1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo ñường (ĐTĐ) type 2 là một bệnh rối loạn chuyển hoá do
kháng insulin, giảm tiết insulin hoặc kết hợp cả hai. Bệnh ñược ñặc trưng bởi
tình trạng tăng glucose máu và rối loạn chuyển hoá các chất carbohydrat,
protid, lipid [2].
Kháng insulin là ñặc ñiểm nổi bật của ĐTĐ type 2, là tình trạng suy
giảm ñáp ứng sinh học ñối với insulin, biểu hiện thông thường bằng sự gia
tăng nồng ñộ insulin trong máu [26,53]. Tình trạng kháng insulin gây nhiều
khó khăn trong ñiều trị bệnh nhân ĐTĐ type 2. Nhiều nghiên cứu cho thấy
tình trạng kháng insulin là một trong những yếu tố liên quan tới một loạt các
biến chứng, nhất là các biến chứng mạch máu. Kháng insulin còn có mối liên
quan với những yếu tố nguy cơ như béo phì thừa cân, rối loạn lipid máu, tăng
huyết áp, tạo ra một vòng xoắn bệnh lý làm cho tình trạng kháng insulin và sự
tiến triển của ĐTĐ type 2 càng phức tạp hơn [60].
Tần suất bệnh ĐTĐ type 2 ngày càng tăng, là một trong ba bệnh có tốc
ñộ phát triển nhanh nhất (ung thư, tim mạch và ĐTĐ) [2]. Theo Tổ chức Y tế
thế giới, ñến năm 2025 sẽ có từ 300 ñến 330 triệu người, khoảng 5,4% dân số
thế giới mắc bệnh ĐTĐ. Ở Việt Nam, theo ñiều tra của Bệnh viện Nội tiết
Trung ương năm 2003, tỷ lệ mắc dao ñộng từ 2,7%-3% [2].
Kỹ thuật kẹp bình ñường tăng insulin máu là kỹ thuật chuẩn vàng ñể
chẩn ñoán xác ñịnh kháng insulin, nhưng ñây là phương pháp phức tạp, chỉ áp
dụng tại các trung tâm nghiên cứu, khó áp dụng rộng rãi trên lâm sàng ñể
chẩn ñoán cho số ñông bệnh nhân ĐTĐ type 2 hay các bệnh nhân có nguy cơ
cao kháng insulin [44]. Rất nhiều nhà khoa học ñã nghiên cứu ñể tìm ra các
chỉ số, phương pháp thay thế ñơn giản hơn, dễ áp dụng rộng rãi trên lâm sàng
2
1.1. Đại cương về bệnh ñái tháo ñường (ĐTĐ) .
1.1.1. Tỷ lệ mắc.
1.1.1.1. Tỷ lệ mắc trên thế giới.
Vào cuối thế kỷ XX, ñầu thế kỷ XXI, bệnh ĐTĐ ñã trở thành một trong
số 10 bệnh gây tử vong nhiều nhất, bệnh tăng nhanh ở các nước ñang phát
triển, ña số là ĐTĐ type 2, thường cứ 10 người mắc thì 9 người là ĐTĐ type
2. Sự bùng nổ ĐTĐ type 2 và những biến chứng của bệnh ñang là thách thức
lớn ñối với cộng ñồng [25]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
ĐTĐ type 2 chiếm 85-95% tổng số người mắc bệnh ĐTĐ [95].
Theo một thông báo của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế (IDF):
- Năm 1994 cả thế giới có 110 triệu người mắc bệnh ĐTĐ.
- Năm 1995 cả thế giới có 135 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, chiếm tỷ lệ 4,0%
dân số toàn cầu.
- Năm 2000 có 151 triệu người mắc bệnh ĐTĐ.
- Dự báo năm 2010 có 221 triệu người mắc bệnh ĐTĐ.
