NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MỔ LẤY THAI VÀ GIẢI PHÁP LÀM GIẢM
TỶ LỆ MỔ LẤY THAI TẠI BỆNH VIỆN TW HUẾ
Ths.Bs.Hoàng Ngọc Tú, Ths.BsCKII.Bạch Cẩm An, BSCKII.Phan Viết Tâm
NHS.Phan Lê Vy Phương, CN.NHS.Ngô Hoàng Hiếu, NHS.Nguyễn Thị Đông Hiền
Tóm tắt
Mục tiêu: Tìm hiểu tình hình và giải pháp làm giảm tỷ lệ mổ lấy thai. Đối tượng và
phương pháp: Gồm tất cả các sản phụ vào sinh tại khoa Phụ sản BVTW Huế được chỉ định
mổ lấy thai, trong khoảng thời gian nghiên cứu kể từ 01/2015 - 12/2015. Mô tả cắt ngang hồi
cứu. Kết quả: Tỷ lệ mổ lấy thai 57,57%, trong đó các nhóm 1, 2, 3 và 5 theo phân loại
Robson có tỷ lệ đóng góp cao nhất với 47,57%. Các biến chứng thường gặp trong và sau
mổ lấy thai: rách cơ tử cung đoạn dưới 1,13%, thương tổn bàng quang 0,85%, đờ tử cung
0,75%, rối loạn chức năng ruột 16%, nhiễm trùng đường tiểu 8,8% và nhiễm trùng vết mổ
4,4%. Đối với con: chỉ số Apgar thấp 1,7%, suy hô hấp 5,6% và nhiễm trùng sơ sinh
3,01%. Với trường hợp vết mổ cũ: tỷ lệ rau tiền đạo gia tăng ý nghĩa ở những sản phụ có
vết mổ cũ lấy thai (1,76%) so với những người không có vết mổ cũ lấy thai (0,87%)
(RR.2); tỷ lệ rau cài răng lược không có sẹo mổ cũ là 3,14% tăng lên 44,44% ở sẹo mổ cũ.
Kết luận: Tình hình mổ lấy thai ở bệnh viện TW Huế gia tăng rất nghiêm trọng, hệ lụy kéo
theo nhiều biến chứng. Giải pháp giảm tỷ lệ mổ lấy thai là làm giảm tỷ lệ 3 nhóm đầu tiên
trong phân loại 10 nhóm.
RESEARCH OUTCOMES OF CESAREAN SECTION AND
HOW TO REDUCE CESAREAN SECTION RATE
Abtracts
Objective: State of cesarean section and how to reduce cesarean section rate. Subjects and
Method: Include all the records of women which hospitalized and delivered by cesarean
during the 1-year period from 1/2015 to 12/2015 were reviewed. Retrospective crossstudy. Results: Ratio 57.57% caesarean section, in which groups 1, 2, 3 and 5 in the
classification Robson have the highest contribution rate to 47.57% . Common complications
during and after cesarean section: tearing the lower segment of the uterus 1.13%, 0.85%
bladder injuries , 0.75% uterine , bowel dysfunction 16%, urinary tract infection 8.8% and
4.4% incisions. For children: a low Apgar score of 1.7 %, 5.6 % respiratory failure,
neonatal infections 3.01%. With having previous cesarean: The incidence of placenta
chứng, kết cục và dự hậu của mổ lấy thai.
2. Rút ra giải pháp làm giảm tỷ lệ mổ lấy thai.
VÀI NÉT VỀ TỔNG QUAN
1. Phân nhóm và chỉ định mổ lấy thai.
1.1. Hệ thống phân loại 10 nhóm (TGCS)(phân loại Robson)
Hiện nay không có sự chấp nhận quốc tế về hệ thống phân loại mổ lấy thai trong đó cho
phép so sánh ý nghĩa và mối liên quan của tỷ lệ mổ lấy thai trên những cơ sở, ở các thành
phố hoặc những khu vực khác nhau. Trong số các hệ thống hiện có được sử dụng để phân
loại mổ lấy thai, việc phân loại 10 nhóm (còn được gọi là ‘phân loại Robson’) trong những
năm gần đây trở nên sử dụng rộng rãi ở nhiều nước. Trong năm 2014, WHO đã tiến hành
một sự đánh giá mang tính hệ thống về kinh nghiệm của người dùng với phân loại Robson
để đánh giá những ưu và nhược điểm của nó, thực hiện và giải thích, và để xác định các
rào cản, hỗ trợ và sự thích ứng với tiềm năng sử dụng hay phải sửa đổi thêm [7],[10].
