nghiên cứu một số tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
==========
NGUYỄN HƯƠNG THANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TỔN THƯƠNG MẮT Ở
BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐIỀU TRỊ TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG
THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Nội Khoa
Mã số: 60.72.20
học được tiến hành qui mô lớn ở bốn thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng
và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ đái tháo đường là 4% [4], [6].
Đái tháo đường là một bệnh tiến triển âm thầm, khi phát hiện đã có nhiều
biến chứng như: biến chứng tim mạch, thần kinh, thận, mắt, trong đó biến
chứng mắt là biến chứng rất hay gặp và thường dẫn tới mù lòa gây hậu quả
nặng nề [12], [25], [23]. Trong thực tế, hầu hết các nhà lâm sàng thường quan
tâm nhiều đến đánh giá kết quả điều trị, kiểm soát đường huyết và các biến
chứng về tim mạch mà ít quan tâm tới tổn thương mắt ở bệnh nhân đái tháo
đường. Nhưng tại thời điểm chẩn đoán lâm sàng, người bệnh đái tháo đường
đã có biến chứng trong đó bệnh võng mạc có tới 35%, bệnh thần kinh ngoại
biên 12%, protein niệu 2,1% [6]. Với các tổn thương tại mắt ở bệnh nhân đái
tháo đường, hậu quả là không ít bệnh nhân bệnh tiến triển âm thầm, nặng nề,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng
dẫn tới tàn tật mù lòa, mất khả năng lao động, làm tăng gánh nặng cho gia
đình và cộng đồng. Các tác giả đều thống nhất cho rằng tỉ lệ bệnh mắt liên
quan tới bệnh đái tháo đường có thể được xem như là một chỉ số sớm cho các
cải thiện về chăm sóc ban đầu cho bệnh đái tháo đường [31], [33].
Các biến chứng mắt trên bệnh nhân đái tháo đường rất thường gặp: Ở
Mỹ đái tháo đường là nguyên nhân đầu tiên gây giảm thị lực và dẫn đến mù
lòa [4], [9]. Bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ mù lòa tăng gấp
20 - 30 lần so với những người cùng tuổi cùng giới. Theo nghiên cứu của
Wisconsin tỉ lệ mắc mới hàng năm của mù lòa do đái tháo đường là
3.3/100.000 dân [6].
Tại Việt Nam, cho tới nay cũng đã có một số các tác giả đã nghiên cứu
về biến chứng mắt ở bệnh nhân đái tháo đường và cho các tỉ lệ mắc bệnh khác
nhau như: tại Hà Nội: 17,04%, tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí

châu Phi nơi đang có sự tăng trưởng mạnh về kinh tế. Tại châu Á năm 1995
có 62,5 triệu người đái tháo đường, dự kiến năm 2010 sẽ có 221 triệu người
đái tháo đường. Trên thế giới, dự báo năm 2025 sẽ có khoảng 300 - 330 triệu
người mắc căn bệnh này (WHO) [4], [48].
Bệnh ĐTĐ có liên quan đến các yếu tố giống nòi, dân tộc và khu vực địa
lý. Tỉ lệ ĐTĐ cao nhất ở người châu Mỹ và các đảo Thái Bình Dương, tiếp
theo là người Mỹ gốc Mêhicô, người Mỹ gốc Ấn Độ và người Đông Nam Á,
người Mỹ gốc Phi [54]. Nhiều nghiên cứu dịch tễ đã dự báo ở các quốc gia
đang phát triển, tỉ lệ bệnh tăng gấp 1,5 lần vào những năm 2000 và sẽ tăng
gấp 3 lần vào khoảng năm 2025. Tỉ lệ bệnh ĐTĐ tăng nhanh ở các quốc gia
có nền kinh tế đang phát triển là do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống,
về thói quen ăn uống nhất là lối sống ít hoạt động thể lực. Ở các nước phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
triển bệnh ĐTĐ chiếm tỉ lệ trung bình 6,2% (năm 2003), dự báo tỉ lệ này sẽ là
7,6% (năm 2025) [4], [5], [9].
Thông thường ĐTĐ được chia ra hai “kiểu bệnh lý” phụ thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế [6]:
- Ở các nước đang phát triển, ĐTĐ thể thừa cân và béo phì thường thấy ở
lớp người có thu nhập cao, lao động nhẹ nhàng, tĩnh tại.
- Ở các nước phát triển, ĐTĐ thể thừa cân và béo phì lại thấy ở tầng lớp
dân nghèo, ít học, không có ý thức và kiến thức phòng bệnh.
Đặc điểm này được phản ánh khá rõ trong các điều tra dịch tễ về bệnh
ĐTĐ ở Việt Nam. Nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương ở khu vực
Hà Nội năm 2002 tỉ lệ người mắc bệnh ĐTĐ thuộc nhóm lao động nhẹ hoặc
không lao động khá cao: 12,0%, nhóm lao động vừa và thấp 3,89% [4], [5].
Điều này nói lên vai trò của hoạt động thể lực. Song nhóm người lao động trí
óc tỉ lệ mắc bệnh là 3,9% mặc dù lao động của họ là tĩnh tại. Rõ ràng trình độ

