Niên luận tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái huyện cái bè tỉnh tiền giang - Pdf 40

LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của khoa Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Tây
Đô và sự giúp đỡ tận tình của giảng viên Ths.Trần Mình Hùng, cho đến thời
điểm này em đã hoàn thành niên luận năm 3 với đề tài: “Tiềm năng và thực
trạng du lịch sinh thái huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang” .
Để có điều kiện hoàn thành tốt niên luận này, em xin chân thành cảm ơn
đến sự giúp đỡ của các giảng viên khoa Quản trị kinh doanh đã tận tình chỉ dạy
em cũng như các sinh viên khoa Quản trị kinh doanh trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu tại trường Đại học Tây Đô.
Đặc biệt hơn nữa, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
giảng viên Ths. Trần Minh Hùng đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành niên luận
này một cách tốt nhất.
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu em không tránh khỏi những thiếu
sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô, các bạn sinh viên
trong khoa để niên luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng em xin cảm ơn và kính chúc quý thầy cô trường Đại Học Tây Đô đặc biệt là quý
thầy cô khoa Quản trị Kinh Doanh dồi dào sức khỏe và thành công trong công tác giảng dạy của
mình.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Lê Thị Cẩm Hằng


TÓM TẮT
Nắm bắt được thế mạnh về vị trí, địa hình, vị trí của du lịch Cái Bè trong tỉnh và khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long, đã định hướng mục tiêu kinh doanh phù hợp với xu hướng phát
triển bền vững của ngành Du lịch. Tuy nhiên, du lịch sinh thái huyện Cái Bè cũng gặp phải nhiều
khó khăn như: sản phẩm trùng lấp với các tỉnh Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre,…Bên

3. Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM,2013. Nghiên cứu tiềm năng tự nhiên
phụcvụ phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Đồng Tháp
4. Tạp chí khoa học,2009. Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang
Trang web tham khảo
1. www.hcmussh.edu.vn/3cms/?cmd=130&art
2. www.tiengiang.gov.vn
3.

www.vietnammekongtravel.com

4.

www.vietnamnet.com.vn

5.

www.vietnamtourism.com.vn


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở hình thành đề tài
Tiền Giang nằm ở cửa ngõ vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), trải
dài theo bờ Bắc của sông Tiền, cách TP. Hồ Chí Minh 70 km và có 32 km bờ
biển. Được thiên nhiên ưu đãi, Tiền Giang là nơi hội tụ của: Vùng sinh thái nước
ngọt phù sa; vùng sinh thái rừng ngập mặn và vùng sinh thái ngập nước Đồng
Tháp Mười. Bên cạnh đó, Tiền Giang còn được thiên nhiên ưu đãi vì có con sông
Tiền chở nặng phù sa chảy qua, đất đai màu mỡ thích hợp trồng cây ăn quả,... đã
tạo nên những vườn cây trái xanh tươi bốn mùa cùng những đặc sản nổi tiếng:
Xoài cát Hoà Lộc, bưởi lông Cổ Cò; cam, quít Cái Bè; vú sữa Lò Rèn, Vĩnh
Kim; sầu riêng Ngũ Hiệp; thanh long Chợ Gạo; sơri Gò Công,...

Cái Bè cũng gặp phải nhiều khó khăn như: sản phẩm trùng lấp với các tỉnh Cần
Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre,…Bên cạnh đó, các loại tiềm năng du lịch


