HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra, Quốc hội đã ban hành
Luật Công chứng với chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, tạo điều kiện
cho việc phát triển công chứng theo hướng chuyên nghiệp hóa, phù hợp với chuẩn
mực và thông lệ quốc tế. Trong thời gian qua, hoạt động công chứng ở nước ta đã có
những bước phát triển, đóng góp tích cực cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội của Đất
nước, khẳng định ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò quan trọng của công chứng trong
đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về công chứng của nhân dân trong
nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, đồng thời là công cụ đắc lực
phục vụ quản lý nhà nước có hiệu quả, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch,
góp phần tích cực vào việc phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, tăng cường
Pháp chế Xã hội Chủ nghĩa.
Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng đã được Xã hội đón nhận với
nhiều dấu hiệu tích cực. Các tổ chức hành nghề công chứng có điều kiện phát triển,
đã giảm áp lực lên bộ máy nhà nước. Hoạt động công chứng đã trở nên thuận tiện và
chuyên nghiệp hơn. Thực tế hoạt động công chứng thời gian qua đã chứng minh,
chủ trương xã hội hóa công chứng là hết sức đúng đắn, tạo điều kiện cho việc phát
triển mạnh loại hình dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp này.
Trong hoạt động công chứng, giao dịch ủy quyền là một chế định “rất mở và
thoáng” được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Bất cứ người dân nào cũng
có quyền tham gia giao dịch này khi thỏa mãn các điều kiện về năng lực hành vi dân
sự, nội dung và mục đích của hợp đồng ủy quyền không vi phạm pháp luật, không
trái đạo đức xã hội, đối tượng giao dịch ủy quyền phải có thật...Tuy nhiên trong thực
tiễn, không phải lúc nào các điều kiện của giao dịch đó cũng dễ dàng được xác định
nên đòi hỏi mỗi công chứng viên phải trang bị cho mình một kiến thức pháp luật
vững vàng để hoàn toàn tự tin trước mỗi yêu cầu công chứng về giao dịch ủy quyền.
HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Hình thức giao dịch dân sự ủy quyền phải phù hợp
với quy định của pháp luật; Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà
các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.
Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ
giao dịch ủy quyền thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch ủy quyền phát sinh hoặc
hủy bỏ. Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch ủy quyền
không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì
coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ
ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch ủy quyền xảy
ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.
2. Đại diện trong giao dịch ủy quyền.
Đại diện trong giao dịch dân sự (Điều 139)
1. Đại diện là việc một người (gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của
người khác (gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong
phạm vi đại diện.
2. Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông
qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp
luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.
3. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.
4. Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người
đại diện xác lập.
5. Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật này.
Phạm vi đại diện (Điều 144)
1. Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì
lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo sự uỷ quyền.
phạm vi đại diện.
2. Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện
hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ
giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc
phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.
4
HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
3. Trong trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người
được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.
Chấm dứt đại diện của cá nhân (Điều 147)
1. Đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi
phục;
b) Người được đại diện chết;
c) Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
2. Đại diện theo uỷ quyền của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;
b) Người uỷ quyền huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền từ chối việc uỷ
quyền;
c) Người uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.
Khi chấm dứt đại diện theo uỷ quyền, người đại diện phải thanh toán xong các nghĩa
vụ tài sản với người được đại diện hoặc với người thừa kế của người được đại diện.
Chấm dứt đại diện của pháp nhân (Điều 148)
1. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt.
4. Đặc điểm của giao dịch ủy quyền bằng văn bản.
a. Hợp đồng ủy quyền.
Hợp đồng ủy quyền là giao dịch dân sự được quy định khá rõ tại các điều từ
581 đến 589 bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
Hợp đồng uỷ quyền (Điều 581)
Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền
có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải
trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
Thời hạn uỷ quyền (Điều 582)
Thời hạn uỷ quyền do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu
không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu
lực một năm, kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền.
