sự ra đời của triết học mác là một bước ngoạt có tính cách mạng trong sự phát triển của lịch sử triết học - Pdf 40

MỞ ĐẦU
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm. Sự phát
triển những tư tưởng triết học của nhân loại là một quá trình không đơn giản. Cuộc đấu
tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, mà gắn với nó là cuộc đấu tranh
giữa các phương pháp nhận thức hiện thực – phương pháp biện chứng và phương pháp
siêu hình – tuy là cái trục xuyên suốt lịch sử triết học, làm nên cái “lôgíc nội tại khách
quan” của sự phát triển, song lịch sử diễn biến của nó lại hết sức phức tạp.
Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, chính vì vậy nó
đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp cộng nhân và
nhân loại tiến bộ trong thời đại mới. Triết học Mác đã kế thừa những tinh hoa, từ đó
đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con người nhận thức đúng và cải tạo thế giới.
Sự ra đời của triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch
sử phát triển triết học của nhân loại. C. Mác và Ph. Ăngghen đã kế thừa một cách có
phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học
triệt để, không điều hoà với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình. Để xây dựng triết
học duy vật biện chứng, Mác đã phải cải tạo cả chủ nghĩa duy vật cũ và phép biện
chứng duy tâm của Hêghen. Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong học thuyết về xã
hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen
đã thực hiện trong triết học.

11


NỘI DUNG
Triết học Mác - Lênin ra đời từ nửa cuối thế kỷ XIX và phát triển cho đến ngày
nay. Từ khi ra đời, triết học Mác - Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử
triết học và trở thành thế giới quan, phương pháp luận của hoạt động nhận thức cũng
như hoạt động thực tiễn của con người.

I.


cố tạo ra cơ sở kinh tế để cho xã hội tư bản phát triển kèm theo đó mâu thuẫn xã hội
càng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt; sự phân hóa giàu nghèo tăng lên, bất
công xã hội tăng. Những xung đột giữa giai cấp vô sản với tư sản đã phát triển thành
những cuộc đấu tranh giai cấp.
1.2

Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử

Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời và lớn lên cùng với sự hình thành và
phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Khi chế độ tư bản chủ nghĩa
được xác lập, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội, giai cấp vô sản trở
thành giai cấp bị trị thì mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản vốn mang
tính đối kháng phát triển trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc khởi nghĩa của
thợ dệt ở thành phố Liông (Pháp) năm 1831 tuy bị đàn áp nhưng lại bùng nổ tiếp vào
năm 1834. Ở Anh có phong trào Hiến chương vào cuối những năm 30 của thế kỷ XIX,
là phong trào cách mạng to lớn có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị. Nước
Đức nổi lên phong trào đấu tranh của thợ dệt ở Xilêdi đã mang tính giai cấp.
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai cấp
cách mạng. Ở Anh và Pháp, giai cấp tư sản tuy nắm quyền thống trị nhưng lại hoảng sợ
trước cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nên không còn là vị trí tiên phong trong quá
trình cải tạo dân chủ như trước. Còn giai cấp tư sản Đức đang lớn lên trong lòng xã hội
phong kiến, vốn đã khiếp sợ bạo lực cách mạng khi nhìn vào tấm gương Cách mạng tư
33


sản Pháp năm 1789, nay lại thêm sợ hãi trước sự phát triển của phong trào công nhân
Đức. Vì vậy, giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử với sứ mệnh xoá bỏ xã hội tư
bản và trở thành lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ
xã hội.
Như vậy, thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn của phong trào đấu tranh của giai cấp

và Phoiơbắc, là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác.
C. Mác và Ph. Ăngghen đánh giá cao tư tưởng biện chứng của triết học Hêghen.
C. Mác cho rằng tính chất thần bí mà biện chứng đã mắc phải ở triết học Hêghen tuyệt
nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và
có ý thức hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy. Ở Hêghen, phép biện
chứng bị lộn ngược đầu xuống đất; chỉ cần dựng nó lại sẽ phát hiện được cái hạt nhân
hợp lý của nó sau lớp vỏ thần bí.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã kế thừa những giá trị trong chủ nghĩa duy vật của
Phoiơbắc, đồng thời đã cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính siêu hình và những
hạn chế lịch sử của nó để xây dựng nên lý luận mới của chủ nghĩa duy vật.
Từ những giá trị của phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của
Phoiơbắc, Mác và Ăngghen đã xây dựng lên học thuyết triết học mới, trong đó chủ
nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ gọi là chủ
nghĩa duy vật biện chứng, một hình thức mới, một giai đoạn phát triển cao của chủ
nghĩa duy vật triết học.