huyện Cái Bè chưa khai thác hết chủ yếu là còn ở dạng tiềm năng. Cho nên việc
xác định lợi thế tiềm năng để hướng đến các loại hình, sản phẩm, xây dựng các
tuyến điểm du lịch là rất quan trọng, với mong muốn làm cho du lịch sinh thái
huyện Cái Bè phát triển để con người được sống với thiên nhiên một cách đúng
nghĩa qua những chuyến du lịch ngắn ngày nhưng hiệu quả mang lại cao, là đứa
con của mảnh đất Tiền Giang thân yêu, hy vọng rằng từ bài niên luận này sẽ tổng
hợp được thông tin về những yếu tố thuận lợi, tài nguyên, con người, vị trí để du
lịch sinh thái huyện Cái Bè phát triển hơn. Đồng thời cũng tìm hiểu những mặt
hạn chế về tổ chức, quản lí và khai thác du lịch sinh thái ở Cái Bè nhằm đưa ra
các phương hướng hợp lí, kịp thời.
Dựa vào tiềm năng, thực trạng hiện có thì mới hướng tới một định hướng
phát triển lâu dài và bền vững. Chính vì các lý do đó mà tôi chọn đề tài “ Tiềm
năngvà thực trạng phát triển du lịch sinh thái huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang” làm
niên luận cho chuyên đề năm 3.
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích đánh giá các tiềm năng thực trạng của du lịch sinh thái huyện Cái
Bè từ đó đưa ra các chiến lược, định hướng và các giải pháp thực hiện cho phát
triển du lịch sinh thái huyện Cái Bè.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Từ việc nghiên cứu đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh
thái huyện Cái Bè”, đưa ra các mục tiêu cụ thể trong bài như:
 Tiềm hiểu tiềm năng du lịch sinh thái huyện Cái Bè.
 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch sinh thái huyện Cái Bè.
 Đề xuất các giải pháp cho du lịch sinh thái huyện Cái Bè.
Hơn nữa du lịch sinh thái là loại hình du lịch phù hợp với những tài nguyên

Chương 4: Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái huyện Cái Bè
Chương 5: Thực trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái Cái Bè
Chương 6: Kết luận và kiến nghị


CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát chung
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Cái Bè xưa vốn là lỵ sở của dinh Long Hồ. Chợ Cái Bè lập năm 1732, lúc
đó gọi là chợ Long Hồ, nay là thị trấn Cái Bè. Ngày 12-03-1912, Pháp cho
lập quận Cái Bè, thuộc tỉnh Mỹ Tho, gồm 3 tổng là: Phong Hoà (8 làng),
Phong Phú ( 9 làng) và Lợi Thuận (8 làng). Ngày 01-01-1928, tổng Lợi
Thuận được trả về Cai Lậy.
Thời Việt Nam Cộng Hoà, quận Cái Bè thuộc tỉnh Định Tường, các làng
đổi thành xã, địa giới hành chánh của quận có một số thay đổi do tách một số
xã chia cho quận Mỹ An của tỉnh Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp). Năm
1961, quận Cái Bè đổi tên là Sùng Hiếu, thuộc tỉnh Mỹ Tho; tổng Phong Phú
được giao về cho quận Giáo Đức, đổi lại, quận Cái Bè nhận tổng Lợi Thuận
tách từ quận Khiêm Ích. Ngày 10-11-1964, quận lấy lại tên cũ là Cái Bè.
Sau 30-04-1975, Cái Bè là huyện của tỉnh Tiền Giang. Ngày 12-4-1979, địa
giới hành chính của huyện được điều chỉnh như sau:
Chia xã Hậu Mỹ Nam thành 2 xã: Hậu Mỹ Phú, Hậu Mỹ Trinh.
Chia xã Hậu Mỹ Bắc thành 2 xã: Hậu Mỹ Bắc A, Hậu Mỹ Bắc Ba.
Chia xã Mỹ Thiện thành 2 xã: Thiện Trí và Thiện Trung.
Chia xã Thanh Hưng thành 2 xã: Tân Thạnh và Tân Hưng.
Chia xã Mỹ Lợi thành 2 xã: Mỹ Lợi A, Mỹ Lợi B.
Ngày 09-12-2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số
154/2003/NĐ-CP, về việc thành lập phường, xã thuộc thành phố Mỹ Tho, thị
xã Gò Công và huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Theo đó, chia xã Hội Cư
thuộc huyện Cái Bè thành xã An Cư và xã Mỹ Hội; xã An Cư có 1.142,81 ha

