1
TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG CỦA LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA KINH TẾ VÀ CHIẾN TRANH TRONG TÁC PHẨM
HẢI CẢNG LỮ THUẬN THẤT THỦ
Những năm đầu của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản thế giới đã bước vào
giai đoạn phát triển cao, theo đó, nó đã bộc lộ ngày càng rõ hơn bản chất kinh
tế, bản chất chính trị phản động. Ở Nga, chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản có
sự cấu kết chặt chẽ với chế độ Nga Hoàng và chế độ địa chủ. Sự lệ thuộc của
nước Nga vào chủ nghĩa tư bản nước ngoài ngày càng tăng. Lúc này, giai cấp
vô sản Nga bị chủ nghĩa tư bản bóc lột vô cùng tàn bạo, còn giai cấp nông
dân, do bị bọn địa chủ và bọn cu-lắc thống trị, nên họ cũng rơi vào cảnh “túng
bấn, đói khổ và bị phá sản”. Thêm vào đó là cuộc khủng hoẳng kinh tế 1900 1903 rồi cuộc chiến tranh Nga - Nhật xảy ra hồi tháng giêng năm 1904, càng
làm cho tình cảnh của người lao động thêm cơ cực hơn. Các cuộc bãi công
biểu tình của quần chúng dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản Nga liên tiếp
xảy ra. Nước Nga đã trở thành điểm nút tập trung tất cả các mâu thuẫn của chủ
nghĩa tư bản và những điều kiện tiền đề kinh tế, chính trị chứng tỏ một cách rõ
ràng rằng, cuộc bùng nổ cách mạng đã đến gần.
Trong bối cảnh lịch sử ấy, Lênin đã viết tác phẩm “Hải cảng Lữ Thuận
thất thủ” và được đăng tải trên tờ báo “Tiến lên”, số 2, ngày 14 tháng 1 năm
1905 - một tờ báo Bôn-sê-vích ra hàng tuần ở Giơ-ne-vơ. Tác phẩm này được
in trong V.I. Lênin toàn tập, tập 9, nhà xuất bản Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1979.
Hiện, tại Cục lưu trữ trung ương của đảng thuộc Viện nghiên cứu chủ nghĩa
Mác-Lênin còn lưu trữ được bản thảo của Người về các tài liệu chuẩn bị cho
tác phẩm này như: một số bản đề cương dưới đầu đề “Hải cảng Lữ Thuận đầu
hàng”, nhiều đoạn trích trong các báo chí ngoại quốc và báo chí Nga. Điều
2
3
Qua đó, góp phần làm phong phú hơn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh
tế quân sự, chiến tranh và cách mạng, bảo vệ Tổ quốc.
Nói đến kinh tế , theo Lênin là nói tới những quan hệ vật chất của con
người trong quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng của cải vật
chất trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người. Những
quan hệ này biểu hiện thành mối quan hệ giữa người với người với tự nhiên và
giữa người với người trong quá trình sản xuất (có nghĩa là được xem xét cả
dưới góc độ lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất xã hội). Còn chính trị là
lĩnh vực của những quan hệ nhất định trong xã hội diễn ra như hoạt động có ý
thức của con người. Đó là một hình thức nhận thức xã hội phản ánh mức độ
lớn nhất của các quan hệ kinh tế của con người. Chiến tranh là một hiện tượng
chính trị - xã hội, là sự tiếp tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, gắn liền
với nó là các hoạt động có tính quân sự. Kinh tế và chiến tranh là hai lĩnh vực
hoạt động khác nhau của con người, nhưng chúng lại có mối liên hệ chặt chẽ
không tách rời nhau. Theo Lênin, chiến tranh nảy sinh hoàn toàn không phải
là tự nhiên hoặc do sự sắp đặt của một lực lượng siêu nhiên nào; kinh tế chính
là cơ sở làm nảy sinh mâu thuẫn, xung đột xã hội; vì lợi ích kinh tế, mưu đồ
thôn tính giữa các quốc gia mà dẫn đến chiến tranh. Nói cách khác, kinh tế
chính là nguyên nhân nảy sinh chiến tranh. Trong tác phẩm “Hải cảng Lữ
Thuận thất thủ”, Lênin viết: “Đối với giai cấp tư sản châu Âu, uy tín của giống
nòi Nga trẻ trung gắn liền với uy tín của chính quyền Nga hoàng mạnh mẽ
không gì lay chuyển nổi, đang kiên quyết bảo vệ “trật tự” hiện đại. Chẳng lấy
gì làm lạ là toàn thể giai cấp tư sản châu Âu đều cho rằng tai họa của nước
Nga đang thống trị và chỉ huy, thật là “đáng sợ”: tai họa ấy có nghĩa là sự phát
triển phi thường của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới”2. Và, “Nhân dân buộc
2
Sách đã dẫn, tr 187.
