BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
----------------------------------------
ĐỖ TRUNG KIÊN
XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
CHO CÔNG TY TNHH TRUYỀN THÔNG SÁNG TẠO
CKD VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Phạm Thị Nhuận
Hà Nội - 2016
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn : Đỗ Trung Kiên
Đề tài luận văn: Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cho công ty TNHH Truyền
thông sáng tạo CKD Việt Nam
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số SV: CB140715
Tác giả, Người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn xác nhận
học nào.
Hà Nội, tháng 09 năm 2016
Học viên thực hiện
Đỗ Trung Kiên
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do lựa chọn đề tài ........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................2
5. Kết cấu của luận văn ........................................................................................3
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP ............4
1.1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp .....................................................................4
1.2. Ba cấp độ của văn hóa doanh nghiệp ...............................................................5
1.3. Phân loại văn hóa doanh nghiệp ......................................................................8
1.4. Các giai đoạn hình thành văn hóa doanh nghiệp ...........................................13
1.5. Tác động của văn hóa doanh nghiệp tới sự phát triển của doanh nghiệp ......15
1.6. Các nhân tố tác động tới văn hóa doanh nghiệp ............................................16
1.7. Quy trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp ....................................................20
1.8. Mô hình Edison ..............................................................................................23
1.9. Kết luận chương 1 ..........................................................................................31
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI
CÔNG TY TNHH TRUYỀN THÔNG SÁNG TẠO CKD VIỆT NAM ............32
2.1. Giới thiệu chung.............................................................................................32
2.2. Phân tích dựa trên quan sát và phỏng vấn các chính sách của CEO ..............42
Danh mục hình vẽ
Hình 1.1: Cấu trúc văn hóa tổ chức theo Edgar H. Schein .........................................6
Hình 1.2: Mô hình Edison .........................................................................................23
Hình 1.3: Yếu tố nhiệm vụ trong mô hình Edison ....................................................25
Hình 1.4: Yếu tố sự thích nghi trong mô hình Edison ..............................................25
Hình 1.5: Yếu tố sự tham gia trong mô hình Edison ................................................26
Hình 1.6: Yếu tố sự nhất quán trong mô hình Edison...............................................27
Hình 1.7: Phân tích theo chiều ngang trong mô hình Edison ...................................28
Hình 1.8: Phân tích theo chiều dọc trong mô hình Edison .......................................29
Hình 1.9: Phân tích theo đường chéo: nhiệm vụ và sự tham gia ..............................30
Hình 1.10: Phân tích theo đường chéo: sự thích nghi và nhất quán .........................30
Hình 2.1: Logo của CKD Vietnam giai đoạn đầu .....................................................38
Hình 2.2: Logo chính thức và logo mảng đào tạo của CKD Vietnam ......................38
Hình 2.3: Bộ nhận diện thương hiệu .........................................................................39
Hình 2.4: Áo đồng phục ............................................................................................40
Hình 2.5: Các phòng chụp ảnh của CKD Vietnam ...................................................40
Hình 2.6: Mô hình Edison về văn hóa doanh nghiệp tại CKD Vietnam .................51
Hình 2.7: Tổng hợp điểm số của các câu hỏi ............................................................56
Danh mục bảng vẽ
Bảng 2.1: Các chỉ số đánh giá dựa trên mô hình của Edison ....................................43
Bảng 2.2: Quy trình thực hiện các dự án chụp ảnh của CKD Vietnam ....................46
Bảng 2.3: Phân công nhân sự của CKD Vietnam trong các khóa học ......................47
Bảng 2.4: Điểm số trung bình của các chỉ số theo mô hình Edison .........................53
Bảng 2.5: Các câu hỏi có điểm số cao nhất ..............................................................57
Bảng 2.6: Các câu hỏi có điểm số thấp nhất .............................................................57
Bảng 2.7: Tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu của CKD Vietnam ..........................61
Bảng 3.1: Quy trình làm việc với khách hàng ..........................................................68
Bảng 3.2: Lộ trình phát triển của CKD Vietnam trong 5 năm tới ............................70
Văn hóa doanh nghiệp luôn được thể hiện và phản ánh thông qua hai mặt. Một
mặt, nó phản ánh môi trường bên ngoài của doanh nghiệp: khách hàng, thị trường,
những giá trị văn hóa đạo đức chung của cả xã hội. Mặt khác, nó thể hiện những nét
đặc trưng, những nguyên tắc, phong cách làm việc của nội bộ doanh nghiệp. Đó là
cách các thành viên trong doanh nghiệp cùng nhau làm việc, cùng nhau giải quyết
vấn đề và hướng tới mục tiêu phát triển chung.