lông Cổ Cò, xoài cát Hoà Lộc....Huyện có trung tâm trái cây quốc gia đặt tại
xà Hoà Khánh do Tổng công ty Thương mại Sài Gòn đầu tư xây dựng, và một
số chợ trái cây lớn như An Hữu, Cái Bè, Mỹ Đức Tây, ... Chợ nổi Cái Bè
cũng là một trong những chợ đầu mối nông sản nổi tiếng ở miền Tây.
2.1.4 Khí hậu
Cũng giống như Đồng bằng sông Cửu Long, khí hậu huyện Cái Bè thuộc
vùng nhiệt đới ẩm Bắc bán cầu, chịu ảnh hưởng của gió Mùa Tây - Nam cận
xích đạo và có 2 mùa mưa và nắng rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến
tháng 11 và mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4. Nhiệt độ bình quân hàng năm
khoảng 280C. Vũ lượng bình quân hàng năm 1.465 mm. Trong mùa mưa
thường có tiểu hạn khoảng tháng 7 và 8 trong 2 - 3 tuần lễ. Vũ lượng ít hơn
khi đi từ Tây qua Đông, nên Gò Công Đông thường hay bị hạn hán và ít mưa
hơn. Mặc dù Tiền Giang tiếp xúc với biển Đông, nhưng ít có bão, ngoại trừ
trận bão lụt năm Giáp Thìn 1904 ở Gò Công, tiếp theo có nạn hoàng trùng
(nạn cào cào) và khô hạn trong 3 năm liên tục, gây thiệt mạng 5.000 người và
tài sản vật chất.
Các yếu tố khí hậu như: nắng, bức xạ, nhiệt độ, bốc hơi, mưa, độ ẩm không
khí, và gió được phân bố theo mùa khá rõ rệt, khá ổn định theo thời gian, và ít
thay đổi trong không gian.
2.1.5 Hệ thống sông ngòi
Ngoài đường bộ, ở Cái Bè còn có các kinh rạch quan trọng gồm: rạch Cái
Bè, rạch Cái Cối, rạch Bằng Lăng, kênh Nguyễn Văn Tiếp, rạch Cổ Cò, rạch
Trà Lọt, kênh 28, rạch Ruộng và hàng chục kinh, rạch lớn nhỏ khác, chằng
chịt đan xen với tổng chiều dài trên 500 km. Cái Bè là địa phương được thiên
nhiên ưu đãi với hệ thống thủy lợi tự nhiên tốt nhất trong tỉnh.
Cái Bè thuộc dòng sông Tiền: là một nhánh của sông Mêkong bắt nguồn từ
Tây Tạng, có chiều dài 4.800 km, là nguồn cung cấp nước ngọt chính cho
nông nghiệp và nước uống. Sông Tiền chảy 115 km qua lãnh thổ Tiền Giang,



Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1988 – 1989), huyện Cái Bè có 2 loại
nhóm đất chính: nhóm đất phù sa, đất phèn.
- Nhóm đất phù sa: Nhóm đất này nằm dọc theo phía Bắc của sông Tiền.
Nhóm đất phù sa rất màu mỡ thuận lợi cho ngành nông nghiệp: trồng lúa,
vườn cây ăn trái, rau quả,...
- Nhóm đất phèn: Nhóm đất này lớn thứ hai sau nhóm đất phù sa nằm ở khu
vực Bắc của huyện Cái Bè.
(Địa Chí Tiền Giang: Địa lý thiên nhiên và Huỳnh Minh, (1964), Định Tường
xưa và nay, NXB Xuân Thu, California, Mỹ quốc).
2.1.7 Đường xá
Hiện nay, hệ thống đường xá liên thông được trải nhựa và liên ấp được đút
bê tông, giúp vận chuyển, giao thông giữa và trong các xã ấp dễ dàng, mau
chóng hơn. Các loại cầu tre biến mất dần và được thay thế bằng những chiếc
cầu xi măng an toàn hơn. Tuy nhiên, nguồn nước sạch chưa được cải thiện
nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long.
2.2 Thực trạng du lịch sinh thái huyện Cái Bè
Mỗi năm Cái Bè đón gần 100.000 khách du lịch, trong đó hơn 70% là
khách nước ngoài. Năm 2014, có 129.019 lượt khách du lịch đến Cái Bè,
trong đó có 114.118 lượt khách quốc tế. Đây là con số lý tưởng đối với hoạt
động du lịch ở địa phương và minh chứng cho chiến lược khai thác phát triển
du lịch của huyện Cái Bè là định hướng hoàn toàn đúng đắn trong nhiệm vụ
phát triển kinh tế địa phương.
Tuy nhiên, trong những năm qua việc phát triển và hiệu quả mang lại chưa
tương xứng với tiềm năng du lịch của địa phương, chưa đáp ứng được nhu
cầu phát triển của ngành du lịch. Thách thức lớn nhất hiện nay mà du lịch
Cái Bè cần đặc biệt quan tâm là kinh tế du lịch trong nước đã và sẽ phát triển
mạnh mẽ, trong đó nhiều tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như: An
Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang đã xây dựng nhiều mô hình du lịch sinh thái
với quy mô lớn, na ná, nhưng khá hấp dẫn với những địa chỉ như sân chim,
vườn cò nổi tiếng sẽ lôi kéo du khách đỗ về khá thuận lợi.

chằng chịt giữa các khu vườn ven sông, rộng hàng chục đến hàng trăm hécta,
tạo thành hệ sinh thái tự nhiên rất thích hợp cho du lịch. Hết sông cái đến
sông con, rồi kênh, rạch, xẻo, ngọn, mương, vườn, cứ thế chảy đến tận từng
nhà. Huyện Cái Bè phân bố trọn trong vùng phù sa nước ngọt. Hầu hết vùng
có nước ngọt quanh năm và hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa của
Sông Tiền. Vùng cù lao được bồi đắp phù sa nên các loại cây ăn trái bốn mùa
sai quả, phù sa phủ một lớp dày trên đồng ruộng giúp lúa luôn tươi tốt. Đất
đai rất màu mỡ, khí hậu ôn hòa, thích hợp cho các cây trồng đặc sản như:
cam, quýt, nhãn, xoài, chôm chôm… Rất nhiều loại thực vật và động vật đặc
trưng phát triển ở vùng đất này. Nguồn nước các sông không những làm cho


các vườn cây xanh mát, mà còn là nơi phát triển mạnh, nhanh nghề nuôi cá
bè, nuôi trồng thủy sản trong mương vườn…
Con người: Khi đến với đồng bằng du khách nước ngoài sẽ vô cùng ngạc
nhiên với thiên nhiên mang vẻ đẹp trù phú, mới lạ nhưng không xa lạ mà lại
gần gũi, thân quen, một phần cũng do tính cách của con người nơi đây. Họ
bình dị và thân thiện với nụ cười trên môi làm mát lòng du khách đến từ
phương xa
Khí hậu: Chính là điểm thuận lợi rõ nét để Nam Bộ phát triển du lịch sinh
thái vì đặc trưng khí hậu nhiệt đới, ấm áp quanh năm. So với các vùng, miền
trong cả nước như miền Bắc thì mùa đông trời lạnh, miền Trung thì thất
thường mưa bão, trong khi đó khu vực đồng bằng sông Cửu Long về khí hậu
thuận lợi quanh năm.
2.4 Khó Khăn
Chưa hình thành thị trường du lịch hấp dẫn, lợi thế từ tiềm năng sông nước,
đất đai trù phú và đa dạng hệ sinh thái chưa được kết tinh thành những sản
phẩm du lịch có tầm vóc để thu hút và lôi cuốn du khách. Các sản phẩm du
lịch đơn sơ, chủ yếu lợi dụng yếu tố thiên nhiên và tài sản riêng lẻ của các hộ
dân để khai thác. Cho thấy mặc dù có sự tăng trưởng về số lượng khách du