Theo WHO, năm 2025 sẽ có từ 300 ñến 330 triệu người mắc, chiếm tỷ
lệ 5,4% dân số toàn cầu: các nước phát triển tăng 42%, các nước ñang phát
triển tăng 170%. Khu vực Tây Thái Bình Dương vào năm 2005 có 30 triệu
người mắc, dự kiến năm 2050 số người mắc sẽ là 56-60 triệu. Hiện tại khu
vực này có 12 quốc gia có tỷ lệ ĐTĐ trên 8%, ñặc biệt một số quốc ñảo tỷ lệ
này còn vượt quá 20%. Cũng theo thống kê của WHO trong năm 2000, 10
nước có số bệnh nhân ĐTĐ cao nhất thế giới là Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ,
Indonesia, Pakistan, Liên xô, Brazil, Italia, Bangladesh [95].
Ở Mỹ, theo thống kê của Trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC (Centers
for Diabetes Control and Prevention), bệnh ĐTĐ tăng 14% trong hai năm, từ
4
18,2 triệu người mắc bệnh ĐTĐ năm 2003 lên 20,8 triệu năm 2005. ĐTĐ trở
năng của nhiều cơ quan ñặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu"
[29,30].
∗
∗∗
∗ Tiêu chuẩn của WHO – 2002 [95]: Tiêu chuẩn chẩn ñoán bệnh ĐTĐ ñược
Hiệp hội ĐTĐ của Mỹ (ADA) kiến nghị năm 1997 và ñược nhóm các chuyên
gia về bệnh ĐTĐ của WHO công nhận vào năm 1998, áp dụng vào năm 1999,
gồm 3 tiêu chí:
-Có các triệu chứng của ĐTĐ (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời
ñiểm bất kỳ ≥ 11.1mmol/l (200mg/dl). Làm xét nghiệm 2 lần.
-Hoặc mức glucose huyết tương lúc ñói ≥ 7 mmol/l (≥ 126mg/dl) (xét nghiệm
ít nhất 2 lần)
-Hoặc mức glucose huyết tương ≥ 11.1mmol/l (200mg/dl) ở thời ñiểm 2 giờ
sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng ñường uống 75 gram ñường .
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh.
Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2 chủ yếu là kháng insulin và rối loạn
bài tiết insulin. Cả hai quá trình này tương trợ nhau dẫn ñến suy kiệt tế bào bêta
[70,80,83,94].
Thông thường ở người trưởng thành, tế bào bêta chiếm khoảng 1% khối
lượng cơ thể. Các nghiên cứu giải phẫu bệnh thấy rằng ở bệnh nhân ĐTĐ type
2, khối lượng ñảo tụy chỉ còn 50% so với người bình thường. Tuy nhiên các
nghiên cứu cũng thấy có các ñảo tụy mới hình thành trong các ống tụy từ
những tế bào trưởng thành hoặc từ những tế bào khác là tiền thân của tế bào
beta, có lẽ ñây cũng là nguyên nhân làm tăng insulin máu ở bệnh nhân ĐTĐ
type 2.
Kháng insulin ñã và có thể ñã có sự suy giảm khả năng bài tiết insulin
ngay từ những giai ñoạn sớm là ñặc ñiểm của ĐTĐ type 2. Ở giai ñoạn sớm
thường có nồng ñộ insulin máu tăng hoặc bình thường, giai ñoạn sau, khi
nồng ñộ glucose máu lớn hơn 13,8 mmol/l, các rối loạn chức năng bài tiết
- Giảm hoạt ñộng thể lực và chế ñộ ăn giàu năng lượng.
7
- Tuổi > 40.
- Người có BMI ≥ 23 kg/m
2
, vòng eo ≥ 90cm (nam) và ≥ 80cm (nữ).
- Có người thân thuộc thế hệ cận kề (bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột) ñã mắc
bệnh ĐTĐ.
- Phụ nữ có tiền sử sản khoa ñặc biệt: Thai chết lưu, ĐTĐ thai kỳ, sinh con to
≥ 4000 gram hoặc < 2500 gram.
- Tăng huyết áp vô căn (Huyết áp ≥ 140/90 mmHg).
- Người có tiền sử rối loạn dung nạp glucose hoặc tăng ñường máu lúc ñói.
- Rối loạn lipid máu.
- Người có bệnh mạch vành hoặc ñột quỵ.
1.2. Đại cương về kháng insulin.