Văn hóa doanh nghiệp đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải liên tục xây dựng qua
nhiều năm. Những kinh nghiệm, quan điểm kinh doanh sau một thời gian dài đúc kết
và kiểm chứng cũng sẽ trở thành văn hóa doanh nghiệp. Để có thể có một nền văn
hóa mạnh mẽ và vững chãi, doanh nghiệp cần có chiến lược xây dựng ngay từ giai
đoạn mới thành lập và không ngừng thay đổi và phát triển nền văn hóa đó.
Thành lập năm từ năm 2014, công ty TNHH Truyền thông sáng tạo CKD Việt
Nam là một doanh nghiệp khởi nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhiếp ảnh thương
mại. Với đội ngũ nhân viên trẻ tuổi, năng động và sáng tạo, CKD Vietnam luôn xác
định việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp từ những ngày đầu tiên là nền móng để có
sự phát triển bển vững, tập trung được toàn bộ nội lực của các cá nhân cũng như
doanh nghiệp để phát triển mạnh mẽ trong ngành. Dựa trên mong muốn đó, tác giả
đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cho công ty
TNHH Truyền thông sáng tạo CKD Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
1
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp và xây dựng văn hóa doanh
nghiệp
Mô tả và phân tích thực trạng văn hóa doanh nghiệp của CKD Vietnam dựa
trên mô hình Edison. Tìm ra các cơ sở: điểm mạnh, điểm yếu; các yếu tố cần
tập trung để xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Từ cơ sở đã nghiên cứu đưa ra định hướng và cách thức xây dựng văn hóa
với văn hóa doanh nghiệp của tổ chức.
B4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu và đưa ra giải pháp.
Kế hoạch nghiên cứu
STT
Công việc
Thời gian
29/08 – 03/09
1
Quan sát trực tiếp
2
Phỏng vấn chủ doanh nghiệp
3
Phỏng vấn trực tiếp các nhân viên của công ty
04/09
05/09 – 07/09
và điền vào phiếu hỏi
4
Kết quả nghiên cứu được tổng hợp và xử lý
Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản,
các công ty Mỹ chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thành công đó. Cụm từ Corporate
Culture (Văn hoá Doanh nghiệp) đã được các chuyên gia nghiên cứu về tổ chức và
các nhà quản lý sử dụng để chỉ một trong những tác nhân chủ yếu dẫn tới sự thành
công của các công ty Nhật trên khắp thế giới.
Đầu thập kỷ 90, người ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố
cấu thành cũng như những tác động to lớn của văn hoá đối với sự phát triển của một
doanh nghiệp. Đã có rất nhiều khái niệm văn hoá doanh nghiệp được đưa ra nhưng
cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn nào được chính thức công nhận.
Ông Saite Marie, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra
định nghĩa như sau: “ Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng,
huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành
nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.
Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Văn hoá doanh
nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống,
4
những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã
biết”.
Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa
của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “Văn hoá doanh nghiệp là tổng
hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá
trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”
1.2.