Uỷ quyền lại (Điều 583)
6
HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
Bên được uỷ quyền chỉ được uỷ quyền lại cho người thứ ba, nếu được bên uỷ
quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Hình thức hợp đồng uỷ quyền lại cũng phải phù hợp với hình thức hợp đồng uỷ
quyền ban đầu.
Việc uỷ quyền lại không được vượt quá phạm vi uỷ quyền ban đầu.
Nghĩa vụ của bên được uỷ quyền (Điều 584)
Bên được uỷ quyền có các nghĩa vụ sau đây:
1. Thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện
công việc đó;
2. Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ quyền về thời hạn, phạm vi uỷ
quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền;
quyền;
2. Yêu cầu bên được uỷ quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện
công việc uỷ quyền, nếu không có thoả thuận khác;
3. Được bồi thường thiệt hại, nếu bên được uỷ quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại
Điều 584 của Bộ luật này.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng uỷ quyền (Điều 588)
1. Trong trường hợp uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền có quyền đơn phương chấm
dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được uỷ
quyền tương ứng với công việc mà bên được uỷ quyền đã thực hiện và bồi thường
thiệt hại; nếu uỷ quyền không có thù lao thì bên uỷ quyền có thể chấm dứt thực hiện
hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được uỷ quyền một thời gian
hợp lý.
Bên uỷ quyền phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên uỷ quyền
chấm dứt thực hiện hợp đồng; nếu không báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có
hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng uỷ quyền
đã bị chấm dứt.
2. Trong trường hợp uỷ quyền không có thù lao, bên được uỷ quyền có quyền đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên
uỷ quyền biết một thời gian hợp lý; nếu uỷ quyền có thù lao thì bên được uỷ quyền
có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi
thường thiệt hại cho bên uỷ quyền.
Chấm dứt hợp đồng uỷ quyền (Điều 589)
Hợp đồng uỷ quyền chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
8
HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
1. Hợp đồng uỷ quyền hết hạn;
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
2. Việc ủy quyền không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì không
phải lập thành hợp đồng ủy quyền mà có thể được lập thành giấy ủy quyền và chỉ
cần người ủy quyền ký vào giấy ủy quyền.
Mặc dù nghị định không đưa ra bất cứ một khái niệm nào để phân biệt đâu là
giấy ủy quyền đâu là hợp đồng ủy quyền nhưng căn cứ vào trình tự và thủ tục công
chứng hai loại văn bản này chúng ta dễ dàng nhận biết khi yêu cầu công chứng hợp
đồng ủy quyền thì các bên tham gia giao kết phải trực tiếp có mặt tại cơ quan công
chứng, các bên phải ký hoặc điểm chỉ vào hợp đồng ủy quyền. Đối với Giấy ủy
quyền, trình tự thủ tục công chứng đơn giản hơn nhiều như việc pháp luật chỉ yêu
cầu bên ủy quyền phải trực tiếp đến cơ quan công chứng mà thôi.
Về mặt nguyên tắc, ngoài các trường hợp ủy quyền như: Ủy quyền có thù lao;
Ủy quyền có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bên được ủy quyền; Ủy quyền để
chuyển quyền sở hữu quyền sử dụng bất động sản bắt buộc phải lập thành hợp đồng
ủy quyền thì các giao dịch ủy quyền khác các bên có thể chủ động lựa chọn hình
thức giấy ủy quyền.
Như vậy, Giấy ủy quyền là một hình thức đại diện ủy quyền do chủ thể bằng
hành vi pháp lý đơn phương thực hiện, trong đó ghi nhận việc người ủy quyền chỉ
định người được ủy quyền đại diện mình thực hiện một hoặc nhiều công việc trong
phạm vi quy định tại Giấy ủy quyền.