1.2.1. Khái niệm
Kháng insulin là thuật ngữ ñầu tiên dùng ñể chỉ những bệnh nhân ĐTĐ
type 1 khi ñiều trị phải dùng hơn 200 ñơn vị insulin/ngày mới kiểm soát ñược
glucose máu. Tình trạng này chủ yếu do sự xuất hiện các kháng thể kháng lại
insulin. Do vậy kháng insulin ñược ñịnh nghĩa là: “Đáp ứng sinh học dưới
mức bình thường ñối với nồng ñộ insulin ñã dùng ñiều trị”.
Ngày nay thuật ngữ kháng insulin dùng ñể chỉ tình trạng kháng insulin
ở bệnh nhân ĐTĐ, tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu…và ñặc biệt hay
ñược dùng trong HCCH. Insulin là hormone do tế bào beta tụy tiết ra, có tác
dụng chuyển hóa glucose, nhờ có insulin, glucose ñược vận chuyển vào trong
tế bào. Trong tế bào glucose ñược chuyển thành năng lượng ñể sử dụng hoặc
ñược tích lũy dưới dạng glycogen ở mô cơ, mô mỡ và ở gan. Kháng insulin
ñược hoạt hóa khi insulin gắn vào tiểu ñơn vị a, nó tự phosphoryl hóa và kéo
9
theo một loạt các tác ñộng của insulin trong tế bào[35]. Nồng ñộ insulin, tình
trạng bệnh lý và nhiều loại thuốc có ảnh hưởng ñiều hòa mật ñộ và tính nhạy
cảm của các receptor insulin.
Các cơ chế sinh bệnh của hội chứng kháng insulin bao gồm yếu tố di
truyền hoặc thay ñổi ñặc tính nguyên phát của các tế bào ñích, tự kháng thể
kháng insulin, tăng phân hủy insulin [5]. Béo phì là nguyên nhân chính của
kháng insulin, có tình trạng giảm số lượng receptor và giảm hoạt tính của hậu
receptor với tyrosinkinase [3]. Mặc dù tình trạng béo phì, ngộ ñộc mỡ và
kháng insulin có liên quan mật thiết với nhau nhưng không phải luôn ñồng
hành cùng nhau, mỗi rối loạn có những tác ñộng giống và khác nhau, làm
tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Kháng insulin là cơ chế gây bệnh chính của
HCCH bao gồm một hoặc tất cả các bệnh lý sau:
Tăng insulin máu
ĐTĐ type 2 hoặc rối loạn ñường máu
Béo trung tâm
Rối loạn lipid máu bao gồm cả tăng TG máu
Giảm HDL –C và các tiểu phân tử nhỏ, ñặc LDL
Tăng ñông biểu hiện bằng tăng nồng ñộ chất ức chế hoạt tính plasminogen
1(PAI-1)
Omentin, một chất mới phát hiện do tế bào mỡ nội tạng tiết ra chứ
không do các tế bào mỡ dưới da tiết, làm tăng tính nhạy cảm của insulin ở mô
mỡ. Nồng ñộ omentin-1 trong huyết thanh, dạng lưu hành chính trong máu,
liên quan tỉ lệ nghịch với BMI, vòng bụng, nồng ñộ leptin và hội chứng kháng
10
androgen, thay ñổi chính trong hội chứng buồng trứng ña nang. Các biểu hiện
khác nhau của hội chứng kháng insulin hoặc các tình trạng liên quan biểu hiện
ở nhiều tạng khác nhau bao gồm cả da. Hai thể chính của sự bất thường
receptor insulin có liên quan với chứng dày sừng gai ñen ñã ñược mô tả: type
A cổ ñiển của hội chứng kháng insulin là do mất hoặc thay ñổi chức năng
receptor, và type B của hội chứng kháng insulin là do có các tự kháng thể
kháng insulin. Cả 2 thể ñều có tăng insulin máu [28]. Hạ ñường máu vẫn có
thể xảy ra ở những người có hội chứng kháng insulin do tác ñộng hiệp ñồng
của tự kháng thể kháng insulin tại các receptor của insulin. Ở một số bệnh
nhân có kháng thể kháng ñiểm bám dính của insulin, hạ ñường huyết có thể
xảy ra khi insulin tách khỏi phức hợp với kháng thể vài giờ sau bữa ăn [40].