Ba cấp độ của văn hóa doanh nghiệp
Theo Edgar H. Schein, cấu trúc văn hóa tổ chức có thể chia thành ba cấp độ
Kế hoạch, mục tiêu, triết lý (Hợp lý và
tổ chức (rất khó để giải mã được ý nghĩa)
được ủng hộ)
Những niềm tin, suy nghĩ, nhận thức hay
Những quan niệm chung
cảm nhận được thừa nhận một cách vô thức
(là nguyên nhân sâu xa nhất của các giá trị,
hành động)
Hình 1.1: Cấu trúc văn hóa tổ chức theo Edgar H. Schein
Nguồn: Organization Culture and Leadership, Schein
Đây là cấp độ có thể nhận thấy ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên, nhất là với
những yếu tố vật chất như: kiến trúc; cách bài trí; đồng phục, … Chúng cũng rất gần
gũi với các giá trị của xã hội và có đặc điểm chung là chịu ảnh hưởng nhiều của tính
chất hoạt động của tổ chức, quan điểm của người lãnh đạo, … Điểm quan trọng của
cấp độ này là chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nhưng lại rất khó giải mã được ý
nghĩa của nó. Cấp độ văn hóa đầu tiên này chỉ là biểu hiện bên ngoài của hệ thống
văn hóa tổ chức. Tuy nhiên, cấp độ văn hóa này dễ thay đổi và ít khi thể hiện được
những giá trị thực sự trong văn hóa của tổ chức. Một thực tế là rất nhiều người nhầm
lẫn khi đánh giá hoặc thậm chí lựa chọn các dấu hiệu hữu hình này là định hướng xây
dựng văn hóa tổ chức.
Cấp độ thứ hai - Những giá trị được tuyên bố bao gồm các chiến lược, mục tiêu, triết
lý của tổ chức.
Tổ chức nào cũng có quy định, nguyên tắc, triết lý, chiến lược và mục tiêu
riêng, là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ nhân viên và thường được tổ chức
này. Khi các giá trị này được thể hiện trong các triết lý về hệ tư tưởng của tổ chức,
chúng sẽ trở thành những chỉ dẫn và phương pháp hành động của các thành viên trong
tổ chức. Các giá trị này mang tính ổn định tương đối.
7
Cấp độ thứ ba - Những quan niệm chung: niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình
cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong tổ chức.
Đây là cấp độ cao nhất của văn hóa tổ chức, là những quan niệm nền tảng
chung, được hình thành và tồn tại trong một thời gian dài, chúng ăn sâu vào tâm lý
của hầu hết các thành viên trong nền văn hóa đó và trở thành điều mặc nhiên, phổ
biến, được công nhận và trở thành các quan niệm nền tảng.
Một khi trong tổ chức đã hình thành được quan niệm chung, tức là các thành
viên cùng nhau chia sẻ và hành động theo đúng quan niệm chung đó, họ sẽ rất khó
chấp nhận những hành vi đi ngược lại. Bản chất của nền văn hóa nằm ở những quan
niệm chung của chúng. Nếu nhận biết văn hóa của một tổ chức ở cấp độ một và hai,
chúng ta có thể hiểu được nền văn hóa đó ở bề nổi của nó, tức là có khả năng suy
đoán mọi thành viên của tổ chức sẽ “nói gì” trong một tình huống nào đó. Chỉ khi
nào nắm được cấp độ văn hóa thứ ba, chúng ta mới có khả năng dự báo họ sẽ “làm
gì” khi vận dụng những giá trị này vào thực tiễn (vì những điều được công bố hay
công khai chưa chắc đã phản ánh đúng thực chất vấn đề).
Do đó, quan niệm chung chính là các giá trị của tổ chức về các loại mục tiêu
mà các thành viên của tổ chức nên theo đuổi và các loại hay các tiêu chuẩn hành vi
mà các thành viên của tổ chức nên sử dụng để đạt được các mục tiêu này.
1.3.
Phân loại văn hóa doanh nghiệp
Khi thành lập doanh nghiệp, lãnh đạo thường vay mượn ý tưởng các mô hình
loại hình văn hóa gia đình, coi nhà lãnh đạo là ngọn nguồn của mọi quyền lực, trong
loại hình văn hóa tháp Eiffel, người nắm giữ chức vụ cao nhất có thể bị thay thế bất
kỳ lúc nào và điều này sẽ không ảnh hưởng gì đến hoạt động của các thành viên và
sự tồn tại của tổ chức.