sinh con to ≥ 4 kg) [4], [6], [44].
1.2. Phân loại đái tháo đƣờng
Đái tháo đường được chia làm 2 loại [25]:
- Đái tháo đường týp 1:
Thường gặp ở người trẻ tuổi (<35 tuổi), thể trạng gày, triệu chứng xuất
hiện rầm rộ (ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều và gày sút nhanh) khiến bệnh
nhân được chẩn đoán rất kịp thời. Tuy nhiên, biến chứng ở võng mạc thường
nặng hơn đái tháo đường týp 2 dù cho bệnh nhân có chế độ điều chỉnh đường
huyết tốt.
- Đái tháo đường týp 2:
Thường xuất hiện ở người từ sau tuổi 40 đến tuổi 70, thể trạng béo
(Chiếm 85% số người mắc bệnh ĐTĐ). Người bị đái tháo đường týp2 các
triệu chứng khởi phát lại biểu hiện âm thầm, đa số người bệnh được phát hiện
một cách rất tình cờ. Có rất nhiều bệnh nhân đái tháo đường týp2 khi chẩn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
đoán ra thì tổn thương mắt đã ở giai đoạn gần mù. Có những người tình cờ
phát hiện ra đái tháo đường khi đi khám mắt [19], [51].
1.3. Các biến chứng của bệnh đái tháo đƣờng
Biến chứng của bệnh ĐTĐ thường được chia ra theo thời gian xuất hiện và
mức độ của các biến chứng. Các biến chứng của bệnh đái ĐTĐ thường là hậu quả
của chẩn đoán muộn, điều trị không thích hợp, hoặc do nhiễm khuẩn cấp tính.
Biến chứng vi mạch liên quan đến mạch máu nhỏ (võng mạc, thần kinh,
thận); biến chứng mạch máu lớn (tim, não, mạch máu ngoại vi), thậm chí các
biến chứng này có ngay tại thời điểm được phát hiện, nhất là ở người bệnh
ĐTĐ [18]. Đây là nguyên nhân không chỉ làm tăng gánh nặng kinh tế của mỗi
cá nhân, mỗi cộng đồng, mà còn là lý do chủ yếu làm suy giảm chất lượng
cuộc sống của người mắc bệnh ĐTĐ.

1.3.1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý mắt
1.3.1.1. Đặc điểm giải phẫu mắt
Nhãn cầu được chia thành hai phần [7], [26]:
- Phần trước nhãn cầu gồm: Giác mạc, mống mắt, góc mống - giác mạc,
thể mi và thể thủy tinh.
- Phần sau nhãn cầu gồm: Củng mạc, VM và dịch kính. Màng bồ đào là
một màng liên kết lỏng lẻo chứa nhiều mạch máu và tế bào sắc tố đen. Màng
này gồm có ba phần: Mống mắt, thể mi, hắc mạc.
+ Mống mắt hình tròn có lỗ thủng ở giữa tròn như lỗ đồng xu gọi là đồng
tử. Mống mắt nằm sau giác mạc, phía trước thủy tinh thể ngăn cách ra tiền
phòng và hậu phòng.
+ Thể mi bắt đầu từ chân mống mắt tới hắc mạc ở phía sau. Thể mi có
chức năng tham gia điều tiết để nhìn rõ vật ở gần và tiết ra thủy dịch.
+ Hắc mạc: Tiếp theo thể mi, mặt ngoài tiếp giáp với củng mạc, phía
trong tiếp giáp VM, phía sau kết thúc ở gai thị. Hắc mạc là một màng liên kết
lỏng lẻo có chứa nhiều mạch máu và tế bào sắc tố đen. Nhiệm vụ của hắc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
mạc: Nuôi dưỡng nhãn cầu và tạo cho nhãn cầu thành một buồng tối để ảnh
của vật được in rõ trên VM.
Thủy tinh thể là một thấu kính trong suốt, hai mặt lồi không có mạch
máu, nằm dọc sau mống mắt. Nó là lưỡng chiết quang học. Đặc điểm chủ yếu
của thủy tinh thể là có thể thay đổi bán kính độ cong khi điều tiết, nhờ đó mà
có thể hội tụ ánh sáng trên VM.
Dịch kính: Khoang dịch kính được giới hạn ở phía trước bởi thủy tinh
thể và các dây chằng Zinn, ở phía sau là VM và gai thị. Giữa dịch kích và VM
có những chỗ dính chặt quanh gai thị và vùng hoàng điểm.