Gan là cơ quan sản xuất glucose ñể ñáp ứng nhu cầu hoạt ñộng của cơ
thể, ñặc biệt là não ở giữa các bữa ăn. Sau khi ăn nồng ñộ glucose máu tăng,
insulin ñược tiết ra sẽ ức chế sản xuất glucose từ gan. Nếu không có cơ chế
này, sau khi ăn nồng ñộ glucose máu sẽ tăng rất cao vì một phần do hấp thu
glucose từ thức ăn vào, một phần gan vẫn tiếp tục thủy phân glucose từ nguồn
glycogen dự trữ [67]. Do gan tăng sản xuất glucose, ñặc biệt cao vào ban ñêm
nên khi ngủ nồng ñộ insulin ở mức thấp nhất. Vì vậy ở những bệnh nhân ĐTĐ
type 2 nặng, khi không còn ñáp ứng với các loại thuốc hạ glucose máu bằng
ñường uống và ñiều chỉnh bằng tiết chế chế ñộ ăn, người ta có thể tiêm insulin
trước khi ñi ngủ ñể ức chế sự sản xuất glucose từ gan và ngăn không cho tăng
glucose vào buổi sáng [68].
Kháng insuline ở gan.
-Tăng glucagon dẫn ñến tăng tạo glucose từ glycogen.
-Tăng hoạt tính enzyme phosphoenol – pyruvat – carboxykinase tăng tạo
ñường ở gan.
-Giảm số lượng receptor ở các tổ chức phụ thuộc insulin
12
khi nồng ñộ glucose trong máu tương ñối thấp. Glut1 là thành phần quan
13
trọng của hàng rào máu não giúp chuyên chở glucose vào hệ thần kinh trung
ương.
-Glut2 có trong gan, tế bào beta tụy, bề mặt thanh mạc của ruột và thận, có ái
lực thấp với glucose, thường có tác dụng sau ăn, khi nồng ñộ glucose máu
tăng cao. Đây là chất chuyên chở chính của glucose ở tế bào beta tụy và gan,
do ñó glucose chỉ ñi vào các tế bào này khi nồng ñộ tăng cao trong máu. Điều
này sẽ tránh cho gan không thu nạp glucose và tế bào beta tụy không tiết
insulin khi ñói hoặc khi nồng ñộ glucose ở mức cơ bản.
-Glut3 có ở neuron não, các mô có ái lực cao với glucose, có nhiệm vụ
chuyên chở glucose từ dịch não tủy vào neuron.
-Glut4 có ở tế bào cơ, mỡ, có ái lực trung bình với glucose, cho phép glucose
ñược thu nạp vào các tế bào cơ và mỡ sau ăn.
-Glut5 có ở hỗng tràng, gan, tinh trùng có ái lực trung bình với glucose, tác
dụng sinh học chủ yếu là chuyên chở fructose. .
Sự tổng hợp Glut4 và ái lực của Glut4 với glucose phụ thuộc vào
insulin. Trong trường hợp kháng insulin, Glut4 kém ñáp ứng với insulin, làm
cho màng tế bào ít thẩm thấu với glucose và glucose ñược vận chuyển vào tế
bào kém ñi, làm tăng lượng glucose trong máu [79].
Cơ chế tác dụng chính của insulin là gắn vào các thụ thể ñặc hiệu của
insulin trên màng tế bào. Khi insulin gắn vào tiểu thụ thể anpha ở ngoài màng
tế bào, các chất vận chuyển glucose (Glut) ñược hoạt hoá và glucose sẽ ñược
chuyển hoá qua trung gian một chuỗi enzyme ñược kiểm soát bởi insulin.
Enzym ñóng vai trò chính trong chuỗi ñó là enzyme glycogen synthenase (ñó
là enzyme chính trong quá trình tổng hợp glycogen) và pyruvate
dehydrogenase (enzyme chính trong quá trình ôxy hoá glucose)[75].
Trong các nghiên cứu người ta thấy rằng ở những bệnh nhân tăng
- Tiền receptor
15
+ Bất thường insulin (ñột biến)
+ Kháng thể kháng insulin
- Tại receptor
+ Giảm số lượng receptor (chủ yếu là giảm hoạt tính của tyrosin kinase)
+ Giảm các ñiểm bám của insulin
+ Đột biến cấu trúc receptor insulin
+ Kháng thể kháng receptor insulin
- Hậu receptor
+ Giảm, mất tín hiệu dẫn truyền
+ Đột biến Glut4 (ñột biến này có thể dẫn tới tình trạng kháng insulin,
nhưng các kiểu hình khác nhau trên gen Glut4 rất hiếm gặp).