mà hình thành niềm tin của du khách. Tạo ra niềm tin của khách hàng vào
từng thế mạnh của chính mình cũng là cách quảng bá thu hút khách lâu dài và
bền vững nhất.
2.5 Định hướng
UBND huyện Cái Bè đã và đang triển khai thực hiện đề án đầu tư phát
triển các làng nghề truyền thống kết hợp với làm khu du lịch.
Chủ tịch UBND huyện Cái Bè cho biết: Để cụ thể hóa Nghị quyết của Đại
hội Đảng bộ huyện Cái Bè lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 về chiến lược
phát triển du lịch của huyện; Quy hoạch phát triển tổng thể du lịch Tiền
Giang giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của UBND tỉnh,
UBND huyện đã thông qua Đề án phát triển du lịch huyện Cái Bè giai đoạn
2015 - 2020 và định hướng đến năm 2025.
Qua đó, các ban, ngành liên quan đã đưa ra những định hướng phát triển thị
trường và sản phẩm du lịch Cái Bè. Cụ thể đối với các sản phẩm du lịch lợi
thế của huyện sẽ phát triển gồm: Du lịch sinh thái, tham quan, nghỉ dưỡng
sông nước, miệt vườn; du lịch tìm hiểu văn hóa truyền thống; du lịch tham
quan di tích lịch sử, văn hóa; du lịch nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe; sản
phẩm du lịch liên kết gồm có các tour liên kết Cái Bè với các điểm du lịch
trong và ngoài tỉnh để đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Văn hóa - Thông tin huyện tiến hành phối
hợp cùng các ban, ngành và đơn vị liên quan triển khai thực hiện đề án, trong
đó chú trọng đến hoạt động xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch của Cái Bè
trên mạng internet; tổ chức các sự kiện, lễ hội du lịch để mời gọi đầu tư vào
các dự án phát triển du lịch trên địa bàn huyện. Ngoài ra còn tăng cường đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, xây dựng cơ chế,
chính sách phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch.
Với sự định hướng đúng đắn của Huyện ủy, UBND huyện Cái Bè cùng quá
trình triển khai thực hiện một cách khoa học, hợp lý cùng với những lợi thế
sẵn có, thế mạnh về du lịch sinh thái của huyện Cái Bè chắc chắn sẽ được
khai thác hiệu quả và ngày một phát triển để đạt mục tiêu của Nghị quyết Đại

khoảng thời gian nhất định”
Du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà nó còn gắn với hoạt động
kinh tế: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của con người hay tập thể từ nơi
này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên
các hoạt động kinh tế”.
Khái niệm du lịch một mặt mang ý nghĩa xã hội là việc đi lại của con người
nhằm mục đích nghỉ ngơi giải trí, tìm hiểu, khám phá…mặt khác du lịch là
ngành kinh tế có liên quan đến nhiều thành phần tạo thành một ngành dịch vụ
như : Lưu trú, ăn uống, giao thông vận tải…vì vậy có thể đánh giá tác động
của du lịch ở rất nhiều khía cạnh khác nhau.
Nhìn chung thông qua các định nghĩa về du lịch từ rất nhiều nguồn khác nhau
có thể hiểu: Du lịch là hoạt động của con người di chuyển ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình nhưng không thường xuyên với mục đích phục hồi


sức khỏe và thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu khám phá, nâng cao nhận thức của
bản thân.

3.2 Khái quát du lịch sinh thái
3.2.1 Khái niệm du lịch sinh thái
“Du lịch sinh thái”(Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới ở Việt
Nam và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực. Đây là một khái
niệm rộng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Đối với một số người, “Du
lịch sinh thái” được hiểu một cách đơn giản là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ
ghép “Du lịch” và “sinh thái”. Tuy nhiên cần có góc nhìn rộng hơn, tổng quát
hơn để hiểu du lịch sinh thái một cách đầy đủ. Trong thực tế khái niệm “Du
lịch sinh thái” đã xuất hiện từ những năm 1800. Với khái niệm này mọi hoạt
động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, nghỉ núi…đều được
hiểu là du lịch sinh thái.
Có thể nói cho đến nay khái niệm về du lịch sinh thái vẫn được hiểu dưới

