Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn ông Lương xã Ngọc Châu huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, so sánh hiệu lực điều trị của thuốc vilamoks – LA và mutibio - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

HOÀNG THỊ HIỆP

Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG, SÁT NHAU Ở
ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN ÔNG LUƠNG XÃ NGỌC CHÂU,
HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG, SO SÁNH HIỆU LỰC ĐIỀU TRỊ
CỦA THUỐC VILAMOKS - LA VÀ MUTIBIO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2015

Thái Nguyên – năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

HOÀNG THỊ HIỆP

Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG, SÁT NHAU Ở
ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN ÔNG LUƠNG XÃ NGỌC CHÂU,

điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn gia đình bạn bè đã luôn
bên tôi động viên giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành
tốt quá trình thực tập.
Thái Nguyên, ngày

tháng

Sinh Viên

Hoàng Thị Hiệp

năm 2015


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong Nhà trường, thực hiện
phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất,
thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập
của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên nói riêng. Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối
với mỗi sinh viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên
củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên
làm quen với thực tiễn sản xuất từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm
được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác
phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một người cán
bộ chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự

Bảng 4.11:Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, sát nhau tại cơ sở thực tập ....................52
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung, sát nhau đến khả năng sinh sản của
lợn nái nuôi tại trại ...................................................................................53
Bảng 4.13:Chi phí sử dụng thuốc và hiệu quả sử dụng trong điều trị ......................54


iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
HTNC:

Huyết thanh ngựa chửa

MMA :

Mastitis Metritis Agalactia - Hội chứng viêm vú,
viêm tử cung và mất sữa

PRRS:

Porcine reproductive and respiratory syndrome Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

TT :

Thể trọng

VTM:

Vitamin



MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 1
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1 Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn nái ........................................... 3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý, sinh sản của lợn nái .................................................... 6
2.1.3 Một số hiểu biết về quá trình viêm .......................................................... 9
2.1.4 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm ......... 10
2.1.5. Một số vi khuẩn gây viêm đường sinh dục ở lợn nái............................ 11
2.1.6. Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn ............................................... 12
2.1.7. Những hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài ........ 22
2.1.8. Hiểu biết về bệnh viêm tử cung, sát nhau ở lợn nái .............................. 24
2.1.9. Nguyên tắc phòng và điều trị bệnh viêm tử cung, sát nhau. ................. 25
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ................................... 26
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 26
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 28
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .29
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 29
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 29
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi .................................... 29
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 29



xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Để cung cấp lợn giống cho
nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần
thiết.
Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn
phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các
hộ gia đình. Đối với lợn nái, nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp cho nên tỷ lệ
mắc bệnh sinh sản xuất hiện ngày càng nhiều hơn do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện
khí hậu nước ta còn kém. Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn như
Streptococcus, Staphylococcus, E.coli…xâm nhập và gây nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm
môn,…đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung, đây là bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn
mẹ. Nếu điều trị không kịp thời, thì bệnh viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: viêm vú, mất
sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết. Vì vậy, lợn
mắc các bệnh viêm tử cung, sát nhau và đẻ khó…luôn là vấn đề cần quan tâm tại các trại chăn nuôi. Bệnh
gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn do làm giảm năng suất sinh sản, mất khả năng sinh sản, chết thai,
tiêu thai, tỷ lệ thụ thai thấp và là nguồn kế phát các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho đàn lợn ở trại.

Để có thêm kinh nghiệm thực tiễn trong chăn nuôi lợn nái sinh sản,
nâng cao tay nghề, trau dồi kinh nghiệm, củng cố lý thuyết đã học ở trường.
Được sự nhất trí của thầy giáo hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau ở đàn lợn nái sinh
sản tại trại lợn ông Luơng xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang,
so sánh hiệu lực điều trị của thuốc vilamoks – LA và mutibio”.
1.2. Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau trên đàn lợn nái
sinh sản của trại lợn ông Lương thuộc xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh
Bắc Giang.
- So sánh được hiệu lực điều trị của thuốc vilamoks – LA và mutibio
- Xác định được mức độ ảnh hưởng của bệnh tới một số chỉ tiêu năng suất
sinh sản của lợn nái.

