LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời gian gần đây rất nhiều nước thành công và phát triển trong lĩnh vực du lịch.
Trong đó quan trọng nhất là dịch vụ du lịch sinh thái, đây là vấn đề không những chỉ tồn
tại như một khái niệm mà còn là một đề tài đáng để suy ngẫm. Tuy vậy một vài nơi nó
xuất hiện không thường xuyên và khá yếu ớt, ít được chú ý tới. Song ở nhiều nơi khác
trên thế giới vấn đề phát triển du lịch sinh thái lại rất được Chính phủ quan tâm, thường
xuất hiện trên các bản tin chính hay các quảng cáo thương mại công cộng nhằm thu hút
mọi người.
Việt Nam là đất nước có nhiều tiềm năng về nguồn lực du lịch cả về tự nhiên lẫn
nhân văn. Khách nước ngoài đến Việt Nam đều đánh giá cao vẻ đẹp đất nước ta. Hàng
loạt các địa danh có thể sử dụng phục vụ khách du lịch, bên cạnh đó nhiều điểm vẫn còn
chưa được khai thác. Thật khó mà liệt kê hết tất cả những điểm có sức thu hút khách.
Cùng với sự phát triển của du lịch nói chung, trong những năm gần đây du lịch sinh
thái Việt Nam cũng phát triển nhanh chóng. Bên cạnh những tiềm năng và triển vọng, sự
phát triển của du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức to
lớn. Đặc biệt là các tỉnh miền Tây Nam Bộ hay đổng bằng sông Cửu Long có rất nhiều
điều kiện thuận lợi về tự nhiên, con người để xây dựng các địa điểm du lịch sinh thái đặc
biệt là du lịch miệt vườn thu hút các du khách gần xa biết được nhiều hơn về các vùng
thiên nhiên,con người miền quê Việt Nam.
Chính vì vậy nhóm chúng em với mong muốn được tìm hiểu thêm nhiều kiến thức cả
về kinh tế, chính trị, xã hội tạo ra giá trị lợi nhuận và tạo ra các giá trị xã hội cao hơn
đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái tự nhiên cũng như đầu tư phát triển du lịch
quảng bá cho nước nhà đã quyết định thực hiện dự án:
“DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI - MIỆT VƯỜN TẠI TỈNH TIỀN GIANG”
DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI- MIỆT VƯỜN TẠI TỈNH TIỀN GIANG
I. DU LỊCH SINH THÁI.
1. Khái niệm:
- Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái: "Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm tại các
Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không
có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý quang cảnh tự nhiên, giá trị xã hội.
Ngược lại, các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với các nhà
quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng
góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và khung cảnh, văn hoá khu
vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và
du khách.
- Yêu cầu thứ ba: Nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động du
lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần được tổ chức với
sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa”. Khái niệm “ sức chứa” được hiểu từ bốn
khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới
lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm. Đứng trên góc độ vật lý, sức
chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều
này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu
cầu sinh hoạt của họ. Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà
tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống
văn hoá-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa
phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập. Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là
lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giói
hạn này thì năng lực quản lý ( lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý )
của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và
kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội.
- Yêu cầu thứ tư: Là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách du
lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về những kinh nghiệm,
hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu
cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái. Vì vậy, những dịch vụ
để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà
họ quan tâm.
3. Nguyên t c c b n.ắ ơ ả
- Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến
trải nghiệm chính mình trên mảnh đất quê hương thanh bình, trực tiếp nghỉ và trải
nghiệm tại nhà dân, xem cách họ sinh hoạt hằng ngày, được đi thuyền trên sông, ăn trái
cây tại vườn, câu cá, thưởng thức những điều dân gian giản dị ở đây
Du lịch sinh thái homestay gắn liền với sự phát triển của cộng động địa phương, cộng
đồng cùng nhau tham gia hoạt động du lịch, vừa sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, nền
văn hóa bản địa nhưng luôn chú ý bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ nền văn hóa địa
phương mình không bị đồng hóa với những nền văn minh khác, như vậy du lịch sinh thái
mới có thể phát triển bền vững được.
Trách nhiệm của khách du lịch homestay cũng chính là trách nhiệm của khách du lịch
sinh thái, chính vì khách có những hiểu biết và quan tâm đến môi trường tự nhiên nên
tham gia cùng ăn ở, sinh hoạt với người dân địa phương, vì vậy họ không đòi hỏi quá cao
trong ăn uống, ngủ nghỉ, họ cần một không gian thật gần với tự nhiên.