55


Hai là, việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắc
là A. Xơmít và Đ. Ricácđô không những là nguồn gốc để xây dựng học thuyết kinh tế
mà còn là tiền đề lý luận để hình thành quan điểm triết học.
Ba là, cải tạo một cách phê phán chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những
đại biểu tiêu biểu là Xanh Ximông và S. Phuriê. C. Mác và Ph. Ăngghen đã kế thừa
những quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp (quan điểm về vai trò
của nền sản xuất trong xã hội, quan điểm về sở hữu...) và khắc phục tính không tưởng
thiếu điều kiện lịch sử cụ thể của nó để xây dựng những quan điểm duy vật lịch sử.
Nhờ đó, triết học Mác trở thành vũ khí lý luận cải tạo xã hội bằng cách mạng.
Vì vậy, khi tìm hiểu nguồn gốc lí luận của triết học Mác cần tìm hiểu không chỉ
trong triết học Đức mà trong cả chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh tế chính trị

cao, từ đơn giản đến phức tạp của thế giới sinh vật.
Thuyết tiến hóa của Đácuyn – giải thích tính chất biện chứng của sự phát
triển phong phú, đa dạng của giống loài trong thế giới tự nhiên hữu sinh.

Những phát minh khoa học đó đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa những sự
vật, giữa các hình thức vận động khác nhau trong tính thống nhất vật chất của thế giới,
vạch ra tính biện chứng của sự vận động và phát triển. Đồng thời đã làm bộc lộ rõ tính
hạn chế và sự bất lực của phương pháp tư duy siêu hình và của tư tưởng biện chứng cổ
đại cũng như phép biện chứng của Hêghen. Từ đó đặt ra một yêu cầu trong tư duy nhân
loại cần phải xây dựng một phương pháp tư duy mới thật sự khoa học. Với những phát
minh của mình, khoa học đã cung cấp những tri thức để Các Mác và Ph. Ăngghen khái
quát xây dựng phép biện chứng duy vật.
Như vậy, từ những yếu tố trên có thể khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin nói
chung và triết học Mác nói riêng đã ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì nó
phản ánh đời sống thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân
mà còn vì sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại.

77


II.

NHỮNG GIAI ĐOẠN CHỦ YẾU TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Sự hình thành và phát triển triết học Mác - Lênin trải qua một quá trình. Quá
trình đó bao gồm các giai đoạn sau
1. Quá trình chuyển biến tư tưởng của C. Mác và Ph. nĂngghen từ chủ nghĩa
duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
cộng sản
1.1 Sự chuyển biến tư tưởng của Các Mác

Phriđrích Vinhem IV thực hiện chính sách phản động và đàn áp những người dân chủ
cách mạng. Ông và một số người theo phái “Hêghen trẻ” đã chuyển sang hoạt động
chính trị đấu tranh chống lại chủ nghĩa chuyên chế Phổ giành lại quyền tự do dân chủ;
đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng của ông. Như vậy lúc này, trong tư
tưởng của Các Mác có sự mâu thuẫn giữa thế giới quan duy tâm với tinh thần dân chủ
cách mạng và vô thần. Mâu thuẫn bước đầu được giải quyết khi Các Mác làm việc ở
báo Sông Ranh, ở đây lúc đầu là cộng tác viên sau trở thành linh hồn của tờ báo và ông
đã làm cho nó trở thành cơ quan ngôn luận của phái dân chủ cách mạng.
Sự chuyển biến bước đầu diễn ra trong thời kỳ Mác làm việc ở báo sông Ranh
(5-1842 đến 4-1843).Thực tiễn đấu tranh trên báo chí cho tự do dân chủ đã làm cho tư
tưởng dân chủ cách mạng ở Mác có nội dung rõ ràng hơn, đó là đấu tranh cho lợi ích
của “quần chúng nghèo khổ bất hạnh về chính trị và xã hội”. Lúc này tư tưởng cộng
sản chủ nghĩa chưa được hình thành, ông đấu tranh bảo vệ “quần chúng nghèo khổ bất