bảo tồn thiên nhiên”
Định nghĩa của(Wood,1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến với những
khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường
tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái.
Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và
mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương”.
Theo hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ (1998): “Du lịch sinh thái là du lịch
có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự
nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng
thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và
lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”. - Tổng cục du lịch Việt Nam
(1999): “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa
bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và
phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.
Ở Việt Nam, Du lịch sinh thái là một lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa
những thập kỷ 90 của thế kỷ XX, xong đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt
của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Do trình độ nhận thức khác
nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau. Khái niệm về du lịch sinh thái
cũng chưa có nhiều điểm thống nhất. Để có được sự thống nhất về khái niệm
làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của du lịch sinh
thái, Tổng cục du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như
ESCAP, WWF…có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế
Việt Nam về du lịch sinh thái và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc
gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày
7 đến 9/9/1999. Một trong những kết quả quan trọng của hội thảo lần đầu tiên
đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái ở Việt Nam, theo đó: “Du lịch sinh
thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bảnđịa gắn với giáo
dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với
sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.
 Du lịch sinh thái còn có những tên gọi khác nhau:

Các tài nguyên du lịch sinh thái đặc thù:
+ Miệt vườn
+ Sân chim.
3.2.3 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
Mọi hoạt động du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đều được
thực hiện dựa trên những tài nguyên du lịch tự nhiên và những giá trị văn hóa
lịch sử do con người tạo nên và có sự kết hợp của các dịch vụ, cơ sở hạ tầng
phục vụ du lịch. Dựa vào những yếu tố đó để hình thành lên sản phẩm du lịch
phục vụ nhu cầu vui chơi, nghỉ dưỡng khám phá của khách du lịch, mang lại
lợi ích kinh tế cho xã hội. Du lịch sinh thái là một dạng hoạt động của du lịch
nói chung vậy nó cũng bao hàm những đặc trưng cơ bản của hoạt động du
lịch nói chung bao gồm:
Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác phục vụ
du lịch ( sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa , cơ sở
hạ tầng và các dịch vụ kèm theo…) Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại
nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ
cung cấp cho khách du lịch ( điện, nước, nông sản, hàng hóa…)
Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du
lịch, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức


chínhphủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du
lịch.
Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên
nhiên,cảnh quan lịch sử văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du
lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn
hóa ,kinh tế và nâng cao ý thức tốt đẹp của mọi thành viên trong xã hội.
Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể các
điểm du lịch trong một khu vực, trong một quốc gia hay giữa các quốc gia với
nhau.

Có hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý
thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn:
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái


tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các hình thức du lịch tự
nhiên khác. Cùng một nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, các sản phẩm của
chúng đều có giá trị, giá trị sử dụng, được trao đổi mua bán qua các hình thức
dịch vụ du lịch.
Song du lịch sinh thái lại có tính giáo dục và trách nhiệm cao hơn nhiều so
với loại hình du lịch tự nhiên. Du lịch sinh thái phức tạp hơn trên nhiều
phương diện: Hướng dẫn an toàn, chi phí bảo hiểm… và đòi hỏi cao hơn về ý
thức trách nhiệm của người tổ chức cũng như du khách.
Khách du lịch sinh thái sau một chuyến tham quan sẽ có tầm nhìn và hiểu
biết hơn về những đặc tính sinh thái khu vực và văn hóa cộng đồng địa
phương.Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi được
thể hiện bằng nhiều nỗ lực tích cực trong việc bảo tồn và phát triển tự nhiên
sinh thái và văn hóa khu vực.
Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái: Du lịch nói chung và du lịch sinh
thái nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và hệ sinh thái khu vực.
Các tác động tiêu cực của du lịch sinh thái sẽ làm thay đổi và biến tính hệ
sinh thái và môi trường. Một số hệ sinh thái và môi trường sống đặc biệt dễ bị
tổn thương vì áp lực phát triển du lịch sinh thái, một phần môi trường sống có
chất lượng kém hơn, điều này dẫn đến giảm đi về đa dạng sinh học.
Với các loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh
thái chưa phải là ưu tiên hàng đầu thì ngược lại du lịch sinh thái coi đây là
một nguyêntắc cơ bản cần tuân thủ bởi:
-