WHO đề xuất hệ thống phân loại Robson như một tiêu chuẩn toàn cầu để đánh giá, theo
dõi và so sánh tỷ lệ mổ lấy thai ở những cơ sở chăm sóc sức khỏe theo thời gian, và giữa
những cơ sở với nhau. Để hỗ trợ các cơ sở y tế trong việc áp dụng phân loại Robson, WHO
sẽ phát triển những hướng dẫn cách sử dụng nó, bổ sung và diễn giải, bao gồm cả chuẩn
hóa các thuật ngữ và định nghĩa.
Phân loại Robson dựa trên cơ sở các thông tin về dịch tễ, kết cục mẹ và con, chi phí và
cách tổ chức thực hiện. Nó có nhiều ý nghĩa lâm sàng hơn. Theo phân loại Robson, mổ lấy
thai được sắp xếp trong 10 nhóm:
1. Con so, đơn thai, ngôi đầu, >= 37 tuần, chuyển dạ tự nhiên.
2. Con so, đơn thai, ngôi đầu >=37 tuần, khởi phát chuyển dạ/MLT trước khi chuyển dạ.
3. Con rạ (không có VMC), đơn thai, ngôi đầu >=37 tuần, chuyển dạ tự nhiên.
4.Con rạ (không có VMC), đơn thai, ngôi đầu >=37 tuần, khởi phát chuyển dạ/MLT trước khi chuyển dạ
5. VMC, đơn thai, ngôi đầu >= 37 tuần.
6. Tất cả các trường hợp con so, ngôi mông.
7. Tất cả các trường hợp đa thai, ngôi mông (bao gồm có VMC).
Việc phân loại trên được xây dựng để có thể sử dụng ở bất kỳ đơn vị sinh đẻ nào. Các khái
niệm đằng sau phương pháp này đảm bảo chất lượng là, như TGCS, kết quả sẽ kích thích sự
thảo luận về tiến bộ của đơn vị này (quản lý chuyển dạ) khi so sánh nó với các đơn vị khác.
2. Biến chứng mổ lấy thai.
So với sinh ngã âm đạo, thì tỷ lệ tử vong mẹ và đặc biệt là tỷ lệ mắc bệnh tăng lên với mổ
lấy thai xấp xỉ gần gấp đôi. Một phần của sự gia tăng này về tỷ lệ tử vong có liên quan với
phẫu thuật nói chung, và một phần liên quan đến các nguyên nhân đã dẫn đến chỉ định mổ lấy
thai. Nguyên nhân chính của tỷ lệ bệnh tật và tử vong có thể liên quan đến di chứng của nhiễm
trùng, bệnh tắc mạch do huyết khối, biến chứng gây mê, và thương tổn do phẫu thuật [6].
1.2. Những biến chứng trong mổ
- Rách tử cung
- Thương tổn bàng quang
- Thương tổn niệu quản
- Thương tổn ruột
- Đờ tử cung
1.3. Những biến chứng sau mổ
- Nhiễm trùng vết mổ
- Hở thành bụng
- Nhiễm trùng đường tiểu
- Rối loạn chức năng ruột
- Biến chứng về tắc mạch
- Viêm tắc mạch chậu
- Lạc nội mạc trong cơ tử cung sau mổ.
2. Kết cục và dự hậu
2.1. Đối với mẹ
Bệnh nhân trải qua sinh mổ thường mất nhiều thời để phục hồi hoàn toàn so với những người
sinh qua ngả âm đạo. Tuy nhiên, các tình trạng chung tổng thể về dài hạn của bệnh nhân không bị
ảnh hưởng quá trầm trọng. Đôi khi, một số bệnh nhân có thể bị đau vùng chậu liên quan viêm dính
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu.
Nghiên cứu này áp dụng kỹ thuật chọn mẫu chủ định, là toàn bộ sản phụ sinh mổ trong
năm 2015 tại khoa phụ sản Bệnh Viện Trung Ương Huế.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.1 Tỷ lệ sinh mổ và sinh đẻ
Trong năm 2015, có tổng cộng 8.593 trường hợp vào sinh. Trong đó có 4.947 trường hợp mổ
lấy thai chiếm tỷ lệ 57,57% và 3.646 trường hợp sinh thường qua ngã âm đạo chiếm tỷ lệ 42,43%.
1.2 Phân bố chỉ định mổ lấy thai theo Phân loại Robson:
Bảng 1. Hệ thống phân loại 10 nhóm cho mổ lấy thai
Nhóm
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Mô tả
Con so, đơn thai, ngôi đầu, >= 37
tuần, chuyển dạ tự nhiên.