II. TÓM TẮT DỰ ÁN.
- Tên dự án: ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI- MIỆT VƯỜN TẠI
TỈNH TIỀN GIANG
- Đơn vị lập dự án: Nhóm SaigonFire, lớp D11CQQT01, trường Học Viện Công
Nghệ Bưu Chính Viễn Thông thành phố Hồ Chí Minh. - số 97 Man Thiện, Phường Hiệp
Phú, Q.9, TP.HCM.
- Đặc điểm đầu tư: Loại hình du lịch sinh thái miệt vườn sông nước.
- Địa điểm: Tỉnh Tiền Giang.
- Mục tiêu, nhiêm vụ chủ yếu: Mang lại lợi nhuận cho công ty, giá trị kinh tế xã hội
cao, tạo ý thức bảo vệ thiên nhiên tươi đẹp.
Phát triển khu vực,tạo giá trị kinh tế cho các tỉnh, thu hút khách du lịch trong và
ngoài nước.
Giúp người dân khu vực nâng cao đời sống, kết nối các khu vực.
Thỏa mãn tối đa nhu cầu khách du lịch,đáp ứng đúng tính chất của du lịch sinh thái.
Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên miền quê phát triển nhưng không mất vẻ
tự nhiên vốn có.
- Dịch vụ chủ yếu:
Nghỉ tại nhà người dân khu vực, xem cách người dân làm việc hằng ngày.
- Thời gian bắt đầu và hoàn thành: Bắt đầu từ 30/112013 và hoàn tất đưa vào phục
vụ tháng 1/6/2014.
- Tổng vốn đầu tư và nguồn cung cấp tài chính: 8 tỷ đồng ( chi phí dự trù 6 tỷ).
- Thị trường tiêu thụ:
Khách du lịch trong nước (đặc biệt thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Bình
Dương, Hà Nội )
Khách du lịch nước ngoài.
- Ảnh hưởng của dự án tới nền kinh tế- xã hội nước ta:
Phát triển kinh tế ở các địa phương thực hiện.
Tạo ra công ăn việc làm tốt, nâng cao đời sống người dân khu vực.
Mang lại sự thỏa mãn, hài lòng cho du khách. Làm việc hiệu quả tốt hơn sau một
chuyến du lịch bổ ích.
Mang văn hóa miền Tây giới thiệu khắp nơi trong nước và cả nước ngoài. Cơ hội
giới thiệu và kinh doanh được trái cây, thủy sản trong nước và xuất khẩu cao.
Cơ sở pháp lý thực hiện:
- Luật doanh nghiệp của Việt Nam năm 2005.
- Giấy phép kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh cấp.
- Luật đầu tư của Việt Nam số 59 /2005/QH11 ngày 29/11/2005.
- Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.
- Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều luật của luật doanh nghiệp năm 2005.
- Nghị định số 64/2012/NĐ-CP ngày 04/09/2012 của Chính phủ về cấp giấy phép xây
dựng
- Nghị định số 124/2008/NĐ-CP của chính phủ ngày 11/12/2008 hướng dẫn thi hành
một số điều của luật thuế thu nhập nghiệp.
- Thông tư số 130/2008/TT-BTC của bộ tài chính ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành
một số điều của luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hướng dẫn nghị định 124/2008/NĐ-
CP ngày 11/12/2008 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế thu nhập doanh
nghiệp.
- Thông tư 141/2013/TT-BTCvề việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 92/2013/NĐ-
gạo, trái cây, thủy hải sản Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2012 của tỉnh đạt 8239 tỷ
VNĐ (theo Tổng cục Thống kê), đứng thứ 4 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (sau
các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp). Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 của
tỉnh đạt 7982,6 tỷ VNĐ (theo Tổng cục Thống Kê), đứng thứ 7 ở khu vực Đồng bằng
Sông Cửu Long (sau thành phố Cần Thơ, tỉnh Long An, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Đồng
Tháp, tỉnh Cà Mau và tỉnh Sóc Trăng). Là một trong những vùng đất có lịch sử khai phá
lâu đời, Tiền Giang có nhiều lễ hội, di tích lịch sử - văn hoá đặc sắc, tiêu biểu cho lịch sử
hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ. Chỉ riêng về di tích lịch sử - văn hóa, kiến
trúc, hiện Tiền Giang có 20 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia. Do đó, việc gắn kết du
lịch với văn hoá - quảng bá văn hoá là một tiềm năng cần quan tâm.
1. Đặc điểm tự nhiên.