Mô hình văn hóa tên lửa được định hướng: Mô hình này có nghĩa là mọi thứ
được thực hiện để giữ vững ý định chiến lược và đạt được mục tiêu. Mô hình tên lửa
điều khiển hướng nhiệm vụ do một đội hay nhóm dự án đảm trách. Trong đó mỗi
thành viên nhận nhiệm vụ không được sắp xếp trước. Nếu như trong văn hóa tháp
Eiffel mỗi công việc đều có giới hạn và được định rõ thì trong văn hóa này họ phải
làm bất cứ điều gì để hoàn thành nhiệm vụ, và việc cần làm thường không rõ ràng và
có thể phải tiến hành tìm kiếm. Các dự án thường ứng dụng mô hình này.
9
Mô hình văn hóa lò ấp trứng: Mô hình này dựa trên quan điểm rằng cơ cấu tổ
chức không quan trọng bằng sự hoàn thiện cá nhân. Cũng giống như “vật chất có
trước ý thức” là phương châm sống của các triết gia, “vật chất có trước tổ chức” là
quan điểm của mô hình văn hóa lò ấp trứng. Nếu các tổ chức tỏ ra khoan dung, chúng
nên là những cái nôi cho sự thể hiện và tự hoàn thiện. Mục tiêu của mô hình này là
giải phóng con người khỏi những lề lối quen thuộc, trở nên sáng tạo hơn và giảm
thiếu thời gian tự duy trì cuộc sống.
Bốn mô hình trên minh họa mối liên hệ giữa người lao động với quan điểm
của họ về doanh nghiệp. Mỗi mô hình văn hóa doanh nghiệp đều là “mô hình lý
tưởng”. Thực tế, chúng kết hợp hoặc bao hàm lẫn nhau với từng mô hình văn hóa
thống trị.
1.3.2. Phân loại theo sự phân cấp quyền lực
Văn hóa nguyên tắc: Đây là loại hình VHDN dựa trên những nguyên tắc và
quy định. Quyền lực trong doanh nghiệp đi từ những vị trí mà người đó đang đảm
nhiệm và áp dụng một cách công bằng các nguyên tắc và quy định. Vai trò và trách
sẵn sàng hy sinh nhu cầu cá nhân của họ cho tổ chức. Mô hình văn hóa này sử dụng
cơ chế tự do đối với các chuyên gia, chuyên viên.
Loại hình này thường được xây dựng trong những tổ chức như các công ty
thực hiện các dự án.
1.3.3. Phân loại theo mỗi quan tâm đến nhân tố con người và thành tích
N.K.Sethia & M.A.Von Glinow đã dựa vào hai khía cạnh để đưa tới quyết
định về văn hóa của tổ chức đó là: mối quan tâm đến nhân tố con người (những nỗ
lực của tổ chức chăm sóc phúc lợi của các nhân viên) và mối quan tâm đến thành tích
(những nỗ lực của tổ chức tập trung vào sản lượng và năng suất của nhân viên). Theo
đó có thể chia làm bốn loại là lãnh đạm, quan tâm, đòi hỏi nhiều và hợp nhất.
Văn hóa kiểu lãnh đạm: Biểu hiện ở việc có rất ít mối quan tâm cả về con
người lẫn thành tích. Trong nền văn hóa này, các cá thể chỉ chú trọng đến lợi ích của
chính mình. Xu hướng thờ ơ có thể xuất hiện ở bất cứ một tổ chức nào. Nhiều công
ty coi những nhân viên lâu năm như những cành khô và chẳng đóng góp được gì cho
11
thành tích của công ty cả. Thái độ này chính là biểu hiện sự thờ ơ của các công ty
này.
