TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ
TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÁC CHỈ
TIÊU TIẾN BỘ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2004-2014 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH CHO PHÙ HỢP
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS Nguyễn Văn Sơn
Thành viên tham gia: ThS. Trần Minh Tuấn
1
Hải Phòng, tháng 5/2016
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Chỉ tiêu GDP cho một đầu người
Biểu đồ 2.1 Chỉ tiêu GDP cho một đầu người
Bảng 2.2 Chỉ tiêu GDP cho một đầu người
Biểu đồ 2.2 Chỉ tiêu GDP cho một đầu người
Bảng 2.3: Chỉ số GINI
Biểu đồ 2.3: Chỉ số GINI
Biểu đồ 2.4: Phân bổ thu nhập của các nhóm dân cư
Biểu đồ 2.5: Biến động của Chỉ số GINI của Việt Nam
Bảng 2.4: Chỉ số phát triển con người
21
21
22
22
23
23
24
24
24
25
25
25
26
26
27
27
27
28
28
29
29
31
32
32
33
33
34
34
35
35
2.1.7. Đóng góp của các nhân tố tác động đến tăng trưởng
2.2.2. Đánh giá chung
Chương 3: Đề xuất các chính sách đảm bảo tăng trưởng kinh tế thúc
đẩy tiến bộ xã hội.
3.1. Tăng trưởng bao trùm đóng góp vào phát triển con người cao hơn
3.2. Thúc đẩy việc làm có năng suất
3.3. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế
3.4. Đẩy mạnh cải cách trong nước
3.5. Tăng cường năng lực công nghệ và nuôi dưỡng đổi mới sáng tạo
3.6. Cải thiện dịch vụ giáo dục và y tế làm nền tảng của tăng trưởng bao
trùm
3.7. Hướng đến một hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm và công
bằng hơn
KẾT LUẬN
3
4
5
5
5
8
8
11
11
11
13
15
15
17
sự hủy hoại môi trường, dãn cách giầu nghèo…
Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu để thấy được tăng trưởng kinh tế có kéo theo
tiến bộ xã hội không, tác động của tăng trưởng kinh tế đến tiến bộ xã hội như thế
nào. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp thúc đẩy tiến bộ xã hội của Việt nam.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Đề tài bổ sung các dữ liệu và các vấn đề mới
phát sinh để làm rõ mối quan hệ và đề xuất các biện pháp thúc đẩy tiến bộ xã hội của
Việt nam.
3. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu: Nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế với các
chỉ tiêu tiến bộ xã hội để chỉ rõ tăng trưởng kinh tế tác động đến tiến bộ xã hội như thế
nào dựa vào các dãy số thống kê, từ đó đề xuất các chính sách đảm bảo tăng trưởng
kinh tế thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Đối tượng: mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế với các chỉ tiêu tiến
bộ xã hội.
Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: 2000-2014.
Không gian: Các chỉ tiêu của Việt Nam và một số quốc gia.
4. Phương pháp nghiên cứu, kết cấu của công trình nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Thống kê toán học; Khảo sát; Chuyên gia.
Kết cấu của công trình nghiên cứu:
Chương 1: Cơ sở lí luận về tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
Chương 2: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội của Việt Nam
giai đoạn 2005-2015.
Chương 3: Đề xuất các chính sách đảm bảo tăng trưởng kinh tế thúc đẩy tiến bộ
xã hội.
5. Kết quả đạt được của đề tài
Chỉ rõ sự biến động và mối quan hệ của các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và tiến bộ
xã hội;
Các đề xuất về chính sách.
Tiếp cận từ chi tiêu, GDP là tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia
đình (C), chi tiêu của Chính phủ (G), đầu tư tích lũy tài sản (I) và chi tiêu qua thương
mại quốc tế, tức là giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim ngạch nhập khẩu (X-M).
GDP= C+ G + I + (X-M)
Nếu tiếp cận từ thu nhập, GDP được xác định trên cơ sở các khoản hình thành
thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, bao gồm: Thu nhập của người có sức lao động
dưới hình thức tiền công và tiền lương (W); Thu nhập của người có đất cho thuê (R);
Thu nhập của người có tiền cho vay (In); Thu nhập của người có vốn (Pr); Khấu hao
vốn cố định (Dp) và cuối cùng là thuế kinh doanh (T1).