A) Vị trí địa lý
Tiền Giang là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, có tọa
độ địa lý từ 10
o
12'20'' - 10
o
35'26'' vĩ Bắc và 105
o
49'07'' - 106
o
48'06'' kinh Đông; Bắc giáp
tỉnh Long An; Nam giáp sông Tiền, ngăn cách với tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Bến Tre; Tây
giáp tỉnh Đồng Tháp; Đông Bắc giáp thành phố Hồ Chí Minh còn Đông Nam giáp biển
Đông với chiều dài 32 km.
Lãnh thổ Tiền Giang nằm trải dọc theo bờ Bắc của sông Tiền với chiều dài 120 km,
nằm án ngữ ngay cửa ngõ phía Nam của thành phố Hồ Chí Minh với 3 tuyến đường giao
thông huyết mạch là quốc lộ 1A, quốc lộ 30 và quốc lộ 50. Ngoài ra, tuyến đường thủy
quan trọng từ các tỉnh miền Tây lên thành phố Hồ Chí Minh cũng đi qua kênh Chợ Gạo
nằm trên địa bàn tỉnh này.
- Khu vực Gò Công: có độ cao thấp dần từ 0,8 - 0,4 m, từ phía Đông kênh Chợ Gạo
đến biển Đông; có hai vùng trũng cục bộ tại xã Thạnh Trị, Yên Luông, Bình Tân (huyện
Gò Công Tây) và Tân Điền, Tân Thành (huyện Gò Công Đông). Trên địa bàn có nhiều
giồng cát biển hình cánh cung nổi lên so với xung quanh do tác động của quá trình bồi
lắng phù sa ở cửa sông Soài Rạp và cửa sông Tiền, độ cao phổ biến từ 0,9 - 1,1 m.
C) Khí hậu
Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nội chí tuyến cận xích đạo, gió mùa nóng ẩm.
Nền nhiệt độ trung bình cao và ổn định quanh năm từ 27 - 29
o
C. Chênh lệch nhiệt độ giữa
các tháng không lớn lắm, từ 1 - 4
o
C. Số giờ nắng trung bình từ 2.200 - 2.610 giờ/năm.
Tổng nhiệt độ hoạt động trong năm từ 9.500 - 10.000
o
C, tháng 4 nóng nhất với nhiệt độ
trung bình 28,9
o
C, tháng 12 mát nhất với nhiệt độ trung bình 25
o
C.
Khí hậu Tiền Giang phân hoá thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió Đông
Bắc. Lượng mưa trung bình 1.350 - 1.500 mm/năm, phân bố ít dần từ Bắc xuống Nam, từ
Tây sang Đông. Độ ẩm trung bình 80 - 85%.
Có 2 hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Tây Nam
hình thành từ Nam Ấn Độ Dương vượt qua xích đạo, tác động đến các tỉnh phía Nam
nước ta, mang đặc tính nóng ẩm, gây mưa lớn, chiếm khoảng 90% lượng mưa trong năm
của tỉnh. Gió mùa Đông Bắc, còn gọi là gió chướng; hoạt động mạnh từ tháng 12 đến
tháng 4, có đặc tính khô hanh, gây ra hiện tượng khô nóng kéo dài; làm gia tăng tác động
phần cực Bắc của tỉnh. So với sông Tiền, nước từ sông Vàm Cỏ kém hẳn về chất lượng.
Vào mùa lũ, một phần lượng nước từ sông Tiền chảy tràn vào Đồng Tháp Mười và thoát
ra biển qua sông Vàm Cỏ Tây (một nhánh của sông Vàm Cỏ) nhưng khả năng tháo lũ của
sông này rất kém vì có quá nhiều đoạn uốn khúc. Vào mùa cạn, hầu như toàn bộ sông
Vàm Cỏ bị thủy triều bán nhật của biển Đông chi phối, nước biển dễ dàng lấn sâu về phía
thượng nguồn. Vào cùng một thời điểm và cùng một khoảng cách đến biển, độ mặn trên
sông Vàm Cỏ lớn gấp nhiều lần trên sông Tiền.
Ngoài các con sông chính, mạng lưới sông ngòi của Tiền Giang còn bao gồm nhiều
kênh rạch như:
- Rạch Ba Rài: chảy theo hướng Bắc - Nam, từ sông Cũ - kinh 12 đến sông Tiền, dài
22,2 km, thuộc địa bàn huyện Cai Lậy. Rạch cắt ngang qua quốc lộ 1A tại cầu Cai Lậy.