5. Giá trị sử dụng trong hoạt động công chứng.
Ủy quyền là quan hệ phát sinh thường xuyên trong đời sống xã hội. Hiện nay,
quan hệ này được điều chỉnh bởi các quy định trong Bộ luật dân sự 2005. Kinh tế xã
hội ngày càng phát triển do đó nhu cầu công chứng các giao dịch ủy quyền tại các tổ
chức hành nghề công chứng ngày càng nhiều. Đây là một hoạt động quan trọng, một
thể chế không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền. Thông qua hoạt động công
chứng, các quy định, hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động
của đời sống xã hội, thành hành vi xử sự theo đúng pháp luật. Do đó, xét trên bình
diện công dân thì công chứng là một công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp
chứng cứ có độ tin cậy cao, cho nên không thể tuỳ tiện huỷ bỏ một văn bản có giá trị
chứng cứ mà việc đó chỉ có thể thực hiện trong trường hợp có căn cứ rõ ràng và phải
11
HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
do Toà án tuyên bằng một vản án có hiệu lực pháp luật. Việc huỷ văn bản được quy
định trong luật tố tụng
- Hợp đồng đã được công chứng có giá trị thi hành đối với các bên giao kết; trong
trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình, thì bên kia có
quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp
luật.
6. Những vấn đề cần lưu ý khi công chứng giao dịch ủy quyền.
Qua quá tình đi thực tập tại các tổ chức hành nghề công chứng, em rút ra được
một số kinh nghiệm thức tế như sau:
* Đối với giao dịch ủy quyền lại:
Theo quy định tại 583 của Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định về uỷ quyền
lại như sau:
- Bên được uỷ quyền chỉ được uỷ quyền lại cho người thứ ba, nếu được bên uỷ
quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
- Hình thức hợp đồng uỷ quyền lại cũng phải phù hợp với hình thức hợp đồng uỷ
quyền ban đầu.
- Việc uỷ quyền lại không được vượt quá phạm vi uỷ quyền ban đầu.”
Như vậy, nếu trong hợp đồng uỷ quyền lần đầu không quy định “người nhận
uỷ quyền được uỷ quyền lại cho bên thứ ba” thì người được ủy quyền không được
ủy quyền lại cho bên thứ ba. Nếu người được ủy quyền muốn ủy quyền lại cho
người thứ ba thì phải thỏa mãn 1 trong 2 điều kiện sau:
- Ký hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng ủy quyền lần đầu để bổ sung thêm nội
luật khi xảy ra tranh chấp và hoàn toàn tự nguyện ký vào Hợp đồng này”.
* Theo quy định tại Thông tư 74/2011/TT-BTC ngày 1/6/2011 của Bộ Tài chính về
hướng dẫn giao dịch chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/8/2011 là quy định việc ủy
quyền giao dịch chứng khoán giữa các nhà đầu tư với nhau phải bằng văn bản có
xác nhận việc ủy quyền của chính quyền địa phương hoặc công chứng theo quy
định. Đồng thời phải nêu rõ phạm vi ủy quyền. Thời gian qua, đã có xảy ra không ít
những vụ tranh cãi, kiện tụng giữa nhà đầu tư với môi giới Công ty chứng khoán về
các việc như mất chứng khoán, hao hụt tiền trong tài khoản của nhà đầu tư, vợ kiện
chồng lấy tiền của gia đình đi chơi chứng khoán và ngược lại chồng kiện vợ... Nay
có quy định này, những tranh cãi, kiện tụng sẽ không còn. Trong trường hợp có
tranh chấp về vấn đề này thì các bên đã có đủ cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp
13
HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, việc ủy quyền giao dịch, ngoài các giấy
tờ thông thường cần phải có thì các công chứng viên phải yêu cầu các bên cung cấp
giấy tờ liên quan đến tài khoản giao dịch chứng khoán, làm rõ tình trạng hôn nhân
và yêu cầu chứng minh tài sản chứng khoán là tài sản chung hay riêng theo luật hôn
nhân và gia đình (nếu có).
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Giao dịch ủy quyền là một loại giao dịch diễn ra rất nhiều trong đời sống xã
hội. Đối với hoạt động công chứng hiện nay, số lượng đầu việc về công chứng giao
dịch ủy quyền chiếm khá nhiều trong tổng số giao dịch dân sự yêu cầu công chứng.