GDP = W+R+In+Pr+Dp+T1
c. Tổng thu nhập quốc dân (GNI-Gross national income). Đây là chỉ tiêu xuất hiện
trong bảng SNA năm 1993 thay cho chỉ tiêu GNP sử dụng trong bảng SNA là muốn nói
5
theo cách tiếp cận từ thu nhập chứ không phải nói theo góc độ sản phẩm sản xuất như
GNP.
GNI là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân của
một nước tạo nên trong khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu này bao gồm các khoản
hình thành thu nhập và phân phối lại thu nhập lần đầu có tính đến cả các khoản nhận từ
nước ngoài về và chuyển ra nước ngoài. Như vậy, GNI hình thành từ GDP tiếp cận theo
góc độ thu nhập và được điều chỉnh theo con số chênh lệch thu nhập nhân tố với nước
ngoài.
GNI = GDP + chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài.
Chênh lệch thu nhập
nhân tố nước ngoài
Thu lợi tức nhân tố
từ nước ngoài
Thu chuyển nhượng
hiện hành với nước ngoài
Chi chuyển nhượng
hiện hành ra nước
ngoài
f. Thu nhập bình quân đầu người
Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP và GNI còn được sử dụng để đánh
giá mức thu nhập bình quân trên đầu người của mỗi quốc gia (GDP/người, GNI/người).
Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số. Quy mô và
tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phản ánh và là
tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung. Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày
càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được
sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia với nhau.
Theo dõi chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người có thể xác định khoảng thời gian
cần thiết để nâng cao mức thu nhập lên gấp 2 lần dựa vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế theo
dự bảo. Một phương pháp đơn giản và khá chính xác tiếp cận đến con số này gọi là
"Luật 70" tức là thời gian để thu nhập dân cư tăng lên gấp 2 lần được xác định xấp xỉ
6
bằng 70 chia cho tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người hàng năm theo dự
báo. Ví dụ như nếu tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của một nước đặt
ra là 5% năm thì sẽ đạt được mức tăng gấp 2 lần sau khoảng 14 năm (70 : 5). Dự báo
mức tăng thu nhập bình quân trên đầu người có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu xu
hướng chuyển biến thu nhập của các quốc gia từ nhóm này sang nhóm khác so với mức
bình quân toàn thế giới.
Trong phân tích, đánh giá tăng trưởng, một điều quan trọng hơn cả nội dung kinh
tế, phương pháp tính toán các chỉ tiêu nói trên là ở chỗ, hiểu được các chỉ tiêu này được
chức quốc tế xét đoán việc cho vay hay điều kiện, thời hạn được vay đối với các nước
khác nhau và xác định mức đóng góp của các nước thành viên trong các tổ chức quốc
tế.
(3). Mặc dù GDP phản ánh chính xác nhất kết quả sản xuất và dịch vụ của nền
kinh tế, tuy vậy bản thân chỉ số này hiện nay cùng chưa phải hoàn hảo khi sử dụng để
phân tích và đánh giá tăng trưởng. Có nhiều kết quả sản xuất và dịch vụ nhưng không
được tính vào GDP, đó là các hoạt động mang tính nội trợ, tự sản xuất, tự tiêu dùng;
7
trong khi đó một số tổn thất, mất mát trong quá trình sản xuất và dịch vụ lại không
được loại trừ đi khi tính GDP. UN thường xuyên quan tâm đến vấn đề này và luôn tìm
cách cải tiến chỉ số GDP, trong đó GDP xanh là một đề xuất của UN. Ngay từ năm
1993, UN đã biên soạn về Hệ thống tài khoản gắn kết kinh tế và môi trừơng (System of
integrated Enviromental And Economic Accounting - SEEA) và đã được chỉnh sửa và
hoàn thiện vào các năm 1994, 1998, 2000, 2003. Cuốn sách đã giới thiệu GDP xanh,
nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu này và đây cũng chính là bước hoàn thiện SNA
của UN, gắn kết kinh tế và môi trường. GDP xanh không chỉ phản ánh sự tăng trưởng
kinh tế mà còn phản ánh sự tăng trưởng của quốc gia đó có bền vững hay không. Nói
cách khác, GDP phản ánh sự tăng trưởng của một quốc gia một cách toàn diện về kinh
tế, xã hội, môi trường.