Phần Rạch phía Nam quốc lộ 1A có nhiều đoạn uốn khúc, ngay trước khi ra đến sông
Tiền có một khúc ngoặc hình Ω. Rạch có chiều rộng trung bình 40 m, hẹp dần về phía
Bắc; nơi rộng nhất (130 m) tại chỗ giáp sông Tiền (xã Hội Xuân); nơi hẹp nhất (20 m) tại
vị trí giáp rạch Ba Bèo (còn gọi là sông Cũ, Bà Bèo). Rạch có độ sâu trung bình 7 - 8 m
so với mặt đất tự nhiên.
- Kênh Bảo Định (tên cũ: Bảo Định Hà, Arroyo de la Poste): chảy trên địa bàn huyện
Chợ Gạo và thành phố Mỹ Tho, nối sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây. Chiều dài kênh qua
địa phận Tiền Giang là 19.000 m. Độ sâu so với mặt đất tự nhiên thay đổi tùy theo đoạn,
đoạn từ cửa kênh (chỗ thông với sông Tiền) đến cầu Triển Lãm sâu 6 - 9 m, đoạn từ vàm
rạch Đạo Ngạn đến chùa Phổ Đức sâu 4 - 5 m, cạn nhất là đoạn chảy qua 2 xã Phú Kiết
và Mỹ Tịnh An của huyện Chợ Gạo chỉ sâu 2 - 3 m. Trước khi có kênh Chợ Gạo, kênh
Bảo Định là tuyến đường thủy quan trọng từ Đồng bằng Sông Cửu Long đi Sài Gòn.
Hiện nay, vai trò này đã nhường lại cho kênh Chợ Gạo, kênh Bảo Định được xây cống ở
hai đầu để ngăn nước mặn.
- Rạch Cái Cối: chảy trong địa phận huyện Cái Bè, chạy từ Tây sang Đông qua các xã
chuyên canh cây ăn trái là Tân Thanh, An Hữu, An Thái Đông, Mỹ Lương, Mỹ Đức
Đông và cắt ngang quốc lộ 1A tại cầu An Hữu, dài khoảng 21 km. Đầu phía Tây thông
với rạch Cái Nhỏ, đầu phía Đông thông trực tiếp ra sông Tiền. Đoạn qua xã Tân Thanh
còn có tên khác là rạch Dâu. Nơi rộng nhất (400 m) tại đầu phía Đông, nơi hẹp nhất (37
Sóng biển có độ cao cực đại (bình quân 1,25m và tối đa 3m) vào các tháng 10 đến
tháng 02 khi có ảnh hưởng rõ nét của gió Đông Bắc (gió chướng). Ngoài ra, chế độ thủy
triều khu vực biển Gò Công Đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều biển Đông.
Vùng ven biển, thuộc hệ thống các cửa sông giáp biển nên từ lâu đã thiết lập được hệ
thống rừng trồng ngập mặn với diện tích 2.028ha gồm các loại bần, đước, mắm, dừa
nước, phi lao. Thực vật dưới tán lá rừng ngập mặn rất phong phú gồm 75 loài thuộc 35
họ.
Khu vực ven biển được phù sa bồi đắp quanh năm, hiện quá trình bồi đắp đang hình
thành các cồn ven biển:
- Cồn Vân Liễu - cồn Ông Mão: nằm tiếp giáp với vùng đất liền thuộc xã Tân Thành
(Gò Công Đông), có chiều dài 7km, rộng 5km với diện tích 4.055ha. Độ cao đường bình
độ từ 0,6 đến -6,0m, vùng ven bờ nổi lên khi triều kém.
- Cồn Ngang: nằm tiếp giáp phía Đông cù lao Tân Thới thuộc xã Phú Tân (Gò Công
Đông), có chiều dài 5,5km, rộng 2,5km với diện tích 1.617ha. Độ cao dường bình độ từ
-1,1 đến -0,6m, nổi một phần diện tích khi triều kém. Hiện một số khu vực cao trên cồn
đã trồng được phi lao, mắm
- Cồn Vượt: nằm cách 1,5km về phía Đông Nam cồn Ngang, có chiều dài 10km, rộng
3km, với diện tích 3.188ha. Độ cao đường bình độ từ -2,3 đến - 6,1m, ngập hoàn toàn.
Với điều kiện nằm giữa các cửa sông nên rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt
thủy hải sản. Thủy sản nước lợ: gồm con giống và con non sinh sản và di chuyển vào sâu
trong bờ, trữ lượng hàng năm ước tính về tôm, cua, cá, sò, nghêu tại các vùng cửa sông
là 156.000 tấn. Hải sản, tiềm năng hải sản khá dồi dào với trữ lượng hàng năm về sinh vật
nổi lên đến 12.000 triệu tấn thực vật phiêu sinh; 5,96 triệu tấn động vật phiêu sinh, 4,7
triệu tấn sinh vật đáy và hơn 1 triệu tấn cá.