lớp tế bào ở bên ngoài và một lớp nội mô bên trong xếp khít nhau. Những tế
bào nội mô không có lỗ hở, nối với nhau rất khít, tạo nên hàng rào máu VM
trong. Mạng lưới mao mạch có một sự phân bố đặc biệt:
+ Ở hoàng điểm: Có một vùng vô mạch ở trung tâm với đường kính
khoảng 0,5 mm bao quanh vùng này hệ mao mạch VM nối tiếp nhau như
những vòng quai, là nơi dày nhất của VM.
+ Vùng VM ngoại vi: Động mạch tận cùng bằng những vòng cung mà
những vòng cung này cho rất ít nhánh nên sự nuôi dưỡng rất nghèo nàn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
+ Vùng đĩa thị: VM quanh đĩa thị có một mạng mao mạch phụ nằm
trong lớp sợi thần kinh đi về phía thái dương trên và dưới.
1.3.2. Cơ chế bệnh sinh của tổn thương mắt do đái tháo đường
1.3.2.1. Cơ chế đục thủy tinh thể do đái tháo đường
Sinh bệnh học của đục thủy tinh thể do đái tháo đường ở người cho đến
nay vẫn chưa thực sự sáng tỏ. Đã có một vài nghiên cứu lý thuyết về vai trò
của đái tháo đường trong việc gây ra đục thủy tinh thể. Theo Duke – Elder
đục thủy tinh thể trong bệnh đái tháo đường là do giảm nồng độ Plasma trong
thủy tinh, nồng độ Plasma thấp trong thủy dịch liên quan đến thủy tinh thể và
dẫn đến thủy tinh thể ngấm nước, cuối cùng làm đục thủy tinh thể [52].
Hiện nay, nhiều xu hướng nghiêng về giả thuyết cho rằng bệnh ĐTĐ có
ảnh hưởng tới độ trong suốt, chiết xuất và biên độ điều tiết của thủy tinh thể.
Do glucose máu tăng sẽ khuyếch tán vào thủy tinh thể và glucose tăng trong
thể dịch. Một phần glucose được men Aldose Reductase chuyển thành
Sorbitol, chất này không được chuyển hoá mà tích tụ tại thủy tinh thể, ngấm
vào các sợi thủy tinh thể gây xơ hóa và tạo thành đục thủy tinh thể. Đồng thời
tình trạng Hydrat hoá có thể ảnh hưởng đến chiết xuất khúc xạ của thủy tinh
thể. Những biến đổi khúc xạ thường là cận hoặc viễn. Bệnh nhân ĐTĐ sẽ xuất