Vậy, GDP xanh là gi? Đó là phần còn lại của GDP thuần sau khi đã trừ các chỉ
phí do tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế.
GDP xanh
=
GDP Thuần
(GDP-Khấu hao)
a, Khái niệm
8
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) giới thiệu thước đo phát triển
kinh tế trong các ấn phẩm thường niên của mình, đó là Báo cáo phát triển con người.
Trong bản báo cáo đầu tiên được xuất bản năm 1990 với nhan đề “Mục tiêu duy nhất là
đặt lại con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển”, UNDP đã đưa ra quan
điểm về phát triển con người. Theo đó, “phát triển con người là một quá trình nhằm mở
rộng khả năng lựa chọn của dân chúng”, về nguyên tắc, những sự lựa chọn này là vô
hạn và có thể thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên ở các cấp độ phát triển, con người cần
có ba khả năng cơ bản sau: có cuộc sống trường thọ, mạnh khoẻ; được hiểu biết và có
được các nguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt. Song, phát triển con người không
dừng lại ở đó. Sự lựa chọn của dân chúng được đánh giá cao bao gồm sự tự do kinh tế,
xã hội, chính trị để con người có được các cơ hội trở thành người lao động sáng tạo, có
năng suất, được tôn trọng cá nhân và được bảo đảm quyền con người.
Như vậy phát triển con người gồm 2 mặt: một là, sự hình thành các năng lực của
con người và mặt khác là việc sử dụng các năng lực con người đã tích lũy được cho các
hoạt động kinh tế, xã hội. Như vậy, thu nhập không phải là tất cả của cuộc sống con
người, mục đích của phát triển là mở rộng mọi sự lựa chọn của con người chứ không
phải thu nhập.
b, Thước đo phát triển con người
(1) Thước đo từng khía cạnh của phát triển con người
Thước đo năng lực tài chính, phản ánh việc bảo đảm nhu cầu cơ bản về mức
sống vật chất cho con người.
Việc bảo đảm nhu cầu mức sống vật chất thể hiện ở nhu cầu hấp thụ calori tối
thiểu bình quân một ngày đêm của con người, đảm bảo khả năng sống và làm việc bình
thường, con người cần một khoản thu nhập nhất định để chi tiêu cho lương thực, thực
phẩm. Như vậy, chỉ số GNI/người (tính theo PPP) là thước đo chính thể hiện việc bảo
đảm nhu cầu hao phí vật chất cho dân cư mỗi quốc gia. Chỉ tiêu GNI/người càng cao
2. Năng lực trí lực (giáo dục): năm 1990 tính theo 2 tiêu chí là tỷ lệ người lớn biết chữ
và số năm đi học trung bình; Năm 2007 tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đến trường
đúng độ tuổi; Năm 2010, con sổ tỷ lệ đến trường đúng độ tuổi được thay bằng số
năm đi học trung bình nhưng đầy đủ hơn, nó không chỉ bao gồm số năm đi học
trung bình của nhũng người từ 25 tuổi trở lên, mà còn bao gồm số năm đi học trung
bình kỳ vọng, tức là sô năm đi học trung bình dự báo tính cho những người hiện
trong độ tuổi đến trường.
3. Năng lực thể lực (y tế và chăm sóc sức khoẻ): tính bằng tuổi thọ bình quân.
Về phương pháp tính HDI: Vì đơn vị đo của mỗi chỉ tiêu không giống nhau, nên
điều quan trọng là cần phải tìm ra một đơn vị đo lường chung cho các mục tiêu kinh tế xã hội. HDI thiết lập một giới hạn cận trên và cận dưới cho từng khía cạnh và chỉ ra vị
trí hiện tại của từng quốc gia trong các giới hạn đó.
Cách tính HDI giới thiệu trong báo cáo phát triển con người năm 2010.
Bước 1: Thiết lập chỉ số thành phần cho mỗi loại phương diện. Bao gồm: chỉ số
thu nhập (Iw), chỉ số tuổi thọ (Ia) và chỉ số giáo dục (Ie)
Các chỉ số phụ được tính theo công thức:
Chỉ số
=
Giá trị thực tế - Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất - Giá trị nhỏ nhất.