99


hạnh” dưới tinh thần nhân đạo. Với tinh thần nhân đạo, ông tập trung phê phán các
chính sách của nhà nước Phổ, nhà nước chỉ là “cơ quan đại diện đẳng cấp của những
lợi ích cá nhân”. Trong quá trình phê phán đó Các Mác đã nhận thấy hoạt động của nhà
nước không phải là hiện thân của tinh thần tuyệt đối như Hêghen đã chứng minh.
Về thế giới quan triết học, nhìn chung Mác vẫn đứng trên lập trường duy tâm
trong việc xem xét bản chất nhà nước. Nhưng việc phê phán chính quyền nhà nước
đương thời đã cho Mác thấy rằng, cái quan hệ khách quan quyết định hoạt động của
nhà nước không phải là hiện thân của tinh thần tuyệt đối như Hêghen đã tìm cách
chứng minh bằng triết học, mà là những lợi ích; còn chính quyền nhà nước lại là “cơ
quan đại diện đẳng cấp của những lợi ích tư nhân”. Như vậy, qua thực tiễn, nguyện
vọng muốn cắt nghĩa hiện thực, xác lập lý tưởng tự do trong thực tế đã giúp Mác hình
thành khuynh hướng duy vật và nhận thấy mặt hạn chế của quan điểm duy tâm. Lúc
này, tinh thần dân chủ cách mạng sâu sắc đã không dung hợp với triết học duy tâm tư

thành phố Bacmen, tỉnh Ranh. Khi còn học sinh trung học, Ph. Ăngghen đã căm ghét
sự chuyên quyền và độc đoán của bọn quan lại phong kiến. Việc nghiên cứu triết học
trong thời gian ở Béclin, khi làm nghĩa vụ quân sự, đã hướng ông đi vào con đường
khoa học. Song, chỉ thời gian gần hai năm sống ở Manchestơ (Anh), từ mùa thu năm
1842, việc nghiên cứu đời sống kinh tế và sự phát triển chính trị của nước Anh, nhất là
việc trực tiếp tham gia vào phong trào công nhân mới dẫn đến bước chuyển biến căn
bản trong thế giới quan của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1844, trên tạp chí Niên giám Pháp - Đức cũng đăng các tác phẩm “Bản
thảo góp phần phê phán kinh tế - chính trị học” và “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”
của Ăngghen gửi đến từ Manchextơ. Các tác phẩm đó cho thấy ở Ăngghen, quá trình
chuyển từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng
11 11


và chủ nghĩa cộng sản cũng đã hoàn thành. Quá trình này diễn ra độc lập với Các Mác.
Trong các bài báo này, ông đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa cộng sản để phê phán kinh tế chính trị học của A. Xơmít và Đ. Ricácđô,
vạch trần quan điểm chính trị phản động của Cáclây, một người phê phán chủ nghĩa tư
bản trên lập trường của giai cấp quý tộc phong kiến.
Sự nhất trí về tư tưởng đã dẫn đến tình bạn vĩ đại của Mác và Ăngghen, gắn liền
tên tuổi của hai ông với sự ra đời và phát triển một thế giới quan mới mang tên Mác thế giới quan cách mạng của giai cấp vô sản.
2. Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử
Thời gian từ năm 1844 đến năm 1848 là quá trình Mác - Ăngghen từng bước
xây dựng những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được thể
hiện ở các tác phẩm kinh điển sau
Tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học” năm 1844
Qua tác phẩm này, Mác tiếp tục phê phán kinh tế chính trị học cổ điển của Anh
và triết học duy tâm của Hêghen, đồng thời ông cũng vạch ra mặt tích cực của nó là
phép biện chứng.

Tác phẩm “Gia đình thần thánh” đã chứa đựng “quan điểm đã gần hình thành
của Mác về vai trò cách mạng của giai cấp vô sản” và cho thấy “Mác đã tiến gần như

13 13


thế nào đến tư tưởng cơ bản của toàn bộ “hệ thống” của ông… tức là tư tưởng về
những quan hệ sản xuất xã hội”.
Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”
Được Mác và Ăngghen viết chung vào cuối năm 1845 - đầu năm 1846, đánh dấu
một mốc quan trọng trong quá trình hình thành triết học Mác. Thông qua việc phê phán
các trào lưu triết học và chủ nghĩa xã hội đương thời ở Đức, Mác và Ăngghen đã trình
bày quan niệm duy vật lịch sử một cách hệ thống và nhiều nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa cộng sản khoa học như những hệ quả của quan niệm duy vật lịch sử.
Trong “Hệ tư tưởng Đức”, hai ông khẳng định: “Tiền đề của toàn bộ lịch sử
nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”. Song, đó là
những con người hiện thực mà sản xuất vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên của họ.
Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội. Do đó, để hiểu được con người,
Mác đã đi sâu tìm hiểu sự sản xuất vật chất của con người trong xã hội. Nghiên cứu
biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Với tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, một số quan điểm về chủ nghĩa xã hội khoa
học được nêu lên nhưng chưa có được sự diễn đạt rõ ràng; Mác và Ăngghen nhận định
chủ nghĩa cộng sản là một lý tưởng cao đẹp của nhân loại, nhưng lý tưởng đó được
thực hiện từng bước với những mục tiêu cụ thể nào, bằng con đường nào; điều đó tuỳ
thuộc vào điểm xuất phát và chỉ có qua phong trào thực tiễn mới tìm ra được những
hình thức và bước đi thích hợp.
Tác phẩm “Luận cương về Phoiơbắc”