E) Tài nguyên thiên nhiên
+ Đất đai:
Tỉnh Tiền Giang có diện tích không lớn (2.484 km2), trải dài từ Tây sang Đông dọc
theo tả ngạn sông Tiền. Lịch sử kiến tạo địa chất khác nhau, địa hình khác nhau, chế độ
khí hậu - thủy văn khác nhau… đã tạo nên nhiều loại đất phong phú và đa dạng. Về cơ
bản, đất đai Tiền Giang có thể chia thành 4 nhóm chính như sau:
của tỉnh, chủ yếu là đất cát giồng. Đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ,
màu sắc vàng sáng, vàng sẫm. Đất có phản ứng ít chua ở tầng mặt và trung tính ở tầng
dưới sâu, độ phì không cao. Đất cát giồng được khai thác sớm triệt để. Các giồng cát giữ
được nước ngọt cho mùa khô, địa hình lại cao nên thường là những tụ điểm quần cư đông
đúc. Hiện nay phần lớn các giồng cát ở Gò Công Đông, Gò Công Tây bị lấp hoàn toàn
dưới lớp phù sa.
Hiện trạng sử dụng đất :
Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Tiền Giang thời điểm 01-01-2013
Danh mục
Tổng diện tích
(nghìn ha)
Đất nông
nghiệp (nghìn
ha)
Đất lâm
nghiệp (nghìn
ha)
Đất chuyên
dùng (nghìn
ha)
Đất ở (nghìn
ha)
Cả nước 33.115,0 9.825,3 13.816,6 1.753,7 1620,4
Đồng bằng Sông
Cửu Long
4.060,2 2.760,6 516,8 294,1 310,0
Tiền Giang 248,4 176,1 10,4 19,6 11,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê
+ Sinh vật:
Thưc vật:
cây chòi mòi mọc nhiều ở các gò cao; họ cà phê có cây gáo thích hợp vùng đất nhiễm
phèn, cho gỗ màu vàng, có mùi thơm; cây bình bát mọc hoang, trái chín có màu vàng có
mùi hôi nồng, vị chua ngọt, ăn được.
- Quần thể thực vật trên đất phù sa cổ, đất giồng: đặc điểm địa chất của vùng đất này là
đất cát và đất pha cát, độ màu mỡ ít, thường khô hanh vào mùa nắng. Thực vật chủ yếu
gồm: họ sao, dầu, mọc hiều nơi trên các giồng đất cao, phổ biến có cây trâm bầu, mọc ở
dãy đất cao, hiện ở Gò Công còn địa danh Gò Bầu; họ hàng nhà tre có nhiều chủng loại
gồm tre đắng, tre hóp tre gai và các loại trúc; có cây me keo cho gỗ lớn, có thể đóng đồ
đạc làm nhà, lá cây trị bệnh, quả ăn được; các loại thân gỗ như cây me, cây so đũa; họ
thầu dầu có cây bả đậu cây đu đủ tía, cây xương rồng; họ trúc đào có cây dừa cạn, cây
trúc đào;
Động vật:
Theo Địa chí tỉnh Tiền Giang, ngày trước, vùng đất này có rất nhiều loại thú rừng
như: cọp, heo rừng, voi, khỉ, trăn, rắn, cá sấu, kỳ đà Trong dân gian còn lưu truyền
nhiều câu chuyện liên quan đến các loài động vật này như: chuyện cọp ở giồng Găng,
Truông Cóc, rạch Dà (Gò Công); chuyện heo rừng ở bưng Cây Gáo Ba Làng (Cai Lậy),
chuyện voi đi ở rạch Láng Tượng, rạch Tràm, chuyện ông Phụng đánh voi ở làng Giai
Mỹ Tuy nhiên, hiện nay, các loài thú rừng này hầu như không còn nữa.
Ngày nay, hệ động vật chủ yếu ở Tiền Giang bao gồm các loài thủy sản, lưỡng cư, bò
sát, chim chóc, thú nuôi, côn trùng. Nguồn thủy sản ở Tiền Giang rất phong phú, bao
gồm thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt.
- Thủy sản nước mặn bao gồm nhiều loài cá biển như: cá chim, cá sơn (nhỏ hơn cá
chim), cá rựa, cá thu, cá gún, cá mập, cá dứa, cá mòi, cá ngừ, cá chét, cá mực, cá cúi (heo
biển), cá bẹ, cá búa, cá giủa, cá nhám, cá đường, cá kìm, cá lạc, cá bạc má, cá lù đù, cá
chỉ vàng, cá thòi lòi biển, cá lưỡi trâu, cá đối
- Thủy sản nước lợ: không phong phú bằng các vùng nước ngọt và nước mặn. Tại các
cửa sông nước lợ ở Tiền giang có loài cá bống kèo rất được thị trường ưa chuộng.