Do đó em đã quyết định lựa chọn đề tài này để tìm hiểu sâu về các quy định pháp
luật về giao dịch ủy quyền, qua quá trình viết bài em đã rút ra được nhiều bài học
kinh nghiệm. Đặc biệt là hiện nay có rất nhiều những giao dịch mua bán bất động
sản, phương tiện vận tải... nhưng các bên đến yêu cầu công chứng hợp đồng ủy
thỏa thuận mua bán) chết thì hợp đồng ủy quyền sẽ đương nhiên chấm dứt. Bất động
sản sẽ trở lại thuộc quyền sở hữu của bên ủy quyền (trong trường hợp bên được ủy
quyền chết) hoặc được để thừa kế cho người thừa kế của bên ủy quyền (trong trường
hợp bên ủy quyền chết). Trong mọi trường hợp, người thừa kế của bên được ủy
quyền đều không được thừa kế quyền của người được ủy quyền trong hợp đồng ủy
quyền (quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt bất động sản). Ngoài ra, nếu tòa án
tuyên bên ủy quyền bị mất năng lực hành vi dân sự (bị tâm thần) hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự (nghiện ma túy) thì đương nhiên hợp đồng ủy quyền cũng bị
chấm dứt. Quyền định đoạt bất động sản sẽ được chuyển giao cho người đại diện
theo pháp luật của bên ủy quyền. Tương tự như vậy, hợp đồng ủy quyền cũng chấm
dứt, bất động sản được giao trả cho bên ủy quyền nếu tòa án tuyên bên được ủy
quyền bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Thứ ba, vì thực tế những hợp đồng ủy quyền loại này thường được lập dưới
dạng ủy quyền không có thù lao, căn cứ theo quy định của điều 588 BLDS, bên ủy
quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền bất kỳ lúc nào miễn là
báo trước cho bên được ủy quyền một thời hạn hợp lý. Vấn đề ở đây là việc xác định
thế nào là “thời hạn hợp lý” và trong thời hạn này thì bên được ủy quyền có quyền
tiếp tục thực hiện hợp đồng ủy quyền? Vấn đề này, hiện tại chưa có câu trả lời theo
pháp luật Việt Nam chung cho mọi loại hợp đồng ủy quyền chứ chưa nói riêng cho
15
HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
hợp đồng ủy quyền loại này. Vào từng vụ việc cụ thể, với “niềm tin nội tâm” của
mình, mỗi thẩm phán sẽ có câu trả lời riêng cho hai câu hỏi trên. Mặc dù vậy, dường
như nếu kịch bản bên ủy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng xảy ra, không có
cách nào khác, các bên lại phải nhờ đến tòa án phân xử và kết cục là tòa án lại tuyên
vô hiệu hợp đồng ủy quyền do giả tạo theo điều 129 BLDS. Ở đây có một điểm cần
động sản thế chấp cho ngân hàng thì một số ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng nước
ngoài, từ chối việc nhận thế chấp vì các ngân hàng hiểu rõ bản chất và ngần ngại về
hệ lụy của giao dịch mua bán - ủy quyền này.
Ngoài ra, còn có một số trường hợp khác mà nếu bên bán (bên ủy quyền) hoặc
thậm chí bên mua (bên được ủy quyền) có ác ý thì các bên này vẫn có thể sử dụng
những kỹ thuật nhất định trong việc vận dụng hợp đồng và quy định của pháp luật
để tước đi một cách hợp pháp quyền lợi của bên kia.
Tìm hiểu các quy định pháp luật về các hình thức của giao dịch ủy quyền và
giá trị sử dụng trong hoạt động công chứng giúp em có thêm rất nhiều kiến thức
pháp luật bổ ích trong thời gian học tập và rèn luyện để trở thành một Công chứng
viên. Thông qua kiến thức có được, em cảm thấy mình tự tin hơn để vững bước trên
con đường lập nghiệp, vững tin để hoàn thành tốt nhiệm vụ của một Thẩm phán
phòng ngừa trong tương lai, tạo nên sự an toàn pháp lý cho các giao dịch và cho Xã
hội.
Em xin trân trọng cảm ơn !
17