14 14


của chủ nghĩa Mác, trong đó cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác được trình bày một
cách thiên tài, thống nhất hữu cơ với các quan điểm kinh tế và các quan điểm chính trị xã hội. “Tác phẩm này trình bày một cách hết sức sáng sủa và rõ ràng thế giới quan
mới, chủ nghĩa duy vật triệt để - chủ nghĩa duy vật này bao quát cả lĩnh vực sinh hoạt
xã hội - phép biện chứng với tư cách là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự
phát triển, lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng - trong lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo một xã hội mới, xã hội cộng sản”.
Với “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói
chung đã hình thành và sẽ được Mác và Ăngghen tiếp tục bổ sung, phát triển trong suốt
cuộc đời của hai ông trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn của phong trào
công nhân và khai quát các thành tựu khoa học.
3. Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học
Từ sau “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, học thuyết Mác tiếp tục được bổ sung
và phát triển trong sự gắn bó mật thiết hơn nữa với thực tiễn cách mạng mà Mác và
Ăngghen vừa là những đại biểu tư tưởng, vừa là lãnh tụ thiên tài của phong trào công
nhân. Bằng hoạt động lý luận của mình, Mác và Ăngghen đã đưa phong trào công nhân
từ tự phát thành phong trào tự giác và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Và chính trong
quá trình đó, học thuyết của các ông cũng không ngừng được phát triển.
Các tác phẩm chủ yếu của Mác như “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, “Ngày 18
tháng Sương Mù của Lui Boonapáctơ”, “Nội chiến ở Pháp”, “Phê phán Cương lĩnh
Gôta”…, cho thấy việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của phong trào công nhân có
tầm quan trọng như thế nào trong sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và
triết học Mác nói riêng. Đặc biệt qua bộ “Tư bản”, ông đã trình bày những tất yếu phát
triển của nền sản xuất xã hội, lịch sử thay thế các hình thái kinh tế xã hội… Bộ “Tư
16 16


bản” không chỉ là công trình đồ sộ của Mác về kinh tế học mà còn là sự bổ sung, phát
triển của triết học Mác nói riêng, của học thuyết Mác nói chung. Lênin đã nhận xét: về
phương diện triết học, nếu như Mác không để lại cho chúng ta một “lôgíc học với chữ
Lôgíc viết hoa” thì Mác đã để lại cho chúng ta cái lôgíc của bộ “Tư bản”.
Trong khi đó, Ăngghen đã khái quát các thành tựu khoa học để viết các tác phẩm

Trước hết căn cứ vào lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, triết học
là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, nhưng đồng thời triết học cũng là một
hình thái của ý thức xã hội. Cho nên nó có tính độc lập tương đối và có sự tác động qua
lại với các hình thái ý thức xã hội khác.
Sự phân chia các thời kỳ của lịch sử triết học còn được qui định bởi bước ngoặt
cách mạng của các học thuyết triết học có tính vạch thời đại (triết học lớn), nhưng đều
phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.
Sự phân chia các thời kỳ khác nhau của lịch sử triết học về cơ bản đều thông qua
cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm.
Những thời kỳ lớn của lịch sử triết học:
Triết học của xã hội chiếm hữu nô lệ
Triết học của xã hội phong kiến
Triết học của thời kỳ phục hưng và cận đại
Triết học Cổ điển Đức
19 19


Triết học Mác – Lênin
Triết học tư sản hiện đại
Sự ra đời của triết học Mác đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tư
tưởng xã hội. Lênin nói chủ nghĩa Mác là sự phát triển cao nhất của toàn bộ khoa học
lịch sử, khoa học kinh tế và triết học ở Châu Âu.
1. Triết học Mác ra đời đã khắc phục được sự lệch rời giữa TG quan duy vật
và phép biện chứng tạo ra hình thức cao nhất của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa
duy vật biện chứng và hình thức cao nhất của phép biện chứng là phép biện
chứng duy vật. Trong triết học Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng có mối
quan hệ hữu cơ với nhau
Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã đóng vai trò hết sức to lớn trong sự phát triển
của khoa học trong cuộc đấu tranh chống tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, nhưng trong
thời kỳ cổ đại thì chỉ là chủ nghĩa duy vật chất phát ngây thơ, tự phát, còn ở thời cận

tính năng động, sáng tạo của ý thức.
Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của ý thức,
không thấy sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất trong
hoạt động thực tiễn của con người. Mác nhận xét rằng khuyết điểm chủ yếu của chủ
nghĩa duy vật cũ đã thiếu quan điểm thực tiễn, do đó lý luận của nó mang tính trực
quan và không thể giải quyết một cách khoa học, duy vật triệt để vấn đề cơ bản của
triết học.