Giá trị lớn nhất (GTLN) và giá trị nhỏ nhất (GTNN) được lập ra để các chỉ số
biến đổi chạy giữa 0 và 1.
Các chỉ số thành phần HDI
Chỉ số
GTLN
GTNN
Nguồn: Báo cáo phát triển con người 2010, Liên Hợp Quốc
Khi tính chỉ số giáo dục, công thức được áp dụng tính cho cả 2 thành phần phụ
(số năm đến trường thực tế và số năm đến trường kỳ vọng)
Ie
=
(Chỉ số năm thực tế đến trường * chỉ số năm xem xét đến trường)1/2 - 0
Giá trị lớn nhất - Giá trị nhỏ nhất
Khi tính với chỉ số thu nhập, bởi mỗi chỉ số là 1 số mang tính chất đại diện cho
khả năng xảy ra của chỉ tiêu này, hàm chuyển đổi từ thu nhập tới các khả năng là hàm
lõm, vì thế mà khi tính sử dụng logarit đối với các chỉ số thực tế, giá trị lớn nhất và nhỏ
nhất.
Iw =
Ln*Wtt – Ln*Wmin
Ln*Wmax - Ln*Wmin
= 0.584
Bước 2: Tổng hợp các chỉ số thành phần để tính HDI:
HDI là tổng hợp của 3 chỉ số
HDI I 1A/ 3 .I E1 / 3 .I w1 / 3
Tác dụng chính của HDI là kiểm soát và đánh giá, so sánh trình độ phát triển con
người giữa các quốc gia với nhau cũng như đánh giá sự phát triển con người theo thời
gian. Trên cơ sở đó Chính phủ các nước có thế xác định các trọng điểm cần ưu tiên để
thực hiện sự can thiệp bằng các chính sách cụ thể nhằm cải thiện sự tiến bộ xã hội, nâng
khác tôn trọng.
(ii) Đề đo lường nghèo khố vật chất, điều quan trọng nhất là phải xác định chuẩn nghèo
(ngưỡng nghèo). Những người có mức thu nhập dành cho chi tiêu vật chất dưới ngưỡng
này được coi là nhũng người nghèo.
(iii) Chuẩn nghèo là một thước đo tương đối, nó được thay đổi theo các điều kiện phát
triển kinh tế, xã hội và tập quán tiêu dùng dân cư, vì thế, chuẩn nghèo quốc gia sẽ thay
đổi theo thời gian, theo vùng (thành thị, nông thôn, miền núi) và có xu hướng tăng lên
theo sự phát triển kinh tế - xã hội.
Chuẩn nghèo chính là mức chi phí tối thiểu theo mặt bằng chung của quốc tế,
quốc gia. Chuẩn nghèo quốc tế, được sử dụng để xác định tình trạng nghèo đói ở phạm
vi quốc tế, chuẩn nghèo quốc gia là cơ sở xác định tình trạng nghèo của cả nước. Chuẩn
nghèo quốc gia cũng được xem như là “mức sàn” để xác định chuẩn nghèo cho các địa
phương khác nhau.
b. Đo lường nghèo khó vật chất
Mức và Tỉ lệ nghèo khổ (chỉ số và tỉ lệ đếm đầu): đây là tiêu chí phản ánh rõ
nhất, tổng quát nhất tình trạng nghèo khổ và cũng là phương pháp đo lường đơn giản
nhất. Mức nghèo khổ (chỉ số đếm đầu - HC) được xác định trên cơ sở đếm đầu những
người sống dưới chuẩn nghèo, tức là những cá nhân hoặc hộ gia đình (i) có mức thu
nhập (yi) dưới mức chi tiêu tối thiểu (C). Còn tỷ lệ đếm đầu (HCR) sẽ là:
HCR = HC/n
trong đó: n là tổng dân số
Cùng là những người sống dưới ngưỡng nghèo, nhưng có những người nằm
ngay sát chuẩn nghèo, có người nằm dưới chuẩn nghèo rất xa. Do đó sẽ không đưa ra
chính sách thích họp đối với từng nhóm người. Vì vậy, cần phải bổ sung thêm công cụ
đo lường khác đầy đủ hơn.