2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn nái
Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và cơ
bản, giúp gia súc hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống. Cơ quan sinh dục của
lợn nái bao gồm: bộ phân sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong.
- Bộ phận sinh dục ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình.
+ Âm môn: hay còn gọi là âm hộ (vulva) nằm dưới hậu môn. Phía
ngoài âm môn có hai môi (labia pudenda). Hai môi được nối với nhau bằng
hai mép (rima vulae). Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có
nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi).
+ Âm vật (clitoris): âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,
giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại. Về cấu tạo, âm vật cũng
có các thể hồng như con đực.
+ Tiền đình (vestibulum): tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo.
Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu
đạo. Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập thành một
nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng
có chức năng tiết dịch nhầy, (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003), [8].
- Bộ phận sinh dục bên trong :
+ Âm đạo: âm đạo có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao
phối đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ là ống
thải các chất dịch từ tử cung. Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ có thành
dày, phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh che
lỗ âm đạo, âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn ở


4

giữa và lớp niêm mạc ở trong. Trên bề mặt niêm mạc có nhiều thượng bì gấp
nếp dọc. Âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm.

sự ảnh hưởng của oestrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhầy xâm
nhập vào lớp dưới màng nhầy và cuộn lại tuy nhiên các tuyến chỉ đạt được khả
năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progensterone. Sự phân tiết của tuyến
tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn của chu kỳ lên giống.
+ Buồng trứng: buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực
hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormon sinh
dục cái). Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai, hình dáng và
kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và
chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi.
Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tủy.
Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng.
Miền vỏ bao gồm ba phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình
hạt. Tế bào trứng nguyên thủy hay còn gọi là trứng non (fulliculloophoriprimari)
nằm dưới lớp màng của buồng trứng. Khi noãn nang chín, các tế bào nang bao
quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào hình hạt (strarum glannulosum).
Noãn bào ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo thành xoang chứa
dịch. Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc,
ở ngoài có chỗ dầy lên để chứa trứng (ovum).
Miền tủy: bao gồm mạch máu, dây thần kinh , mạch bạch huyết và mô liên
kết. Trên buồng trứng có các noãn bao ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng
là những noãn bao sơ cấp, phân bố tương đối đều, tầng trong là noãn bao thứ cấp
đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng.
Có bốn loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất,
được bao bọc bởi lớp tế bào vẩy, noãn nang nguyên thủy được phát triển
thành noãn nang bậc 1, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập


6


7

có tính ổn định với từng giống của vật nuôi. Nó được duy trì qua các thế hệ và
luôn củng cố và hoàn thiện qua quá trình chọn lọc để đánh giá đặc điểm sinh lý
sinh dục của của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu theo dõi các chỉ
tiêu sau đây: tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi
phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại...
+ Tuổi động dục lần đầu: là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động
dục. Các giống lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (1996) [4] thì tuổi động dục đầu tiên ở
lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg;
ở lợn nái là F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg. Lợn ngoại động dục muộn hơn
(6 - 7 tháng) khi đạt 65 - 80 kg.
Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có
tuổi động dục lần đầu khác nhau. Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu
vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire,
Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi.
Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ. Lợn cái hậu bị được sinh
vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tấn
Anh và cs, 1998) [1].
Theo Lê Xuân Thọ và cs (1979) [21] có thể tiêm HTNC cho lợn nái
hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục đạt hiệu quả cao.
+ Tuổi phối giống lần đầu
Phạm Hữu Doanh và cs (1996) [4] cho rằng: không nên phối giống ở
chu kỳ động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ,
chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn
chỉnh. Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua
1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống.



9

động dục. Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và
sáng ngày thứ 3.
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [15] cho biết: thời điểm phối
giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con. Phối sớm hoặc phối muộn đều
cho kết quả kém, nên cho phối kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm
tối ưu.
+ Mang thai: thời gian mang thái của lợn trung bình là 114 ngày (113 115 ngày). Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên.
Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ.
+ Năng suất sinh sản của lợn
Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 2,0 - 2,2 lứa/ năm. Tuy
nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất
sinh sản của lợn. Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ
tiêu: số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sửa, tỷ
lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm...
+ Sinh lý đẻ: Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy
từng loài gia súc khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của hệ thống
thần kinh thể dịch gia súc mẹ xuất hiện những cơn rặn đẻ để đẩy bào thai và
các sản phẩm trung gian ra ngoài quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ. (Trần
Tiến Dũng và cs, 2002) [6].
2.1.3 Một số hiểu biết về quá trình viêm

 Khái niệm
Hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau của viêm đã được đề cập tới trong y
học cổ đại và những khái niệm về viêm cũng được hình thành từ rất sớm song
lại rất khác nhau. Theo Vũ Triệu An và cs (1990) [2] thì viêm là một phản



trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phá hủy các chất tại vùng viêm,
chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao và hạ thấp độ PH của
ổ viêm.
Như vậy, ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương mô bào còn tạo ra nhiều
chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã
góp phần hình thành và phát triển vòng xoẵn bệnh lý trong viêm.