- Thủy sản nước ngọt bao gồm nhiều loại cá như: cá bống tượng, bống mú, bống các,
bống xệ, bống trứng (chỉ xuất hiện vào mùa nước son từ thượng nguồn đồ về), bống dừa,
cá trèn, cá chốt, cá lòng tong, cá mè vinh, cá mè rổ, mè hôi, cá bãi trầu, cá lành canh, cá
về chủng loại, ít về số lượng. Vì thế, việc khai thác cần phải tính toán kĩ về hiệu quả,
quan tâm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Các khoáng sản chính của tỉnh bao
gồm:
- Than bùn: trữ lượng trên 5 triệu m3, phân bố ở Phú Cường, Tân Hoà Tây - huyện Cai
Lậy (mỏ Tân Hoà); Tân Hoà Đông - Tân Phước (mỏ Tràm Sập). Vỉa than nằm ở độ sâu
trung bình 0,5 - 1 m, dày hơn 1 m, phân bố trên diện tích khoảng 50 ha. Loại than này có
thể dùng làm nhiên liệu, nguyên liệu nền cho sản xuất phân vi sinh.
- Mỏ sét: tìm thấy ở Tân Lập - huyện Tân Phước. Mỏ sét Tân Lập có nguồn gốc trầm
tích hổn hợp sông biển, tuổi Holocen, có lớp phủ dầy 0,2 - 3 m, phân bố trên diện tích 2 -
3 km2 với chiều dày 15 - 20 m. Trữ lượng khoảng 6 triệu m
3
. Sét có màu xám tối, có
nhiễm phèn, chất lượng tốt, có khả năng làm nguyên liệu để sản xuất ra các mặt hàng
gốm, vật liệu xây dựng.
- Cát sông: phân bố chủ yếu trên lòng sông Tiền thuộc các huyện Cái Bè, Cai Lậy,
Châu Thành với chiều dài 2 - 17 km, rộng 300 - 800 m, dày 2,5 - 6,9 m. Tổng trữ lượng
khoảng hơn 93 triệu m3. Thành phần hạt chủ yếu là hạt tập trung và hạt nhỏ; độ hạt giảm
dần về phía hạ lưu. Cát sông được khai thác để san lắp mặt bằng.
- Nước dưới đất: trên phạm vi tỉnh có 3 tầng chứa nước có triển vọng, có độ giàu nước
từ lớn đến trung bình, có chất lượng tốt, đủ điều kiện khai thác với qui mô lớn và vừa
gồm các phân vị Pliocen trên, Pliocen dưới và Miocen. Các phân vị này phân bố tập trung
ở Mỹ Tho, Cai Lậy; độ sâu dao động từ 150 - 400m. Tại các nơi khác, khả năng khai thác
hạn chế. Tại Mỹ Tho, lưu luợng đang khai thác hơn 40.000m
3
/ngày đêm. Loại hình nước
chủ yếu là Bicarbonat - Natri, Clorua- Natri ; nhiệt độ 28 -30
o
C; pH 6 - 8,3.
2. Tổ chức hành chính
Hiện nay, Tiền Giang có 10 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Mỹ Tho - tỉnh
Cai Lậy
Huyện
Tân
Phú
Đông
Diện tích (km²) 79.8 102 436.1 267.7 180.2 235 229.9 333 414.8 202
Dân số (người) 215.541 97.709 276.887 143.418 134.768 178.000 234.423 50.000 307.404 42.926
Mật độ dân số
(người/km²)
2701 958 636 536 748 757 1020 150 741 212
Số đơn vị hành
chính
11 phường
và 6 xã
5 phường
và 7 xã
1 thị trấn
và 24 xã
2 thị trấn
và 11 xã
1 thị trấn
và 12 xã
1 thị trấn
và 18 xã
1 thị trấn
và 22 xã
1 thị trấn
và 12 xã
1 thị trấn
và 27 xã
13,5% dân số, lứa tuổi 5 đến 9 tuổi chiếm 11,2%. Các lứa tuổi từ 20 đến 24, 25 đến 29,
30 đến 34 ít chênh lệch nhau, khoảng 9,2% cho từng lứa tuổi. Tuổi từ 35 trở lên chiếm tỷ
lệ thấp dần. Các chỉ số này cho thấy thành phần dân số sống phụ thuộc ở Tiền Giang rất
cao, nó đặt ra nhiều vấn đề về trường lớp, khu vui chơi và công ăn việc làm cho những
thanh niên đến tuổi lao động. Số người già từ 60 tuổi trở lên ở Tiền Giang chiếm tỷ lệ
trung bình so với khu vực (7%), song vấn đề này đang đặt ra những yêu cầu về phục vụ,
giải trí, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe để nâng cao tuổi thọ của người dân.