Tỷ số khoảng cách nghèo và tỷ số khoảng cách thu nhập. Có tác dụng xem
xét mức độ trầm trọng của nghèo khổ. Tỷ số khoảng cách nghèo là tỉ lệ giữa thu nhập
trung bình cần thiết để tất cả người nghèo đạt chuẩn nghèo chia cho thu nhập trung bình
toàn xã hội.
PGR = ∑ (C - yi)/n*m
khổ đã mở rộng từ khái niệm nghèo đói vật chất đến nhìn nhận nghèo đói là khái niệm
đa chiều, nghèo khổ con người.
Nghèo khổ tổng hợp đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm
bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc “có thể chấp nhận được”.
b. Đo lường nghèo khổ đa chiều
(1) Chỉ số nghèo khổ con người (HPI - Human Poverty Index). Đây là chỉ số lần
đầu tiên được đưa ra trong Báo cáo phát triển con người năm 1997 nhằm cố gắng tập
hợp các đặc tính khác nhau về khía cạnh chất lượng cuộc sống con người vào trong một
chỉ số tổng hợp để tiến tới một sự đánh giá tổng hợp về mức độ nghèo khổ của một
cộng đồng.
HPI tập trung phản ánh sự bần cùng về ba khía cạnh thiết yếu của cuộc sống con
người đã được đề cập đến trong HDI, đó là: tuổi thọ, giáo dục và chất lượng cuộc sống.
Yếu tố đầu liên quan đến khả năng sống: khả năng bị tử vong ở độ tuổi tuơng đổi trẻ do
sự thiếu thốn, thể hiện trong HPI là phần trăm số người có khả năng sẽ chết trước tuổi
40. Khía cạnh thứ hai liên quan đến trình độ tri thức: bị tách khỏi thế giới giao tiếp và
đọc viết, đo bằng tỷ lệ phần trăm người lớn bị mù chữ. Khía cạnh thứ ba liên quan đến
chất lượng sống, đặc biệt là sự phân chia kinh tế nói chung, điều này phản ánh trong
HPI bằng cách tổng hợp ba yếu tố: tỷ lệ phần trăm số người không được tiếp cận với
dịch vụ sức khoẻ, nước sạch và tỷ lệ phần trăm trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng.
Phương pháp tính HPI
1. Cập nhật các thông tin: (i) tỷ lệ dân số không kỳ vọng sống quá 40 tuổi (Pi); (ii) Tỷ lệ
người lớn không biết chữ (P2); (iii) tỷ lệ suy dinh dưỡng (P3.1), tỷ lệ không tiếp cận
13
dịch vụ y tế (P3.2), tỷ lệ các hộ không được sử dụng nước sạch (P3.3) và P3 được tính
theo bình quân số học của 3 yếu tố trên P3= (P3.1+P3.2+ P3.3)/3
2. Tính HPI (áp dụng cho các nước đang phát triển), theo công thức:
1
Các ngưỡng sức khoẻ đó là có ít nhất một thành viên trong hộ gia đình bị suy
dinh dưỡng và có một hoặc nhiều trẻ bị chết. Các ngưỡng giáo dục là không có thành
viên hộ gia đình nào đã hoàn thành 5 năm học và có ít nhất 1 trẻ trong độ tuổi đi học
(khoảng 8 tuổi) mà không được đi học. Ngưỡng tiêu chuẩn sống liên quan tới điều kiện
sống thiếu điện, không được tiếp cận với nước sạch cũng như điều kiện vệ sinh đầy đủ,
phải sử dụng nhiên liệu nấu bếp bẩn (phân bón, gỗ hoặc than củi), sàn nhà bẩn, và
không có xe con, xe tải cũng như phương tiện gắn máy tương tự và sở hữu nhiều nhất
một trong số các tài sản sau: xe đạp, xe máy, đài radio, tủ lạnh, điện thoại hoặc TV.
Để xác định những người thuộc diện nghèo một cách toàn diện, người ta tính
tổng số điểm về mức độ thiếu hụt cho mỗi hộ gia đình (điểm nhận được của mỗi gia
đình ký hiệu là c). Nếu c bằng 3 hoặc lớn hơn, thì hộ gia đình đó được tính là nghèo
tổng hợp. Nếu 2
1.4.1 Bất bình đẳng kinh tế
a. Khái niệm bình đẳng kinh tế
Theo quan điểm của Marx, bình đẳng kinh tế (còn gọi là công bằng xã hội) là sự
ngang bằng nhau giữa người với người về một phương diện hoàn toàn xác định, đó là
phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ với quyền lợi, giữa cống hiến với hưởng thụ theo
nguyên tắc công hiến lao động ngang nhau thì được hưởng ngang nhau.