Văn hóa kiểu chăm sóc: Loại văn hóa này quan tâm cao độ tới con nguời nhưng
ít quan tâm đến thành tích. Nếu xét về khía cạnh đạo đức thì văn hóa này thật là lý
tưởng. Các tổ chức áp dụng kiểu văn hóa này tin rằng nếu các nhân viên được quan
tâm và chăm sóc tốt thì sẽ trung thành với công ty. Hơn nữa, nếu nhân viên được
chăm sóc tốt thì các khách hàng cũng được chăm sóc và tính cạnh tranh của công ty
sẽ vượt trội hơn.
Văn hóa kiểu đòi hỏi nhiều: Rất ít quan tâm đến con người mà quan tâm nhiều
đến thành tích. Văn hóa này chú trọng vào lợi ích của cả tổ chức.
Văn hóa hợp nhất: Loại văn hóa này kết hợp cả quan tâm con người lẫn thành
tích. Một công ty trở nên hợp nhất hai yếu tố khi những nhà quản lý nhận ra rằng
trương quyền uy đối với họ.
Văn hóa đề cao vai trò tập thể: Vai trò của người lãnh đạo được hòa tan và
chia sẻ cho một nhóm người theo kiểu bộ tộc, hội đồng kỳ mục, băng nhóm, bang
hội... Dĩ nhiên, khi biết sử dụng sức mạnh của tập thể để hoàn thành các mục tiêu
riêng của mình, người lãnh đạo trở thành “nhà độc tài” trong mô hình văn hóa quyền
lực.
1.4.
Các giai đoạn hình thành văn hóa doanh nghiệp
1.4.1. Giai đoạn non trẻ
Nền tảng hình thành văn hóa doanh nghiệp phụ thuộc vào nhà sáng lập và
những quan niệm chung của họ. Nếu như doanh nghiệp thành công, nền tảng này sẽ
tiếp tục phát triển và tồn tại, trở thành một lợi thế, thành nét nổi bật, riêng biệt của
doanh nghiệp và là cơ sở để gắn kết các thành viên vào một thể thống nhất.
Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp phải tập trung tạo ra những giá trị văn hoá
khác biệt so với các đối thủ, củng cố những giá trị đó và truyền đạt cho những người
mới (hoặc lựa chọn nhân lực phù hợp phù hợp với những giá trị này). Nền văn hoá
trong những doanh nghiệp trẻ thành đạt thường được kế thừa mau chóng do: (1)
Những người sáng lập nó vẫn tồn tại; (2) chính nền văn hoá đó đã giúp doanh nghiệp
khẳng định mình và phát triển trong môi trường đầy cạnh tranh; (3) rất nhiều giá trị
của nền văn hoá đó là thành quả đúc kết được trong quá trình hình thành và phát triển
của doanh nghiệp.
13
Chính vì vậy, trong giai đoạn này, việc thay đổi văn hoá doanh nghiệp hiếm
khi diễn ra, trừ khi có những yếu tố tác động từ bên ngoài như khủng hoảng kinh tế
khiến doanh số và lợi nhuận sụt giảm mạnh, sản phẩm chủ lực của doanh nghiệp thất
chung của riêng mình, thì sẽ rất khó thay đổi vì những giá trị này phản ánh niềm tự
hào và lòng tự tôn của cả tập thể.
1.5.
Tác động của văn hóa doanh nghiệp tới sự phát triển của doanh nghiệp
1.5.1. Tác động tính cực
Văn hoá doanh nghiệp tạo nên phong thái của doanh nghiệp, giúp phân biệt doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác
Văn hoá doanh nghiệp gồm nhiều bộ phận và yếu tố hợp thành: Triết lý kinh
doanh, các tập tục, lễ nghi, thói quen, cách họp hành, đào tạo, giáo dục, thậm chí cả
truyền thuyết, huyền thoại về người sáng lập hãng…Tất cả những yếu tố đó tạo ra
một phong cách, phong thái của doanh nghiệp và phân biệt nó với các doanh nghiệp,
các tổ chức xã hội khác. Phong thái đó có vai trò như “không khí và nước”, có ảnh
hưởng cực lớn đến hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp tạo nên lực hướng tâm chung cho toàn doanh nghiệp
Một nền văn hóa tốt giúp doanh nghiệp thu hút nhân tài và củng cố lòng trung
thành của nhân viên đối với doanh nghiệp.