- Phối hợp các rối loạn: thường gặp nguyên nhân này. Béo phì cộng với bất
thường hậu receptor và thường kèm theo giảm số lượng receptor insulin. Béo
phì là nguyên nhân chủ yếu của kháng insulin.
- Tuổi: lớn tuổi dẫn tới kháng insulin do giảm sản xuất Glut4.
- Tăng các sản phẩm ức chế insulin: một loạt các bệnh dẫn tới tăng sản xuất
các chất ức chế tác dụng của insulin như hội chứng Cushing, to viễn cực, các
tình trạng stress như chấn thương, phẫu thuật, ñái tháo ñường, nhiễm toan
ceton, nhiễm khuẩn nặng, tăng ure máu và xơ gan.
- Các thuốc liên quan ñến hội chứng kháng insulin: glucocorticoid (hội
chứng Cushing), cyclosporine, niacin và các ức chế proteas.
- Virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV): ức chế proteas, liên quan tới rối
loạn mỡ, ức chế hoạt tính nhân tế bào gây ra tình trạng kháng insulin.
- Điều trị bằng insulin.
1.2.4. Các yếu tố nguy cơ liên quan.
1.2.4.1. Rối loạn lipid máu.
HDL-C. Gắn HDL-C vào các vị trí gắn bề mặt của tế bào làm khởi phát sự
chuyển vị của cholesterol từ kho nội bào ra bề mặt tế bào, mà từ ñó nó có thể bị
loại bỏ bởi các receptor, nhiều khi là chính các HDL-C. Các vị trí gắn HDL-C
17
trên bề mặt tế bào tăng lên nhằm ñáp ứng với sự tích tụ của cholesterol, tạo ra
một cơ chế thuận lợi cho tế bào loại bỏ cholesterol dư thừa từ các tế bào của
thành ñộng mạch. Đây còn ñược xem là cơ chế bảo vệ thành mạch của HDL-C
[20]. Khi giảm HDL-C làm mất cân bằng quá trình thu nhận và loại bỏ
cholesterol gây tích lũy cholesterol máu và là yếu tố nguy cơ ñộc lập với bệnh
lý mạch vành, ngay cả khi LDL-C thấp. Sự giảm HDL-C là do sự giảm của
nhân lipoproteincholesteryleste làm thay ñổi chuyển hóa và tổng hợp HDL-C.
Tình trạng kháng insulin làm thay ñổi hoạt tính của men Lipase nội bào và
men Lipoprotein Lipase do ñó có phần nào liên quan ñến sự tăng triglycerid
và giảm HDL-cholesterol trên bệnh nhân ĐTĐ type 2.
Robert Ferrado và cộng sự (1989) trong một nghiên cứu về rối loạn bài
tiết insulin và tình trạng kháng insulin ở người trên 40 tuổi cho thấy: Rối loạn
bài tiết insulin của tế bào beta tụy và kháng insulin có liên quan chặt chẽ với
tình trạng béo và rối loạn lipid máu.
1.2.4.2.Thừa cân, béo phì và béo bụng.
Hiện nay tỷ lệ béo phì ngày càng gia tăng trên toàn thế giới, ñi ñôi với
béo phì là vòng bụng tăng lên và ñiều ñó ñược coi là nhân tố quan trọng trong
chẩn ñoán ĐTĐ type 2 [2,59].
Các mô mỡ dư thừa là nguồn phóng thích vào tuần hoàn các acid béo
không este hóa, các cytokine, và adiponectin. Các yếu tố này làm tăng sự ñề
kháng insulin, tăng tạo khả năng gây viêm của nội mô mạch máu, tạo thuận
lợi cho mảng xơ vữa hình thành và phát triển [59]. Kháng insulin là biểu hiện
sớm của ĐTĐ. Béo phì và kháng insulin có liên quan chặt chẽ với nhau.
của những chất ñồng vận adrenergic sản xuất prostacyclin của mô mỡ do ñó
có thể gây nên sự gia tăng sức cản mạch máu ngoại biên và tăng huyết áp.