15
Trước hết, nói đến bình đẳng về kinh tế, về cơ bản gắn với bình đẳng về phân
phối thu nhập: bình đẳng về thu nhập, về phúc lợi xã hội, về điều kiện sống nhìn từ khía
cạnh sinh hoạt - tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình, của nhóm người.
Mặt khác, hiểu theo nghĩa rộng hơn, nói đến bình đẳng kinh tế cũng phải nói đến
bình đẳng về cơ hội phát triển của mỗi thành viên trong xã hội, nguồn gốc của bình
đẳng thu nhập chính là sự công bằng trong cơ hội phát triển.
b. Thước đo bất bình đẳng thu nhập
(1) Đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz được biểu thị trong một đồ thị, trong đó trục đứng (trục
tung) là tỷ lệ phần trăm thu nhập cộng dồn (20%, 40%,v.v...100%), còn trục ngang (trục
hoành) là tỷ lệ phần trăm dân số cộng dồn được sắp xếp theo nhóm dân cư có mức thu
nhập tăng dần (20%, 40%, V.V....100%). Đường 45% phản ánh phân phối trong tình
trạng tuyệt đối công bằng (ứng với bao nhiêu % dân số thì có bấy nhiêu % thu nhập),
chúng ta gọi đây là đường phân phối lý thuyết. Đường Lorenz bắt đầu và kết thúc trên
đường 45%, điều đó có nghĩa là 0% dân số tương ứng với 0% thu nhập và 100% dân số
ứng với 100% thu nhập.Các điểm trên đường Lorenz phản ánh bao nhiêu % dân số ứng
với bao nhiêu % thu nhập
Đường Lorenz
Dân số cộngdồn (%)
số GINI trên thực tế nằm trong khoảng từ 0,2 đến 0,6. Nếu hệ số GINI nhận giá trị lớn
hơn 0,5 gọi là mức độ bất công bằng lớn; từ 0,4 đến cận 0,5 là bất công bằng vừa và
nhỏ hơn 0,4 được xem như bất công bằng chấp nhận được.
(3) Tỷ số Kuznets.
Tỷ số Kuznets là tỷ lệ giữa tỷ trọng thu nhập của x% dân sổ có mức thu nhập cao
nhất và tỷ trong thu nhập của y% dân số có mức thu nhập thấp nhất, (x có thể khác với
y, và nhận các giá trị 5%, 10%, 20% v.v...). Những tỷ số này thực chất là những “mẩu”
nằm trên đường Lorenz và nó chỉ đem lại một tác dụng duy nhất là đánh giá mức độ
phân hoá xã hội giữa hai cực giàu nhất và nghèo nhất. Có thể “cải biên” tỷ số Kuznets
bằng cách sử dụng số liệu dân số ở hai đầu cực bằng nhau, tức là %x= %y (x = y và có
thể bằng 5%, 10%, 20% v.v.v...) và được một hệ số gọi là hệ số dãn cách thu nhập. Hệ
số này phản ánh cụ thể hơn mức độ phân hoá ở hai đầu cực (đỉnh và đáy) của xã hội,
với cùng một quy mô dân số, nhưng những người giàu nhất có thu nhập lớn hơn bao
nhiêu lần những người nghèo nhất. Đây cũng là một thước đo bổ trợ đáng tin cậy, phản
ánh mức độ trầm trọng về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
(4) Tỷ trọng thu nhập của x% dân số nghèo nhất.
Cần phải quan tâm đến phần thu nhập của bộ phân dân số sống ở phần đáy xã
hội so với tổng thu nhập dân cư. Thước đo này gọi là tỷ trọng thu nhập của x% dân số
có mức thu nhập thấp nhất (x có thể là 10% hay 20% v.v...). Năm 2001, WB đã cụ thể
hoá tỷ số này thông qua Tiêu chuẩn “40”, tức là thông qua tỷ trọng thu nhập của 40%
dân số có mức thu nhập thấp nhất để đánh giá mức độ bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập của các quốc gia. Theo tiêu chuẩn này, nếu thu nhập của 40% dân số có mức
thu nhập thấp nhất dưới 12% được gọi là bất bình đẳng cao; từ 12-17% gọi là bất bình
đẳng vừa, còn nếu lớn hơn 17%, xem như là bất bình đẳng thấp.