Con so, đơn thai, ngôi đầu >=37
tuần, khởi phát chuyển dạ/MLT
trước khi chuyển dạ.
Con rạ (không có VMC), đơn thai, ngôi
23,5
35,28
Đóng góp tỷ lệ
MLT mỗi
nhóm
57,57%
8,29
874/1.057
12,3
82,68
10,17
554/2.156
25,1
25,69
6,45
253/627
7,3
1,65
69/69
0,8
100
0,8
158/189
2,2
83,59
1,84
1.3 Những biến chứng mổ lấy thai
1.3.1 Biến chứng đối với mẹ
Bảng 2. Biến chứng trong mổ
Đặc điểm
Số lượng Tỷ lệ
(N = 4.947) (%)
Rách cơ tử cung đoạn dưới
56
1,13
792
16
Biến chứng về tắc mạch
5
0,1
Viêm tắc mạch chậu
3
0,06
1.3.2
Biến chứng đối với thai
Bảng 4. Biến chứng đối với thai
Đặc điểm
Số lượng Tỷ lệ
(N = 4.947) (%)
Chỉ số Apgar thấp (≤ 3)
83
1,7
Suy hô hấp trong 24h
276
5,6
Nhiễm trùng sơ sinh
149
3,01
Tử vong sơ sinh
23
0,46
1.4 Đặc điểm vết mổ cũ
Bảng 5. Đặc điểm vết mổ cũ
70 (0,87)
503
9 (1,76)
Giá trị P và
nguy cơ
tương đối
(độ tin cậy
95%)
Nhau cài
răng lược
(% của
nhau tiền
đạo)
Giá trị P và
nguy cơ
tương đối
(độ tin cậy
95%)
2 (3,14)
P
một sự phản ánh về chất lượng dữ liệu. Cột thứ tư trong bảng cho kích thước của mỗi nhóm
là một tỷ lệ phần trăm và được tính bằng số lượng sản phụ trong mỗi nhóm chia cho tổng số
sản phụ vào sinh. Cột thứ năm cung cấp tỷ lệ mổ lấy thai trong mỗi nhóm bằng cách chia số
trường hợp mổ lấy thai được thực hiện trong mỗi nhóm với số lượng sản phụ trong mỗi
nhóm đó. Cột thứ sáu cung cấp sự đóng góp tuyệt đối của mỗi nhóm với tỷ lệ mổ lấy thai nói
chung. Điều này được tính bằng cách chia các số sinh mổ lấy thai trong mỗi nhóm cho tổng
số sản phụ vào sinh. Sự đóng góp với tỷ lệ mổ lấy thai nói chung bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ mổ
lấy thai trong mỗi nhóm và cũng là kích thước của nhóm. Tỷ lệ đóng góp tuyệt đối (chứ
không phải là tương đối) được khuyến cáo sử dụng trong Bảng 1. Sau đó dễ dàng để giải
thích nhanh chóng cả tỷ lệ đóng góp tuyệt đối và tương đối vào tỷ lệ mổ lấy thai.
Nhìn vào Bảng 1 chúng ta thấy rằng nhóm 1, 2, 3 và 5 có kích thước lớn nhất, chiếm đa
số các trường hợp sản phụ vào sinh. Cũng như có tỷ lệ đóng vào tỷ lệ mổ lấy thai là chủ
yếu. Còn với các nhóm 6,7,8,9 và 10 là các nhóm nhỏ, mặc dù có tỷ lệ mổ lấy thai trong
nhóm rất cao nhưng tỷ lệ phân bố thấp, các giá trị dao động thấp, khả năng đóng góp vào
tỷ lệ mổ lấy thai chung khá thấp với xấp xĩ 10% (so với 47,7% của bốn nhóm 1,2,3 và 5).
Như vậy, để giảm tỷ lệ mổ lấy thai cần nghiên cứu làm giảm tỷ lệ mổ lấy thai trong các
nhóm 1, 2, 3 và 5. Đối với nhóm 5 là nhóm các sản phụ có VMC, đơn thai, ngôi đầu >=37
tuần, mặc dù có tỷ lệ đóng góp vào mổ lấy thai nói chung rất cao nhưng không thể kiểm soát
được vết mổ cũ trong quá trình chuyển dạ nên khó có thể làm giảm tỷ lệ mổ lấy thai trong
nhóm này. Các nhóm 1 và 3 có đặc điểm gần tương đương nhau, chỉ khác về số lần sinh,
không có yếu tố về khởi phát chuyển dạ nên chỉ liên quan đến vấn đề đẻ khó. Còn nhóm 2 có
tỷ lệ mổ lấy thai như vậy khá cao bất thường liên quan đến quá trình khởi phát chuyển dạ hoặc
sự kém đáp ứng của cơ tử cung, cũng như sự dung nạp của thai nhi với vấn đề khởi phát.