muộn tuổi 30 - 54 so với 12% những người đối chứng ghép cặp theo tuổi. Về
mặt chuyển hoá, sự tích tụ Sorbitol trong thủy tinh thể kèm theo những biến
đổi Hydrat hoá sau đó và sự tăng glucosyl hoá protein trong thủy tinh thể của
bệnh nhân ĐTĐ có thể góp phần thúc đẩy hình thành đục thủy tinh thể do tuổi
già ở những bệnh nhân ĐTĐ.
Hiện tại không thể phân biệt được đục thủy tinh thể do ĐTĐ với đục
thủy tinh thể tuổi già của nguời không mắc ĐTĐ.
+ Đục thủy tinh thể biến chứng, hay đục thủy tinh thể kết hợp với bệnh
mắt khác như: Viêm mống mắt thể mi, viêm màng mạch VM, cận thị nặng
hoặc bong VM. Tỉ lệ này không khác biệt có ý nghĩa so với ở nhóm người
không mắc bệnh ĐTĐ.
1.3.2.2. Cơ chế bệnh sinh bệnh võng mạc đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ là bệnh của hệ thống vi mạch VM (cả mao động mạch lẫn
mao tĩnh mạch). Đặc trưng của các cơ chế tổn thương trong bệnh võng mạc
ĐTĐ là những vi tắc mạch và tăng tính thấm của thành mao mạch.
Ở người ĐTĐ có hai rối loạn riêng biệt đều có liên quan đến mức
glucose máu cao. Khi glucose máu tăng trong tế bào, chuyển hoá glucose sẽ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
theo con đường hình thành những rượu có nhiều nhóm OH làm tích tụ
Sorbitol (là một loại rượu của glucose) trong tế bào, làm mất khả năng chuyển
hoá của tế bào, làm tăng khả năng khuyếch tán oxy tế bào yếu đi và làm VM
thiếu oxy gây phá huỷ nội mô hệ mạch VM gây phù VM, tuy nhiên những
mạch lớn hơn trong hệ thống mạch máu của cơ thể cũng có thể bị tổn thương
gây bệnh cảnh của tắc mạch, hoại tử vùng trên cơ thể.
* Vi tắc mạch.
- Dị thường các thành phần trong lòng mạch máu.
+ Các hồng cầu: Khả năng giải phóng oxy bị giảm sút, hồng cầu bị biến

Các tổn thương võng mạc của bệnh võng mạc đái tháo đường không có
sự khác biệt nhau giữa týp 1 và týp 2 của bệnh đái tháo đường [35]. Sơ đồ: Cơ chế bệnh sinh của biến chứng vi mạch [20].
Mao Mạch
. Tăng độ dầy màng nền
. Tăng gắn Glucose
. Tăng gốc tự do
. Tổn thương nội mô

Máu
. Tăng độ nhớt
. Tăng kết dính và
ngưng tụ tiểu cầu

Huyết Động
. Tăng dòng máu

sàng thấy mạch nhỏ, màu đỏ, đường kính không đều chạy từ động mạc sang
tĩnh mạch.
- Các bất thường tĩnh mạch: tĩnh mạch giãn hình tràng hạt.
- Các bất thường động mạch: Động mạch võng mạc chu biên co nhỏ, có
hình ảnh giống như tắc nhánh động mạch võng mạc.
- Thiếu máu võng mạc chu biên.
- Xuất huyết rộng trong võng mạc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
1.3.3.3. Bệnh võng mạc tăng sinh
* Có thể gặp các tổn thương sau:
- Các tân mạch trước võng mạc
- Các tân mạch trước hoàng điểm
- Các tân mạch gai thị: các tân mạch xuất hiện trên gai thị hoặc trong
vòng một đường kính gai.
- Bong võng mạc co kéo.
- Tân mạch mống mắt.
* Bệnh VM tăng sinh do ĐTĐ nhanh chóng đe dọa đến thị lực bởi:
- Các mạch máu tân tạo luôn có nguy cơ chảy máu, đặc biệt khi chúng bị
kéo dài ra bởi sự co kéo của thủy tinh thể.
- Sự tăng sinh của các mô xơ tiếp sau khi đã có tăng sinh các mạch máu
dẫn đến hậu quả co kéo làm bong VM.
1.5. Đục thủy tinh thể và bệnh võng mạc đái tháo đƣờng theo một số
nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
1.5.1. Trên thế giới
Theo những nghiên cứu gần đây nhất của một số tác giả cho thấy tỉ lệ
đục thủy tinh thể do đái tháo đường là 5,12%, đối với những bệnh nhân bị