1.4.2. Bất bình đẳng giới
a.Khái niệm bình đẳng giới
Bình đẳng giới: Là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc...) mà trong đó
phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử
dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của
17
tiết của nam và nữ riêng. Cụ thể là: (i) tuồi thọ bình quân của nữ và nam; (ii) Tỷ lệ biết
chữ của người lớn và tỷ lệ nhập học các cấp tính riêng cho nam và nữ (lưu ý: theo cách
tính HDI năm 2010 thì hai giá trị này là số năm đi học trung bình và số năm đi học kỳ
vọng) (iii) Thu nhập bình quân đầu người tính riêng cho nam và nữ; (iv) Tỷ lệ nam và
nữ trong tổng dân số.
Phương pháp tính GDI
Việc tính toán chi tiêu GDI được thực hiện theo ba bước:
Bước một, tính riêng các chỉ số thành phần cho nữ và nam theo công thức chung ở phần
HDI;
Bước hai, xác định các chỉ số phân bổ công bằng thành phần trên cơ sở các chỉ số thành
phần tính riêng cho nam và nữ ở bước một để phản ánh sự chênh lệch giữa nam và nữ.
Các chỉ số phân bổ công bằng tính theo công thức chung sau đây
Chỉ số phân bổ Công bằng = [tỷ lệ dân số nữ * (chỉ số nữ)-1 + Tỷ lệ dân số nam * (chỉ
số nam) -1] -1.
18
Bước ba, Chỉ số GDI được tính bằng cách tổng hợp các chi số phân bổ công bằng thành
một giá trị bình quân không có quyền sổ (tính bình quân số học của 3 chỉ sổ phân bổ
công bằng).
Theo phương pháp tính trên, GDI giảm khi các thành tựu đạt được về phát triển
con người của cả nam và nữ bị giảm hay sự phát triển không đồng đều giữa nam và nữ
tăng lên, sự phát triển không đều về các năng lực cơ bản của nam và nữ càng cao, GDI
của nước đó sẽ thấp hơn HDI. GDI chỉ đơn giản là HDI được chiết khấu hay được điều
chỉnh thấp xuống theo mức độ phát triển đều về giới tính. Như vậy mức độ phát triển
không đều về giới tính được xem xét bằng sự chênh lệch giữa HDI và GDI. Trong mỗi
nước, nếu giá trị và thứ hạng của GDI càng gần với HDI thì sự khác biệt theo giới tính
càng ít. trường họp hai chỉ số đều cao tương đương nhau chứng tỏ ở nước này không
chỉ có trình độ phát triển con người cao mà còn phản ánh sự phát triển khá đều giữa
nam và nữ. Nếu thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạng HDI cho thấy sự phân phối không
19
Bước ba: GEM được tính bằng cách tổng hợp các phần trăm phân bổ công bằng thành
một giá trị bình quân không có quyền số (tính bình quân số học của ba phần trăm phân
bổ công bàng).
GEM được xác định theo phương pháp nói trên, là thước đo quyền lực của giới.
Nếu GEM càng lớn chứng tỏ xã hội đã có sự quan tâm cao đến sử dụng năng lực của cả
nam và nữ để khai thác các cơ hội của cuộc sống. Thông thường khi đánh giá phát triển
con người có liên quan đến khía cạnh giới tính, phải quan tâm đồng thời đến cả hai chỉ
tiêu GDI và GEM. Trên thực tế có nước GDI khá cao, thể hiện sự quan tâm của xã hội
đến việc nâng cao năng lực của cả nam giới và nữ giới, nhưng chỉ số GEM lại không
cao, điều đó có nghĩa là mặc dù năng lực của phụ nữ được trang bị khá tốt, nhưng xã
hội lại không quan tâm đến khía cạnh sử dụng họ theo năng lực vốn, đây cũng phản ánh
một hạn chế trong phát triển con người.