21 21


Việc đưa quan điểm thực tiễn vào lý luận Mác không những thực hiện cuộc cách
mạng triết học mà còn tạo ra cơ sở để khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật
cũ và thuyết không thể biết.
Chủ nghĩa duy vật Mác khẳng định rằng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật
chất quyết định ý thức. Đó là nguyên tắc xuất phát của chủ nghĩa duy vật Mác. Mặc
khác, khi khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào vật chất, chủ nghĩa duy vật Mác
đồng thời cũng vạch ra sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất. Ý thức phản ánh
thế giới khách quan trong quá trình con người tác động cải tạo thế giới bằng thực tiễn.
Sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức, trong đó vật chất là cái quyết định,
diễn ra trên cơ sở thực tiễn. Cái vật chất muốn được "di chuyển và cải biến trong bộ óc
con người" (C. Mác) phải thông qua hoạt động thực tiễn. Bằng hoạt động thực tiễn con
người cải biến sự vật trong hiện thực, nhờ đó mới cải biến sự vật trong hình ảnh tư
tưởng của nó. Phạm trù thực tiễn, do vậy có ý nghĩa thế giới quan trọng góp phần làm
cho quan điểm Mác về vật chất và ý thức mang tính duy vật triệt để, không chỉ duy vật
trong tự nhiên mà còn duy vật cả trong đời sống xã hội .
3. Chủ nghĩa duy vật triệt để quan niệm duy vật về lịch sử là một cống hiến vĩ
đại của Mác
Như trên đã trình bày một thiếu sót lớn của chủ nghĩa duy vật trước Mác là duy
vật không triệt để, duy vật trong tự nhiên nhưng duy tâm trong xã hội. Để khắc phục

theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là
đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng và kết hợp không phải một
cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết bên trong
bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng mà là kết hợp
trong chính bản thân lý luận ấy một sự kết hợp nội tại và khắng khít".

23 23


Triết học Mác là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, một hệ tư tưởng đã được
luận chứng bằng lý luận khoa học, phản ánh những quy luật phát triển khách quan của
lịch sử. Vì vậy nó là hệ tư tưởng khoa học chứa đựng sự thống nhất giữa tính cách
mạng và tính khoa học, giữa tính thực tiễn và tính lý luận. Nhờ đó, triết học Mác mang
sức mạnh cải tạo thế giới bằng cách mạng và không đội trời chung với chủ nghĩa chủ
quan duy ý chí cũng như chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ. C. Mác viết "Các nhà triết học
đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn đề là cải tạo thế giới".
Luận điểm đó của Mác nói lên thực tế cũng như vai trò xã hội của triết học Mác,
chỉ rõ lý do tồn tại và phương hướng phát triển của nó.
5. Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác
và Ăngghen đã biến đổi căn bản tính chất của triết học, đối tượng của nó và mối
quan hệ với các khoa học khác. Triết học Mác không hòa tan vào các khoa học cụ
thể, cũng không có tham vọng đóng vai trò "khoa học của mọi khoa học", thay thế
các khoa học hoặc tồn tại tách rời chúng mà nó là cơ sở phương pháp luận của các
khoa học cụ thể
Triết học Mác có chức năng cơ bản là xóa bỏ những cái kế thừa cũ và tạo lập cái
mới, luôn gắn liền hữu cơ với thực tiễn cuộc sống, với phong trào đấu tranh cách mạng
của giai cấp công nhân, cũng như với sự phát triển của khoa học. Vì vậy, nó không phải
là một học thuyết ngưng đọng mà trái lại là một học thuyết sáng tạo, không ngừng
được bổ sung, được làm phong phú thêm bởi chính thực tiễn và cũng phát triển cùng
với thực tiễn. Sự hình thành các quan điểm triết học của C. Mác và Ph. Ăngghen qua

đường lối chiến lược và đề ra những biện pháp đấu tranh cải biến xã hội có hiệu quả.
Sự kết hợp giữa lý luận triết học Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bước
chuyển biến về chất của phong trào, từ trình độ tự phát lên tự giác. Sức mạnh “cải tạo
25 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status