Insulin làm biến ñổi sự ñiều hòa các cation nội bào bằng cách giảm hoạt ñộng
của enzyme Na
+
/K
+
-ATPase và gia tăng bơm Na
+
/H
+
của tế bào cơ trơn mạch
19
máu làm chúng nhạy cảm hơn với catecholamine và angiotensin II và sau
cùng làm tăng sức cản ngoại biên gây tăng huyết áp [14].
Ngoài ra kháng insulin tác ñộng một phần tới tỷ lệ tăng huyết áp trong
ĐTĐ type 2 do ảnh hưởng gia tăng tới sự tái hấp thụ muối của thận [14,48].
1.2.5. Triệu chứng.
Biểu hiện của kháng insulin phụ thuộc vào type và giai ñoạn [2]. Hầu
hết các bệnh nhân ñều có một hoặc nhiều biểu hiện, trong ñó có nhiều người
không tiến triển thành ĐTĐ mặc dù họ bị kháng insulin rất nặng, có những
bệnh nhân có tăng ñường máu nhiều ñòi hỏi phải dùng một lượng lớn insulin
(>200 ñơn vị), có bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng kinh ñiển của ĐTĐ như
tiểu nhiều, khát nhiều, ăn nhiều, gày nhiều. Hội chứng kháng insulin thực sự
ñã tạo ra một thể lâm sàng rộng lớn bao gồm béo phì, rối loạn dung nạp
glucose, ĐTĐ, HCCH và tình trạng kháng insulin. Những rối loạn này có liên
quan chặt với các bệnh lý nội tiết, chuyển hóa và gen. Hội chứng này có thể
liên quan tới các bệnh miễn dịch và thể hiện bằng các kiểu hình ñặc biệt.
và chỉ số khối cơ thể (BMI) có thể chỉ ñiểm hội chứng kháng insulin. Nhận
ñịnh này ñược khẳng ñịnh trong một nghiên cứu 625 trẻ, trong ñó có 91 cháu
thừa cân và 96 cháu khác béo phì. Nghiên cứu mối liên quan giữa kháng
insulin và các thông số: vòng bụng, BMI, vòng bụng/chiều cao, cân
nặng/chiều cao ngồi và vòng bụng/chiều cao ngồi. Kết quả cho thấy vòng
bụng và BMI là những chỉ số liên quan chặt chẽ với tình trạng kháng insulin.
Béo trung tâm, chứ không phải phân bố mỡ ở ngoại vi, là một chỉ ñiểm tin
cậy của hội chứng kháng insulin.
- Hệ tim mạch:
+ Các dấu hiệu của bệnh tim.
+ Bệnh mạch ngoại vi: các bất thường về mạch và thành ñộng mạch.
+ Các vết mỡ, u mỡ, u vàng trên da: biểu hiện có RLLPM.
21
+ Vòng vàng quang mống mắt: ngưng tập của cholesterol và
phospholipid.
+ U vàng.
+ Nhuộm vàng ñộng mạch võng mạc: mạch có màu sữa, vàng sánh
thường thấy trong giai ñoạn cấp của ĐTĐ không ñược kiểm soát.
+ Các ụ xanthome trên gân: thường thấy ở gân gót và gân tứ ñầu ñùi.
- Hội chứng type A:
+ Người bệnh thường cao và có các ñặc tính sinh dục của nam, các bất
thường của bộ máy sinh dục nữ do cường androgen (như PCOS).
+ Bệnh nhân có thể có một cơ thể gày hoặc cơ bắp.
+ To ñầu chi, một thể của bệnh giả to viễn cực (hiếm gặp).
- Chứng dày lớp gai ñen
+ Thường gặp ở các bệnh nhân hội chứng type A, gây ra các vết mỏng,
màu nâu, thường gặp ở các nếp gấp, ñặc biệt là nách và cổ.Tổn thương
hình thành do tác ñộng của nồng ñộ cao insulin trong máu tại các
- Đo lượng phóng xạ miễn dịch học
- Kỹ thuật miễn dịch ñiện hóa phát quang (ECLIA-Electro Chemi Lumi-
nessance Immuno Assay).