Sách đã dẫn, tr, 190.
5
chiến tranh, Lênin cũng đã chỉ ra cho những người cách mạng rằng: “Giai cấp
vô sản cách mạng phải tuyên truyền không mệt mỏi chống chiến tranh, đồng
thời luôn luôn nên nhớ rằng chừng nào còn sự thống trị giai cấp nói chung thì
chiến tranh là không thể trừ bỏ được”4.
Thực tiễn lịch sử phát triển của xã hội loài người, nhất là sự tồn tại và
phát triển của chủ nghĩa tư bản đã chứng minh tính đúng đắn của luận điểm
này của Lênin. Chiến tranh gắn liền với những điều kiện kinh tế xã hội nhất
định, với sự đối kháng về lợi ích kinh tế, với xu hướng bành trướng thế lực tư
bản ra thế giới nhằm tìm kiếm thị trường, nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ
mạt. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sự phát triển không đều về kinh tế trong
thế giới tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới sự thay đổi về so sánh lực lượng giữa các
nước tư bản chủ nghĩa, từ đó xuất hiện nhu cầu phân chia lại thị trường và khu
vực ảnh hưởng có lợi cho các nước đế quốc trẻ mới mạnh lên. Trên cơ sở kinh
tế ấy, hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX đã nổ ra. Rồi tiếp đó là
hàng loạt các cuộc chiến khác diễn ra ở khắp các khu vực mà kẻ khơi mào
không phải ai khác, đó chính là chủ nghĩa đế quốc và nguyên nhân suy đến
cùng vẫn lại là vấn đề kinh tế.
Theo Lênin, kinh tế không chỉ là nguyên nhân của chiến tranh mà nó
còn là nhân tố bảo đảm cơ sở kinh tế cho chiến tranh, quyết định sự thắng lợi
hay thất bại của chiến tranh. Nói đến chiến tranh là nói đến một cuộc đọ sức
toàn diện giữa các bên tham chiến. Đi liền với nó là việc sử dụng những loại
vũ khí và phương tiện quân sự khác. Với tư cách là tổng thể các hoạt động vật
chất của con người, kinh tế cung cấp các phương tiện, các trang thiết bị, kỹ
thuật để tiến hành chiến tranh; bảo đảm lương thực, thực phẩm, những đồ
đúng khi nhìn nhận, đánh giá về vấn đề kinh tế, chiến tranh và quốc phòng.
Đồng thời, là lời chỉ dẫn quan trọng cho những người vô sản rằng, muốn cho
5
6
Sách đã dẫn, tr, 188.
Sách đã dẫn, tr, 190.
7
cách mạng thành công thì phải có một đường lối chính trị đúng đắn, trong đó
nhất thiết phải tạo dựng cho được một nền kinh tế vững mạnh, bảo đảm cung
cấp những điều kiện cần thiết cho cuộc cách mạng về nhân, tài và vật lực. Đến
đây, chúng ta liên tưởng tới sự thắng lợi vẻ vang của hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cứu nước mà nhân dân ta tiến hành. Sự
thắng lợi của chúng ta trước những tên đế quốc hùng mạnh, chính là sự thắng
lợi của chế độ kinh tế - xã hội ưu việt, sự đoàn kết nhất trí muôn người như
một dưới sự lãnh đạo của một chính Đảng vô sản.