- Xét theo giới tính, Tiền Giang có số nữ nhiều hơn nam. Theo số liệu thống kê năm
2012, dân số Tiền Giang có 1.704.214, trong đó số nam là 828.385, số nữ là 875.829
người, chiếm 51,4%. Tỷ số giới tính (số nam/100 nữ) của tỉnh là 94,6% cũng thấp hơn
khu vực và cả nước.
- Xét về dân tộc, cộng đồng dân cư tại Tiền Giang gồm các dân tộc: Kinh, Hoa,
Khmer, Chăm, các dân tộc khác. Người Việt đến Tiền Giang từ đầu thế kỷ XVII, chủ yếu
là do dân cư miền ngoài di cư vào để tị nạn chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến
Trịnh - Nguyễn. Tiến trình nhập cư của lưu dân Việt vào vùng Tiền Giang từ lẻ tẻ, rời
rạc, dần dần có quy mô lớn hơn, nhất là sau khi các chúa Nguyễn đã tạo ra ảnh hưởng của
mình trên vùng đất này. Cho đến những thập kỷ cuối thế kỷ XVI, thế lực của chúa
Nguyễn trên vùng đất này được tăng lên mạnh mẽ, khuyến khích làn sóng định cư của
người Việt. Từ năm 1679, người một nhóm người Hoa tị nạn nhà Thanh do Dương Ngạn
Địch dẫn đầu được chúa Nguyễn cho phép đến định cư tại đất này; họ lập nên khu phố
buôn bán đông đúc, có tên là Mỹ Tho đại phố.
- Xét theo độ tuổi lao động, Tiền Giang có dân số trẻ nên lực lượng lao động dồi dào.
Theo thống kê năm 2012, dân số từ 15 tuổi trở lên ở Tiền Giang là 1.186.587 người,
ngoài ra số người có hoạt động kinh tế thường xuyên là 947.980 người (chiếm 70,8%),
trong đó có tới 875.884 người làm nông nghiệp (chiếm tỷ trọng 88,5%).
B) Giáo dục
Hệ thống giáo dục của tỉnh Tiền Giang bao gồm đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu
học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời
điểm 30-09-2012, tỉnh Tiền Giang có 387 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 7 ở
khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tiền Giang có các trường tiêu biểu như: Trường
chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 14 bệnh viện, 19 phòng khám đa khoa khu
vực và 178 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 3.597 giường, trong đó các bệnh
viện có 2.620 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 46 giường, trạm y tế có 931
giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2011, tỉnh có 757 bác sĩ, 805 y
sĩ, 907 y tá, 387 nữ hộ sinh, 60 dược sĩ cao cấp, 617 dược sĩ trung cấp và 96 dược tá.
Theo thông tin từ Website Đài phát thanh và truyền hình Tiền Giang, đầu năm 2010,
ngành y tế Tiền Giang có trên 4.000 y bác sĩ, toàn tỉnh có 169/178 trạm y tế có bác sĩ,
168 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật y tế từ
tỉnh đến cơ sở được đầu tư và ngày càng chuẩn hoá, ứng dụng kỹ thuật hiện đại giúp nâng
cao chất lượng khám chữa bệnh.
D) Giao thông
+ Hệ thống hạ tầng giao thông:
Với vị trí nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố Cần Thơ và thành phố Hồ Chí
Minh, lại có sông, có biển, Tiền Giang có mạng lưới giao thông thủy bộ khá thuận lợi.
- Đường bộ: tỉnh có quốc lộ 1A đi qua, hầu hết các xã phường đều có đường ô tô đến
tận trung tâm. Ngoài quốc lộ 1A, tỉnh còn có 3 tuyến quốc lộ khác nối các huyện thị trong
tỉnh với các tỉnh lân cận như: quốc lộ 60 từ thành phố Mỹ Tho đi Bến Tre; quốc lộ 50 từ
Mỹ Tho đi Chợ Gạo, Gò Công, Long An; quốc lộ 30 từ Cái Bè đi Vĩnh Long, Đồng
Tháp. Đầu năm 2010, tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương khánh
thành, nối thành phố Hồ Chí Minh với thành phố Mỹ Tho, giải tỏa một lượng lớn phương
tiện giao thông trên quốc lộ 1A. Hiện tại, tuyến cao tốc thứ 2 từ Trung Lương đi Mỹ
Thuận cũng đang được thi công, khi hoàn thành, hệ thống đường bộ trên địa bàn Tiền
Giang sẽ mang diện mạo mới.