(3) Chỉ số bất bình đẳng giới (Gender Inequality Index - GII)
Đây là chỉ số mới được đưa vào trong báo cáo phát triển con người 2010 của
UNDP. Chỉ số này phản ánh sự bất lợi của phụ nữ trên ba khía cạnh: sức khoẻ sinh sản,
quyền lực và thị trường lao động. GII phản ánh khá tổng hợp sự bất bình đẳng giới
trong các quốc gia, là cơ sở xác định các chính sách để điều chỉnh các yếu tố liên quan
đến sự thiếu hụt của phụ nữ về những khía cạnh của phát triển con người.
Theo ý nghĩa trên, cấu thành trong GII bao gồm ba yếu tố: (i) yếu tố phản ánh
sức khoẻ sinh sản, bao gồm tỷ lệ chết mẹ (MMS) được tính là số bà mẹ tử vong trong
số 100.000 trẻ em sinh ra còn sống và tỷ lệ vị thành niên mang thai (AFR) được tính
bằng số phụ nữ mang thai ở lứa tuổi từ 15 đến 19 trên 1.000 phụ nữ cùng độ tuổi; (ii)
Yếu tố quyền lực, bao gồm: tỷ lệ đại biểu quốc hội và tỷ lệ đến trường bậc trung học;
(iii) Yếu tố thị trường lao động, được tính theo tỷ lệ tham gia thị trường lao động.
Phương pháp tiếp cận đến GII bao gồm: thu thập và tính toán các giá trị theo
từng giới (nam, nữ), sau đó xác định chỉ số phân bổ công bằng và cuối cùng là tổng hợp
1043.692194
385.3807067
309.0614486
299.9816955
2005
27900.781
43640.667
19095.862
1735.1517
2880.5484
1201.2823
622.9385
469.16767
471.16266
2010
45933.004
47663.674
22588.453
4375.4165
5101.9052
2136.4295
1301.911
1054.3968
782.61976
2011
52447.32
49005.509
Biểu đồ 2.1 Chỉ tiêu GDP cho một đầu người (USD)
2.1.2 Chỉ tiêu GNI danh nghĩa cho một đầu người
Bảng 2.2 Chỉ tiêu GDP cho một đầu người (USD)
YEAR
United States
Singapore
Korea
China
Thailand
Philippines
Viet Nam
Lao
Cambodia
2000
36278.70537
23905.92783
11541.89927
924.5301093
1983.46238
1223.005008
379.8597607
296.4237374
256.8715458
2005
43970.29
26027.9
17946.33
1699.916
51612.3
51550.05
23180.15
5957.523
5550.554
3087.492
1640.613
1265.655
898.57
2014
54592.621
53702.143
28597.771
7222.5505
6032.6549
2848.2314
2016.236
1692.3148
1066.6663
Biểu đồ 2.2 Chỉ tiêu GDP cho một đầu người (USD)
2.1.3 Chỉ số GINI
a. Chỉ số GINI
Bảng 2.3: Chỉ số GINI
Cambodia
China
Lao PDR
1.7
4.7
9.7
15.3
23.2
47.1
30
2012
37.9
3
7.3
11.1
15
20.8
45.9
30.8
2012
43
2.5
5.9
9.5
13.8
21.2
49.6
33.4
2012
39.3
2.8
6.7
10.4
30.2
30.1
Biểu đồ 2.3: Chỉ số GINI
b. Phân bổ thu nhập của các nhóm dân cư
Biểu đồ 2.4: Phân bổ thu nhập của các nhóm dân cư
c. Biến động của Chỉ số GINI của Việt Nam
Năm
2012-12-31
2010-12-31
2008-12-31
2006-12-31
2004-12-31
2002-12-31
1998-12-31
1993-12-31
Giá trị
35.62
39.25
35.57
35.75
36.81
37.55
35.52
35.68
23
116
141
143
0.915
0.912
0.898
0.727
0.726
0.668
0.666
0.575
0.555
79.1
83.0
81.9
75.8
74.4
68.2
75.8
66.2
68.4
16.5
15.4
16.9
13.1
13.5
11.3
93
115
Country
United States
Singapore
Korea
China
Thailand
Philippines
Value
1990
0.859
0.718
0.731
0.501
0.572
0.586
2000
0.883
0.819
0.821
0.588
0.648
0.623
2010
0.909
2014
0.915
0.912
0.898
0.727
0.726
0.668