Vậy vấn đề then chốt ở đây là để làm giảm tỷ lệ mổ lấy thai nói chung cần giảm tỷ lệ mổ
lấy thai trong 3 nhóm đầu tiên. Trong 3 nhóm này nguyên nhân dẫn đến mổ lấy thai vì lý do
thai nhi (không có khởi phát chuyển dạ bằng oxytocin) và lý do đẻ khó. Cần siết chặt về các
chỉ định mổ lấy thai cũng như xem xét kỹ lưỡng đối với các lý do này thì khả năng làm giảm tỷ
lệ mổ lấy thai khả thi hơn. Những chỉ định mổ lấy thai được thực hiện trong chuyển dạ tự
tăng kích thước và độ rộng để tìm kiếm nguồn dinh dưỡng cho thai nhi.
Theo y văn, tỷ lệ rau tiền đạo thay đổi trong khoảng 0,30% đến 1,9% [6]. Khoảng thay đổi
khá rộng đó liên quan đến sự xuất hiện rau tiền đạo theo độ tuổi của sản phụ và số lần sinh ở các
quần thể được khảo sát khác nhau. Tỷ lệ chung của rau tiền đạo trong nghiên cứu của chúng tôi ở
Bảng 6 cũng nằm trong khoảng đó, tức là 0,92%. Từ khi Bender [1] lần đầu tiên đưa ra giả
thuyết về mối quan hệ giữa mổ lấy thai trước với sự xuất hiện rau tiền đạo ở các lần mang thai
sau, đã có nhiều nghiên cứu báo cáo tỷ lệ rau tiền đạo ở những sản phụ có vết mổ cũ lấy thai gia
tăng gấp 2-5 lần tỷ lệ rau tiền ở những sản phụ không có vết mổ cũ lấy thai. Tỷ lệ rau tiền đạo
cao nhất ở sản phụ có vết mổ cũ lấy thai được Singh báo cáo là 3,9% [8]. Theo tác giả To và
cộng sự [9], tỷ lệ rau tiền đạo trên vết mổ cũ lấy thai là 1,31% so với 0,75% rau tiền đạo không
có vết mổ cũ lấy thai, tăng gấp 1,64 lần. Theo Getahun D [5], tỷ lệ đó lần lượt là 0,63% và
0,38%, tăng gấp 1,5 lần. Còn theo tác giả Chattopadhyay và cộng sự [3], thì tỷ lệ đó lần lượt là
2,54% và 0,44%, tăng gấp 5 lần. Từ kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở Bảng 6 cho thấy, tỷ lệ
rau tiền đạo có vết mổ cũ lấy thai là 1,76% so với rau tiền đạo không có vết mổ cũ lấy thai là
0,87%, tăng gấp 2 lần. Như vậy kết quả của chúng tôi phù hợp với nhận định rằng vết mổ cũ làm
gia tăng rau tiền đạo lên 2-5 lần và cũng phù hợp với tỷ lệ của các tác giả kể trên.
Trong nghiên cứu về rau cài răng lược bám chặt, rau cài răng lược trong cơ và xuyên cơ,
Breen [2] nhận xét việc đánh giá mô học cho thấy thiếu màng rụng là yếu tố chủ yếu trong
hầu hết các trường hợp này, và tỷ lệ rau cài răng lược gia tăng đáng kể do vết mổ cũ lấy thai.
Cũng trong nghiên cứu này, tỷ lệ rau tiền đạo mặt trước cao hơn có ý nghĩa ở những người
có một vết mổ cũ (P < 0,05) so với những người không có vết mổ cũ. Nguy cơ rau cài răng
lược ở bệnh nhân có cả rau tiền đạo và vết mổ cũ lấy thai được ước tính là 9,3% theo To [9],
15% bởi Singh [8] và 30% bởi Clark [4], còn kết quả của chúng tôi là 44,44% cao hơn so với
các tác giả trên. Điều này phản ánh đúng sự gia tăng có ý nghĩa của nhau cài răng lược khi
xuất hiện trên sản phụ có cả rau tiền đạo và vết mổ cũ, với nguy cơ tương đối là 13,7.
KẾT LUẬN
Tình hình mổ lấy thai ở Bệnh viện TW Huế gia tăng rất nghiêm trọng, hệ lụy kéo theo
các biến chứng trong và sau mổ đối với mẹ và con tăng cao, đặc biệt rau tiền đạo và rau cài