11

- Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm nước thành
phần hữu hình và các chất hòa tan như nước, muối, albumin, globulin,
fibrinogen, bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản
viêm lan. Đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh lý như histamin, serotonin
axetincholin có tác dụng giãn mạch và tăng tín thấm thành mạch gây đau.
2.1.5. Một số vi khuẩn gây viêm đường sinh dục ở lợn nái
Theo kết quả nghiên cứu của Zaneta, Laureckiene (2006) [27]: Nhân tố
gây bệnh viêm đường sinh dục thường là các vi khuẩn sau: Streptococcus sp,
Staphylococcus sp, E.coli và Enterobacter.
Cũng theo thông tin Đặng Thanh Tùng (2006) [24], phân lập hệ vi
trùng chủ yếu từ dịch viêm tử cung tại phòng xét nghiệm gồm có:
- E.coli
- Staphylococcus
- Klebsiella
- Staphylococcus + E.coli
Dưới đây là thông tin về một số loại vi khuẩn gây bệnh viêm đường sinh dục:
- Streptococcus: Là liên cầu khuẩn thuộc họ Micrococcaceae, hình cầu
hoặc hình bầu dục, đường kính có khi đến 1µ, đôi khi có vỏ, bắt màu gram
dương, không di động. Liên cầu có ở khắp nơi trên cơ thể người và động vật,

trên, vi khuẩn có thể gây viêm phổi ở người và viêm phổi truyền nhiễm có bại
huyết cho ngựa, bê, lợn,... (Nguyễn Văn Thanh, 2002) [19].

2.1.6. Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn

 Bệnh viêm tử cung:


13

Bệnh xảy ra trên cả ở lợn nội và lợn ngoại, tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc
vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y ( Nguyễn
Hữu Phước, 1992) [16]
- Nguyên nhân gây bệnh: Từ bản thân lợn mẹ
+ Lợn là loài động vật đa thai, khả năng sinh sản cao, thời gian mang thai
ngắn, thời gian sinh sản kéo dài,... làm cho bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo
điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển trong bộ phận sinh dục.
+ Cơ quan sinh dục của lợn nái phát triển không bình thường gây khó
đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do nhiều trường hợp khác nhau như: Thai to quá, thai
ra ngược, thai không bình thường,... Nái tơ phối giống sớm khi khối lượng cơ
thể chưa đạt 70% khối lượng trưởng thành, nái già đẻ nhiều lứa, trong khi đẻ
tử cung co bóp yếu, lứa trước bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến
dạng nhau không ra hết hoàn toàn gây sót nhau, thối rữa, tạo điều kiện cho vi
khuẩn phát triển mạnh.
+ Lợn nái ngoại nhập nội cũng dễ mắc bệnh do chưa thích nghi với
điều kiện khí hậu Việt Nam và khả năng sinh sản nhiều con/lứa.
- Do yếu tố ngoại cảnh như: Do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật, do thức
ăn nghèo dinh dưỡng, hay do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản
khoa sai kỹ thuật, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý, thiếu vận
động đã tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh.

bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus)
liên cầu dung huyết (Streptococus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,
Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trecbomonas fortus) và
do nấm Candda albicans.
Kết quả phân lập của Nguyễn Hữu Phước (1992) [16] cho thấy, tỷ lệ
các loại vi khuẩn gây viêm tử cung ở lợn nái như sau:
E.coli chiếm

26,7%

Prosus vuglgaris chiếm 16%

Steptococcus chiếm

34,5%

Klebsielle

10,2%


15

Staphylococcus chiếm

11,2%

Các loại khác:

2-7%

16

+ Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt cao 39,5 400C. Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu
vàng xanh lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh hôi.
Kiểm tra đường sinh dục bằng hệ thống đèn soi thấy vùng âm đạo có
dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt, vùng đỏ không đều, niêm dịch chảy từ
cổ tử cung ra có mùi thối.
+ Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung chảy mủ bá đậu: thân nhiệt
tăng cao 39,5 - 400C. Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn. Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ
xanh, vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối.
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, múi thối khắm. Trạng thái này xuất hiện chậm 7 - 8
ngày sau khi lợn đẻ, bệnh ảnh hưởng đến sản lượng sữa.
Theo Đặng Đình Tín (1986) [22], con vật luôn biểu hiện trạng thái đau
đớn lượng sữa giảm kế phát sang viêm vú.
- Chẩn đoán phân biệt :
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: lợn nái luôn ở tư thế cong
lưng lên rặn.
Kiểm tra đường sinh dục nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử
cung, âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mủ màu trắng đục có mùi thối
khắm...
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thế ẩn khó phát hiện có thể chấn
đoán lúc động dục qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiều đôi khi có những
đám mủ từ cơ quan sinh dục ngoài chảy ra. Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh
thường khó thụ thai (Trekaxova và A.V và cs, 1983) [25].
Có thể tìm muxin trong dịch nhày từ âm hộ chảy ra bằng cách cho vào
1ml dung dịch axít axetic 1%, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc
bệnh và ngược lại (Lê Văn Năm, 1999) [14].





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status