cao hơn đáng kể so với phụ nữ. Tỉ lệ bệnh võng mạc được cao hơn ở 2 nhóm
tuổi 50 - 59 và 60 - 69. Tỉ lệ bệnh tổn thương võng mạc nền do đái tháo
đường là 8,65%, bệnh tổn thương võng mạc tiến triển do đái tháo đường là
2,66%. Tại Pháp một nghiên cứu cho thấy khoảng 2,5 triệu người bị bệnh đái
tháo đường. Tỉ lệ bệnh hiện tại là 3%, với tốc độ tăng 4,8% trong 5 năm qua
và dự kiến tăng 50% vào năm 2025 [46].
Trong một nghiên cứu ở những người > 60 tuổi ở Los Angeles cho thấy
Người cao tuổi bị đái tháo đường có tỉ lệ cao về bệnh của mắt. Khoảng 17% -
35% người bị bệnh đái tháo đường trên 65 tuổi có bệnh tổn thương võng mạc
do đái tháo đường, và hơn 8% bị phù võng mạc trung tâm [28].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Tỉ lệ bệnh VM ĐTĐ tăng theo thời gian bị bệnh. Theo Francoise
Rousselie khi bị bệnh ĐTĐ typ2 dưới 5 năm bệnh VM là 10 - 20%, > 15 năm
bệnh VM là 40% - 60%, và 25 năm: 50% - 70%. Sau 25 năm tỉ lệ bệnh VM sẽ
tiếp tục tăng [32]. Theo Wisconsin: Để hạ glucose máu có dùng insulin, tỉ lệ
mắc bất kỳ tổn thương VM nào là 70%, những người không dùng insulin để
hạ glucose máu có tỉ lệ hiện mắc bất kỳ tổn thương VM nào là 39,0% [34].
1.5.2. Ở Việt Nam
Đục thủy tinh thể là tổn thương thường gặp trong bệnh ĐTĐ và cũng là
nguyên nhân gây giảm và mất thị lực cho bệnh nhân. Lê Huy Liệu và cộng sự
[19] thống kê trên 476 bệnh nhân ĐTĐ nằm tại khoa nội tiết từ 1984 - 1988
biến chứng mắt 33,40%, trong đó đục thủy tinh thể là 22,48%, Phạm Hồng
Hoa 1995 [14] qua 1591 bệnh nhân ĐTĐ nằm tại khoa nội tiết từ 1983 - 1984
thấy tổn thương mắt 21,10% trong đó đục thủy tinh thể là 11,7%. Thái Hồng
Quang [22] qua 120 bệnh nhân ĐTĐ tại viện 103 thấy đục thể thủy tinh
17,50% xuất hiện sớm < 5 năm. Phạm Thị Hồng Hoa [13] qua 100 bệnh nhân
ĐTĐ thấy đục thể thủy tinh 30%. Đặng Văn Hòa [17] trên 170 bệnh nhân tại

ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Gồm các bệnh nhân được chẩn đoán là ĐTĐ, vào khám, điều trị ngoại
trú và nội trú tại khoa Khám bệnh và khoa Nội tiết - Hô hấp Bệnh viện Đa
khoa Trung ương Thái Nguyên.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2009 đến tháng 6/2010.
- Địa điểm nghiên cứu: khoa Nội tiết - Hô hấp, khoa Khám bệnh, Bệnh
viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả.
2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: được tính theo công thức:
2
2
2
1
.
d
qp
Zn




Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu.

2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
2.3.3. Tiêu chuẩn chọn mẫu
Chúng tôi chọn tất cả các bệnh nhân đáp ứng với tiêu chuẩn sau:
* Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (WHO 1998):
- Dựa vào ít nhất 1 trong 2 tiêu chuẩn:
+ Glucose huyết tương bất kỳ  11,1 mmol/l ở một thời điểm bất kỳ kết hợp
với các triệu chứng lâm sàng (đái nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, gầy sút cân).
+ Glucose huyết tương lúc đói  7 mmol/l (sau 8h không ăn).
Chẩn đoán chắc chắn khi kết quả được lặp lại 1 - 2 lần trong những ngày
sau đó.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ Typ2 gồm 1 trong 2 tiêu chuẩn trên và:
+ Bệnh nhân 35 - 55 tuổi.
+ Khởi phát lâm sàng từ từ, tiến triển chậm.
+ Có thể cân bằng glucose máu bằng chế độ ăn, luyện tập và dùng thuốc
sulfonylurea uống hạ glucose máu.
* Tiêu chuẩn loại trừ.
+ Các bệnh ảnh hưởng tới mắt: Cận thị, tắc tĩnh mạch, tắc động mạch
võng mạc mắt, các bệnh về máu.
+ Đục thủy tinh thể hoàn toàn
+ U não.
+ U võng mạc.
Trong nghiên cứu này chúng tôi lấy cả bệnh nhân ĐTĐ typ1 và ĐTĐ
typ2 vào trong đối tượng nghiên cứu.
2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1. Chỉ tiêu lâm sàng
- Một số thông số chung: Tuổi, giới, nơi cư trú, nghề nghiệp, tiền sử bản
thân và gia đình.
- Triệu chứng lâm sàng:

- Các dấu hiệu lâm sàng: Ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, sút cân.
- Khám lâm sàng: toàn thân, đếm mạch, đo huyết áp, khám tim, phổi
phát hiện biến chứng kèm theo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
+ Đo huyết áp bằng huyết áp kế đồng hồ chuẩn của Nhật Bản. Thời gian
đo vào buổi sáng, bệnh nhân ở tư thế nằm, đã được nghỉ ngơi 15 phút trước
khi đo, bệnh nhân không dùng chất kích thích. Huyết áp tâm thu và huyết áp
tâm trương xác định theo phương pháp Korotkoff.
Bảng 2.1. Phân loại huyết áp (Theo tiêu chuẩn của JNC VI)

- Định lượng glucose huyết tương lúc đói hoặc glucose huyết tương bất
kỳ. Glucose huyết tương bình thường 3,6 - 6,4 mmol/l.
Nồng độ glucose huyết tương được chia làm 3 nhóm:
+ Glucose huyết tương < 10 mmol/l
+ Glucose huyết tương  10 mmol/l, < 16,5 mmol/l
+ Glucose huyết tương  16,5 mmol/l
- Định lượng chỉ số lipid máu:
Bảng 2.2. Tiêu chuẩn phân loại rối loạn lipid máu theo khuyến cáo Hội
Tim mạch học Việt Nam [6].
Huyết áp
Huyết áp tâm thu (mmHg)
Huyết áp tâm trƣơng (mmHg)
Bình thường
< 140
< 90
Tăng độ I
140 - 159

lượng HbA
1
C [4]

Chỉ số HbA
1
C (%)
Đánh Giá
4 – 6%
Tốt
6,1 – 7,5 %
Chấp nhận được
> 7,5%
Kém

2.5.2. Khám mắt
Được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa mắt nhiều kinh nghiệm tại
phòng khám Mắt và khoa Mắt - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
* Đo thị lực bằng bảng đo thị lực chữ E, chỉ số thị lực từ 1/10 - 10/10
- Nguyên tắc:
+ Bệnh nhân ngồi cách bảng thị lực 5m.
+ Độ chiếu sáng của bảng thị lực là 100 lux.
+ Phải thử kính thị lực từng mắt một, khi thử mắt nọ phải bịt mắt kia.
- Thử thị lực: Giải thích cho bệnh nhân và hướng dẫn ngồi đúng tư thế,
tiến hành đo thị lực cho bệnh nhân:
+ Thử bằng bảng thị lực: Thử thị lực từng mắt một, lần lượt cho bệnh
nhân đọc từng hàng chữ từ trên xuống dưới, khi nào không đọc được nữa thì
dừng lại, ghi kết quả thị lực tương ứng với hàng trên.
+ Nếu thị lực bệnh nhân giảm đến mức không nhìn thấy chữ nào trên
bảng thị lực, cho bệnh nhân đếm ngón tay. Ghi khoảng cách bệnh nhân đếm

khám bằng mắt thường cũng thấy có một nhân đục trắng ở đồng tử.
* Khám phát hiện tổn thương viêm nhiễm giác kết mạc, tình trạng màng
bồ đào và vận động nhãn cầu.
* Khám đáy mắt
- Giải thích cho bệnh nhân, tra thuốc giãn đồng tử bằng Mydriacyl 0,5%
- Sau 30 phút đồng tử giãn tối đa tiến hành soi đáy mắt bằng đèn soi đáy
mắt cầm tay, kính Volk 90
0

- Đánh giá các tổn thương:
- Phân loại tổn thương võng mạc [37]:
+ Tổn thương cơ bản (bệnh võng mạc không tăng sinh): Các vi phình
mạch, xuất huyết, phù nề võng mạc, xuất tiết cứng.

Trích đoạn Tổn thƣơng mắt và các yếu tố liên quan Đục thủy tinh thể Tổn thương võng mạc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status