Mục tiêu của hoạt động du lịch sinh thái là bảo vệ môi trường và duy

tham gia các hoạt động du lịch như cho thuê nhà nghỉ, làm hướng dẫn viên du
lịch, sản xuất các mặt hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống…
Kết quả là cuộc sống của người dân địa phương sẽ ít phụ thuộc vào việc khai
thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ thấy được lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái
3.2.4 Các yêu cầu trong phát triển du lịch sinh thái
Để phát triển du lịch sinh thái cần chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau đây:
Yêu cầu 1: Du lịch sinh thái được thiết lập và phát triển ở những nơi hấp
dẫn về tự nhiên với các hệ sinh thái điển hình và có đa dạng sinh học cao,
trong đó không ngoại trừ các yếu tố văn hóa – xã hội bản địa.
Yêu cầu 2: Đảm bảm tính giáo dục: Quá trình giáo dục đào tạo cần có
những mặt quản lí, điều hành, hướng dẫn viên để thực hiện việc hướng dẫn,
diễn giải, giáo dục môi trường cho du khách nhằm giúp họ “làm giàu những
kinh nghiệm và khuyến khích những hoạt động thực tiễn có ích về môi
trường”.
Yêu cầu 3: Du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các
quy định về sức chứa: Tổ chức du lịch thế giới định nghĩa sức chứa du lịch
như sau: “Sức chứa (khả năng chấp nhận) của một nơi đến là mức độ sử dụng
hoặc phát triển du lịch tối đa nơi đến có thể hấp thu (chấp nhận) mà không tạo
ra sự phá hủy môi trường tự nhiên và các vấn đề tồn tại về kinh tế - xã hội
đồng thời không làm giảm chất lượng các kinh nghiệm thu nhận được của du
khách”.
Yêu cầu 4: Khuyến khích sự tham gia cộng đồng địa phương vào các hoạt
động du lịch nhằm đảm bảo lợi ích của họ.
3.2.5 Kinh tế vườn
Theo quyển Đồng bằng sông Cửu Long: Nét sinh hoạt xưa và văn minh
miệt vườn của nhà văn Sơn Nam (1/2004): “Kinh tế vườn xuất hiện khoảng
đầu thế kỉ XIX. Nông dân vùng này đã biết đào mương, lên liếp, lập vườn
cau, vườn dừa đã tạo ra một cảnh quan mới”. Đầu tiên vườn còn là kinh tế gia
đình, vườn bao bọc xung quanh nhà về sau vườn phát triển thành vùng

Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ. Miệt khác với Miền. Miền là khu vực rộng
hơn. Người ở Mỹ Tho gọi Miệt Dưới để chỉ vùng Rạch Giá, Cà Mau. Khi gọi
Miền Dưới, tức là nói đến vùng Hạ Châu (Tân Gia Ba, Mã Lai hoặc Nam
Dương). Miệt Vườn tiêu biểu cho hình thức sanh hoạt vật chất và tinh thần
cao nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long. Miệt Vườn là nơi trù phú”. Nhưng, về
mặt địa lí, "Miệt Vườn" là những mảnh đất nào trên địa bàn Nam Bộ rộng
lớn? Sơn Nam xác định: "Miệt Vườn là vùng Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long,
sau này là một phần của Cần Thơ. Vùng "Miệt Vườn" là nơi có mật độ dân số
cao nhất, theo bản đồ phân phối cư dân. Và cũng phù hợp với vùng phù sa
ven sông ít phèn, theo bản đồ thổ nhưỡng"; "Ranh giới các tỉnh thay đổi
nhiều, từ đời vua Tự Đức đến nay. Nói đến Mỹ Tho ta tính luôn đến vùng
Bến Tre, Gò Công. Nói đến Vĩnh Long ta tính luôn tỉnh Trà Vinh". Và những
tỉnh nào thuộc vùng đất phèn Vịnh Xiêm La? Sơn Nam viết rõ: "Rạch Giá, Cà
Mau là vùng đất phèn phía Tây. Phía Bắc là vùng quá nhiều phèn, Hà Tiên và
Đồng Tháp Mười".
3.3 Các phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp sưu tầm tài liệu
Đây là phương pháp phổ biến được nhiều người sử dụng khi nghiên cứu đề
tài, lập kế hoạch dự án đầu tư… Trước khi đi khảo sát thực tế, với tác giả là
quá trình sưu tầm tài liệu sách, báo, đĩa VCD, DVD, bài giảng ở các nơi như
thư viện, nhà sách và cả ở bạn bè, người thân.
3.3.2 Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Du lịch được xem là hệ thống, hình thành trên năm phân hệ khác nhau
(phân hệ du khách, phân hệ tài nguyên du lịch, phân hệ công trình kĩ thuật


phục vụ du lịch, phân hệ cán bộ công nhân viên du lịch, phân hệ điều hành
quản lí du lịch). Phương pháp này giúp nhận thức được qui luật vận động của
từng phân hệ và mối liên hệ nội tại giữa chúng để đưa ra các định hướng phát
triển du lịch tối ưu.


Hiệu quả

Chính sách

Giá trị

Các ngành
hỗ trợ

Cạnh tranh

Đổi mới

Năng suất

Các nhân tố
đầu vào

Hình 3.1: Mô hình Kim Cương phân tích các yếu tố


* Đối với nhóm thành tố bên trong (Inner Diamond):
(1)- Năng suất (Productivity), (2)- Hiệu quả (Efficacy), (3)- Đổi mới
(Innovation) và (4)- Giá trị (Values) được phân tích một cách hệ thống để tìm
ra những điểm mạnh điểm yếu bên trong ngành hàng:
Phân tích về (1)- Năng suất (Productivity) liên quan đến năng suất khai
thác, khả năng cung ứng dịch vụ, việc sử dụng phân bổ nguồn lực giữa các
Doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trong cùng ngành.
Phân tích về (2)- Hiệu quả (Efficacy) liên quan đến hiệu quả (Efficacy) và

Phân tích về Chính sách (Policy): Các chính sách vĩ mô liên quan đến
ngành, các chủ trương và chính sách đầu tư của ngành, các chính sách khuyến
khích hay hỗ trợ tài chính và hỗ trợ thương mại, chính sách thúc đẩy hay liên
kết giữa các ngành, các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng giao thông và các
chính sách về cạnh tranh.
Phân tích về Hệ thống hỗ trợ (Support Systems) Các định chế công và tư
liên quan đến ngành, marketing và tài chính trong ngành và các dịch vụ sản
xuất thương mại có liên quan.
Các thành tố Điều kiện yếu tố (Factor Conditions) và Công nghệ
(Technology) kết nối trực tiếp quá trình sản xuất (Production Process) còn
Các thành tố Chính sách (Policy) và Hệ thống hỗ trợ (Support Systems) cung
cấp toàn bộ môi trường kinh doanh tác động đến quá trình sản xuất kinh
doanh.
Sau khi phân tích chi tiết từng nhóm thành tố bên trong và bên ngoài ngành,
sự tương tác đan xen theo hướng tích cực lẫn tiêu cực giữa chúng sẽ được
đánh giá nhằm đi đến kết luận về khả năng hay năng lực cạnh tranh của
ngành hàng.
3.4 Mô hình nghiên cứu
Đánh giá
môi trường
bên ngoài

Đánh giá
môi trường
bên trong

Thực trạng khai thác
du lịch sinh thái
tại huyện Cái Bè


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status