Người ta lao động không chỉ vì tiền mà còn vì những nhu cầu khác nữa. Theo
tháp nhu cầu của A.Maslow, có thể nhận thấy thật sai lầm nếu một doanh nghiệp lại
cho rằng chỉ cần trả lương cao là sẽ thu hút, duy trì được người tài. Nhân viên chỉ
trung thành và gắn bó lâu dài khi họ thấy hứng thú khi được làm việc trong môi trường
doanh nghiệp, cảm nhận được bầu không khí thân thuộc trong doanh nghiệp và có
khả năng tự khẳng định mình để thăng tiến. Trong một nền văn hoá chất lượng, các
thành viên nhận thức rõ ràng về vai trò của bản thân trong toàn bộ tổng thể, họ làm
việc vì mục đích và mục tiêu chung.
Văn hóa doanh nghiệp khích lệ quá trình đổi mới và sáng chế
Tại những doanh nghiệp mà môi trường văn hoá ngự trị mạnh mẽ sẽ nảy sinh
sự tự lập đích thực ở mức độ cao nhất, nghĩa là các nhân viên được khuyến khích để
tách biệt ra và đưa ra sáng kiến, thậm chí cả các nhân viên cấp cơ sở. Sự khích lệ này
sẽ mang những nét nhân cách đó trong văn hóa doanh nghiệp.
Sự đối lập giữa văn hóa cá nhân và văn hóa tập thể
Trong nền văn hoá mà chủ nghĩa cá nhân được coi trọng, quan niệm cá nhân
hành động vì lợi ích của bản thân hoặc của những người thân trong gia đình rất phổ
biến. Nền văn hoá coi trọng chủ nghĩa tập thể, ngược lại, quan niệm con người theo
quan hệ huyết thống hay nghề nghiệp thuộc về một tổ chức có liên kết chặt chẽ với
16
nhau, trong đó tổ chức chăm lo cho lợi ích của các cá nhân, còn cá nhân phải hành
động và ứng xử theo lợi ích của tổ chức.
Sự phân cấp quyền lực
Nền văn hoá nào cũng có sự phân cấp quyền lực bởi thực tế các cá nhân trong
một xã hội không thể giống nhau hoàn toàn về thể chất, trí tuệ và năng lực. Tuy nhiên,
mức độ chấp nhận sự phân chia không cân bằng về quyền lực của các thành viên
trong những nền văn hoá khác nhau lại không giống nhau
Mức độ thấp (Úc, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Na Uy…) có đặc điểm: Tập trung
hoá thấp, mức độ phân cấp quyền lực ít hơn, sự khác biệt trong hệ thống lương
bổng ít hơn, lao động chân tay được đánh giá ngang bằng với lao động trí óc
Mức độ cao (Philipine, Mêhicô, Ấn Độ, Brasil…) có đặc điểm: Tập trung hoá
cao hơn, mức độ phân cấp quyền lực nhiều hơn, có nhiều cấp lãnh đạo hơn,
lao động trí óc được đánh giá cao hơn lao động chân tay.
Trong một quốc gia, biểu hiện dễ thấy nhất của sự phân cấp quyền lực là chênh
lệch về thu nhập giữa các thành viên và mối quan hệ độc lập hay phụ thuộc giữa cha
mẹ-con cái, thầy-trò, thủ trưởng-nhân viên…Trong một công ty, ngoài các yếu tố
trên, sự phân cấp quyền lực còn có thể nhận biết thông qua các biểu tượng của địa vị
(tiêu chuẩn dùng xe công ty, có tài xế riêng, được trang bị điện thoại di động), việc
gặp gỡ lãnh đạo dễ hay khó.
Đi đôi với sự phân cấp quyền lực là sự phân chia trách nhiệm giữa các cá nhân.