Cùng với việc bảo đảm cơ sở kinh tế cho chiến tranh, trong tác phẩm
“Hải cảng Lữ Thuận thất thủ”, Lênin còn chỉ ra vai trò quyết định của kinh tế
trong việc xây dựng lực lượng vũ trang, hình thức và phương pháp tác chiến
trong chiến tranh. Người cho rằng, chất lượng, sức mạnh chiến đấu của lực
lượng vũ trang phụ thuộc trước hết vào các điều kiện kinh tế đạt được. Khi
nền kinh tế không vững, lạc hậu, trì trệ thì kéo theo là “các sỹ quan không có
học thức, không được rèn luyện, thiếu liên hệ chặt chẽ với binh sỹ và không
được binh sỹ tin cậy”, nó cũng dẫn đến “tình trạng tối tăm, dốt nát, mù chữ,
khiếp nhược của quần chúng nông dân”, và “trong thời đại như thế thì chẳng
có sự dẻo dai nào, chẳng có thế lực nào, chẳng có hình thức chiến đấu nào có
thể đem lại ưu thế được”. Với một nền kinh tế xã hội lạc hậu như chế độ Nga
đã chỉ ra cái đặc trưng cơ bản đó. Người viết: “Thời đại mà bọn đánh thuê hay
bọn đại biểu các đẳng cấp bán thoát ly khỏi nhân dân, tiến hành chiến tranh –
thời đại ấy đã vĩnh viễn qua hẳn rồi. Chiến tranh ngày nay là chiến tranh do
nhân dân tiến hành, vì vậy, đặc tính vĩ đại của chiến tranh ngày nay thể hiện
7
Sách đã dẫn, tr, 191.
9
đặc biệt rõ rệt”8. Trong chiến tranh hiện đại, do điều kiện kinh tế phát triển
nên đã cho phép các nước tham chiến tiến hành chiến tranh với quy mô lớn,
lôi cuốn đông đảo lực lượng tham gia, “đòi hỏi phải có nhân lực có chất
lượng”; sử dụng các loại vũ khí tiên tiến, hiện đại như “vũ khí bắn nhanh cỡ
nhỏ, trọng pháo cơ giới, thuyền hạm trang bị kỹ thuật phức tạp”. Trong điều
kiện ấy, “không có lục quân và thuỷ quân có sáng kiến và giác ngộ thì không
thể có thắng lợi được”. Cũng trong những cuộc chiến tranh hiện đại ấy, theo
Lênin, mối quan hệ giữa kinh tế với chiến tranh càng trở lên chặt chẽ hơn bao
giờ hết. Chiến tranh càng hiện đại, vai trò của kinh tế đối với chiến tranh càng
tăng và có ý nghĩa quyết định. Lênin viết: “Mối liên hệ giữa tổ chức quân sự
của một nước với toàn bộ chế độ kinh tế và văn hoá của nước ấy chưa bao giờ
lại hết sức chặt chẽ như ngày nay”9. Lúc này, kinh tế phải cung cấp cho chiến
tranh những phương tiện, trang bị, kỹ thuật hiện đại nhất. Chiến tranh yêu cầu
chi phí hết sức lớn về vật chất, tài chính và nguồn lực con người; không chỉ có
vậy, chiến tranh còn đặt ra yêu cầu phải nâng cao về trình độ chuẩn bị kinh tế,
động viên kinh tế và duy trì sức sống lâu bền của nền kinh tế. Lênin dẫn lại
lịch sử: “Từ trước đến nay, sau mỗi một trận chiến đấu lớn, Nhật đều đã tăng
viện lực lượng quân sự của mình nhanh hơn và nhiều hơn quân của Nga. Mà
hiện nay, sau khi hoàn toàn chiếm ưu thế trên mặt biển và hoàn toàn tiêu diệt
xiết đang đè nặng lên nhân dân Nga”, nỗi ám ảnh đen tối của chiến tranh bám
riết cuộc sống của hàng triệu triệu con người qua các thế hệ, không chỉ ở các
nước tham chiến, mà với cả các dân tộc khác trên thế giới. Thực tiễn cũng đã
cho chúng ta thấy những tổn thất hết sức to lớn về con người mà chiến tranh
đã từng mang lại. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã làm cho 10 triệu
người chết, 20 triệu người khác bị thương tật. Trong chiến tranh thế giới lần
thứ hai, con số tương ứng là 55 triệu và 20 triệu. Chiến tranh sử dụng vũ khí
càng hiện đại thì những tổn thất ấy càng tăng lên.