- Kỹ thuật miễn dịch enzym với những kháng thể ñơn dòng kháng
insulin.
• Định lượng Insulin máu qua nghiệm pháp dung nạp glucose ñường
uống.
Nghiệm pháp ñược thực hiện như sau: Định lượng nồng ñộ glucose và
insulin lúc ñói (G0, I0), sau ñó cho uống 75g glucose. Sau 30 phút và 120
phút, lấy lại máu ñể ñịnh lượng nồng ñộ glucose và insulin (G30, I30, G120,
I120). Các chỉ số glucose, insulin máu, tỷ số của chúng và diện tích dưới
ñường biểu diễn ở các thời ñiểm của nghiệm pháp ñược sử dụng ñể ñánh giá
tình trạng kháng insulin.
23
1.2.6.2. Các phương pháp ngoại sinh.
Đây là phương pháp ñánh giá ñáp ứng glucose máu ñối với một lượng
insulin nhất ñịnh ñược ñưa từ ngoài vào cơ thể. Sau ñây là một số phương
pháp hay sử dụng.
*Kỹ thuật kẹp bình ñường tăng insulin máu (BĐTIM).
Phương pháp này ñược coi là chính xác nhất, là “tiêu chuẩn vàng”.
Nồng ñộ glucose ñược kẹp chặt hay cố ñịnh ở một mức nhất ñịnh trong khi
ñánh giá sự tiết của insulin hoặc cố ñịnh nồng ñộ insulin trong khi ño hoạt
tính của nó. Kỹ thuật “kẹp glucose” ñược thực hiện như sau:
Tiêm insulin vào tĩnh mạch ñể nâng cao nồng ñộ insulin lúc ñói, sau ñó
truyền tĩnh mạch liên tục ñể duy trì nồng ñộ insulin vào khoảng 100 µU/ml.
Trong khi ñó bệnh nhân ñồng thời ñược truyền glucose tĩnh mạch ñể ngăn
không cho giảm glucose máu và “kẹp” hay duy trì nồng ñộ glucose 90mg/dl
(5,0 mmol/L). Ở tình trạng này lượng glucose truyền vào tương ứng với sự
o
(mmol/L)
HOMA IR =
22,5
HOMA-IR: Homeostasis Model Assessment Insulin Resistance-Chỉ số kháng
insulin theo phương pháp ñánh giá ổn ñịnh nội môi.
I
0
: nồng ñộ insulin lúc ñói tính bằng µU/ml.
G
0
: nồng ñộ glucose lúc ñói tính bằng mmol/L.
Phương pháp này phản ánh sự nhạy cảm isulin ở tình trạng cơ bản thật
sự trong khi các phương pháp khác phải tiêm hay truyền glucose (hoặc
insulin). Được coi là kháng insulin khi chỉ số HOMA-IR lớn hơn tứ phân vị
trên của nhóm chứng như Tổ chức Y tế thế giới ñã quy ước năm 1998 [39,72].
Chỉ số HOMA ñánh giá chức năng tế bào bêta (%B), ñộ nhạy insulin
(%S) và kháng insulin (IR) ở trạng thái ổn ñịnh bằng cách so sánh với phân vị
nhóm chứng. Các chỉ số này tuơng ñương, tuy không hoàn toàn bằng các chỉ
số ước tính chức năng tế bào beta và ñộ nhạy insulin trạng thái không ổn ñịnh
25
bằng phương pháp ngoại sinh (có kích thích) như phương pháp “kẹp glucose”,
dung nạp glucose ñường tĩnh mạch hay ñường uống.
Năm 1976, R.Turner và R.Holman phát triển khái niệm mức ñộ glucose
và insulin huyết tương lúc ñói ñược quyết ñịnh một phần bởi “vòng phản
ứng” của tế bào beta. Họ xác ñịnh nồng ñộ glucose lúc ñói phản ánh một cơ
chế bù ñắp ñể duy trì nồng ñộ insulin lúc ñói khi có sự suy giảm bài tiết
insulin và nồng ñộ insulin lúc ñói ñược tăng lên tỷ lệ thuận với sự suy giảm