- Đường thủy: mạng lưới giao thông thủy khá phát triển, Tiền Giang có lợi thế để trở
thành đầu mối của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long về giao lưu vận tải biển với cả
nước và các nước trong khu vực Đông Nam Á. Cảng Mỹ Tho, nằm ở khu công nghiệp
Mỹ Tho, có thể tiếp nhận tàu có tải trọng 3.000 tấn vào cảng. Tiền Giang đang kêu gọi
đầu tư mở rộng cảng Mỹ Tho về phía Đông; giai đoạn 1 đã được tiến hành năm 2005 với
công suất đạt 400 ngàn tấn/năm; giai đoạn 2 dự kiến sẽ tiến hành trong năm 2010 với
công suất 650.000 - 800.000 tấn/năm, xây dựng cầu tàu 3.000 - 5.000 DWT, kho bãi chứa
trong đó vốn ngân sách trung ương 88,6 tỷ đồng, chiếm 11,9% tổng số, vốn ngân sách địa
phương 731 tỷ đồng, chiếm 88,1%. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được 7 dự án
đầu tư với tổng vốn đăng ký 152,6 triệu USD.
Sáu tháng đầu năm 2013, Tỉnh có 172 doanh nghiệp đăng ký thành lập với tổng vốn
đăng ký là 473,9 tỷ đồng, tăng 7% về số doanh nghiệp và tăng 21,8% về lượng vốn đăng
ký. Ngoài ra, còn có 90 doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn với tổng vốn bổ sung thêm là
1.495,2 tỷ đồng và 321 doanh nghiệp đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh. Tính đến
ngày31 tháng 12 năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 4.112 doanh nghiệp, trong đó có 2.793
doanh nghiệp đang hoạt động, 207 doanh nghiệp đã đăng ký nhưng chưa hoạt động, 159
doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chờ giải thể 121, doanh nghiệp
không tìm thấy, không xác minh 166, doanh nghiệp thuộc đối tượng khác 666. Tổng số
hợp tác xã hiện có trên địa bàn tỉnh là 104 hợp tác xã và 01 Liên hiệp hợp tác xã.
Trong sáu tháng đầu năm 2013, Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng xã hội thực hiện được 15.438 tỷ đồng, đạt 46,5% kế hoạch năm và tăng 16,7% so
cùng kỳ. Xuất khẩu hàng hóa không được thuận lợi, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt
360 triệu USD, đạt 41,9% kế hoạch. Hàng thủy sản xuất 60.476,8 tấn tăng 13,4%, về trị
giá tương đương 159,8 triệu USD tăng 7,2% so cùng kỳ. Hàng rau quả xuất 3.345 tấn
giảm 30,3%, về trị giá đạt 3,7 triệu USD chỉ bằng 64,6% so cùng kỳ. Xuất khẩu Gạo đạt
được 89.592 tấn bằng 63,8% so cùng kỳ, về trị giá đạt 41,4 triệu USD giảm 35,7% so
cùng kỳ (giảm 22,9 triệu USD). Hàng dệt may xuất được 5.341,8 ngàn sản phẩm giảm
8,5% so cùng kỳ, về trị giá tương đương 57 triệu USD tăng 10,7% so cùng kỳ. Kim
ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 125,3 triệu USD, đạt 36,9% kế hoạch và bằng 80,4% so
cùng kỳ, gồm kinh tế nhà nước đạt 26,2 triệu USD, tăng 38%; kinh tế tư nhân đạt 40,2
triệu USD, bằng 58,8%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 59 triệu USD, bằng 86% so
cùng kỳ. Doanh thu vận tải đạt 655,4 tỷ đồng, tăng 28,5% so cùng kỳ, trong đó vận tải
hàng hóa đạt 394,3 tỷ đồng, tăng 32,2%, vận tải hành khách đạt 239,3 tỷ đồng, tăng
23,3%. Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 5.805 nghìn tấn, tăng 17,8% so cùng
kỳ, khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 552.206 nghìn tấn, tăng 24,6% so cùng kỳ.
Doanh thu Bưu chính viễn thông đạt 538,2 tỷ đồng tăng 17,7% so 6 tháng đầu năm 2011.
Chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,33% so với tháng 12 năm 2011, bình quân 1 tháng tăng