình, Căn cứ vào các quy định pháp luật có thể xác định các hoạt
động trong thực tế của các cơ quan và nhân viên nhà nước là đúng thẩm
quyền hay vượt quá thẩm quyền, là hoàn thành hay không hoàn thành nhiệm
vụ của mình. Nhờ đó các hiện tượng như: lạm quyền, quan liêu, nhũng nhiễu,
bao biện,…của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước dễ dàng được
phát hiện và loại trừ.
Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhà nước ta đã nhanh
chóng xây dựng một nhà nước kiểu mới, hệ thống pháp luật mới.Để củng cố,
bảo vệ và phát triển những thay đổi cơ bản của xã hội về kinh tế, chính trị - xã
hội từ phương diện pháp lý. Để hạn chế, loại bỏ những hình thức kinh tế cũ,
hệ mới trong xã hội, đồng thời củng cố, mở rộng các mối quan hệ hợp tác
quốc tế giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với các nước khác và các tổ chức
quốc tế. Pháp luật luôn hướng tới việc thúc đẩy hình thành những quan hệ xã
hội mới thể hiện sự bình đẳng, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa những người
trong xã hội. Bên cạnh đó, pháp luật còn là cơ sở pháp lý để đấu tranh với
những hiện tượng tiêu cực trong quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của đất
nước mình. Ví dụ, ở nước ta trước thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta thực
hiện chính sách ngoại giao khép kín. Nước ta chỉ quan hệ ngoại giao, kinh tế,
chính trị với các nước xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật của nước ta ngăn
23
cấm hoạt động đầu tư của tư bản nước ngoài. Trong thời đại mở cửa và Quốc
tế hóa như hiện nay điều đó không còn phù hợp nữa. Đường lối ngoại giao
của nước ta đã có sự thay đổi căn bản. Hiện nay, chúng ta đã đặt quan hệ
ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ.Đặc biệt tháng 11 năm
2007 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO). Điều đó đòi hỏi pháp luật phải có những thay đổi để phù hợp với
xu thế chung. Sự thay đổi đó thể hiện trong các bộ luật như: Luât Đầu tư, Luật
Thương Mại,…Nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư
nước ngoài như tạo môi trường đầu tư thông thoáng, giảm thuế…Những
chính sách đó được thể hiện tập trung trong pháp luật Việt Nam hiện hành.
3.2. Giá trị xã hội của pháp luật
a) Khái niệm giá trị xã hội của pháp luật
Giá trị xã hội của pháp luật là một hiện tượng xã hội, pháp luật chứa
đựng các giá trị xã hội vốn có; đồng thời, giá trị đó còn được quy định bởi
thuộc tính điều chỉnh và tính quy phạm riêng có của pháp luật.
b) Giá trị xã hội của pháp luật Giá trị xã hội của pháp luật được được
thể hiện ở những khía cạnh
Thứ nhất, pháp luật đảm bảo cho những chủ thể có ngang quyền với
điều kiện cho sự tiêu vong của chính nó: tính cưỡng chế giảm, phạm vi các
quan hệ xã hội được chuyển từ lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật sang lĩnh
vực điều chỉnh của các quy phạm xã hội càng tăng. Trên cơ sở đánh giá về
tính điển hình, tính quy luật và chuẩn mực ổn định của pháp luật mà ta có thể
từ pháp luật hiểu, nhận thức được một cách khoa học lịch sử của các quan hệ
xã hội trong quá khứ. Xuất phát từ tính quy phạm của pháp luật chúng ta có
thể thêm một phương pháp nghiên cứu xã hội, ngoài những phương pháp của
các khoa học xã hội khác như: triết học, kinh tế chính trị học, xã hội học…
Thứ ba, pháp luật khi được chính thức ban hành có giá trị và đăng tải
thông tin, định hướng hành vi xã hội, tác động mạnh mẽ vào ý thức và tâm lý
xã hội.Pháp luật là phương tiện thông báo quan điểm chính thức của nhà
nước, của xã hội về khuôn mẫu, hành vi về mô hình giải quyết các vấn đề và
phương thức điều chỉnh các giá trị xã hội thông qua pháp luật, các chủ thể có
25