Không chỉ gây ra những mất mát nặng nề về người, trong tác phẩm
“Hải cảng Lữ Thuận thất thủ”, Lênin cũng chỉ rõ, chiến tranh còn mang đến
những thiệt hại vô cùng to lớn về kinh tế, tài chính, các nguồn lực của xã hội.
Là lĩnh vực đặc biệt, hoạt động quốc phòng trong thời bình cũng như quá trình
11
chuẩn bị và tiến hành chiến tranh thường tiêu tốn một bộ phận lớn các phương
tiện vật chất của xã hội. Điều đó làm cho các nguồn lực của nền kinh tế vốn đã
có hạn, lại không được tập trung cho phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
người dân. Lênin luận chứng: “Chỉ nội thiệt hại vật chất của Nga về hạm đội
thôi, cũng đã lên tới ba trăm triệu rúp”, tiêu tốn biết bao chi phí bảo đảm khác,
nền kinh tế bị tổn thất, chế độ chuyên chế bị lung lay, “sức mạnh tinh thần của
một đế quốc hùng mạnh bị sụp đổ, uy tín của một giống nòi trẻ trung bị phai
mờ”. Sự tổn thất về vật chất sẽ càng tăng lên khi chiến tranh sử dụng các loại
trang bị, vũ khí hiện đại. Thực tế các cuộc chiến tranh nổ ra sau này trên thế
giới, trong đó có cuộc không kích của Mỹ và NATO vào Nam Tư đầu năm
1999 cho thấy rõ điều Lênin đưa ra là hoàn toàn đúng đắn: “tất cả các nhà máy
lọc dầu và kho chứa dầu, nhiều nhà máy điện và trạm thuỷ điện, hơn 80 nhà
máy khác, 20 bệnh viện, hàng trăm trường học, 12 tuyến đường sắt của Nam
Tư bị phá huỷ. Ước tính, để khôi phục lại nền kinh tế, thì phải cần đến 52 tỷ
được thắng lợi trong chiến tranh.
Nghiên cứu tư tưởng này của Lênin cho chúng ta một lần nữa thấy
được sự đúng đắn, sáng suốt trong việc đề ra đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Chúng ta luôn mong muốn được sống trong hoà bình ổn định, nhưng
không bao giờ chịu sống dưới ách thống trị, đô hộ của kẻ thù; sẵn sàng dùng
bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, giành và bảo vệ
những quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của mình. Với ý nghĩa đó, lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19.12.1946) của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh là sự lựa chọn đúng của lịch sử; phát động và “sử dụng chiến tranh để
đập tan chiến tranh đẫm máu”, giành lại nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn coi
phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đồng thời, “chúng ta chủ trương kết
13
hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an
ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước, xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân…Xây dựng
quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại, là lực lượng nòng cốt của sức mạnh quốc phòng an ninh; nâng
cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu để lực lượng vũ trang thực sự là
lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh”12. Đây chính là kết quả của sự vận
dụng trung thành, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào
thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng, chúng ta tiếp tục phát huy
những thành quả đã đạt được, nỗ lực, huy động mọi tiềm năng, thế mạnh, thực
hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nhằm phát triển kinh