LUẬN án TIẾN sĩ QUAN hệ GIỮA học vấn và địa vị PHỤ nữ NÔNG THÔN HIỆN NAY (NGHIÊN cứu TRƯỜNG hợp TỈNH QUẢNG NGÃI) - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA

VIỆN XÃ HỘI HỌC

TRẦN THỊ KIM

QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ PHỤ NỮ
NÔNG THÔN HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH QUẢNG NGÃI)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2003


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA

VIỆN XÃ HỘI HỌC

TRẦN THỊ KIM
QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ PHỤ NỮ
NÔNG THÔN HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH QUẢNG NGÃI)

Chuyên ngành: Xã hội học


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ
PHỤ NỮ NÔNG THÔN HIỆN NAY .......................................................

1.1. Các khái niệm .................................................................................
1.1.1. Học vấn ...................................................................................
1.1.2. Địa vị ......................................................................................
1.1.3. Giới .........................................................................................
1.2. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng vào nghiên cứu .................
1.2.1. Lý thuyết cấu trúc chức năng .................................................
1.2.2. Lý thuyết phát triển nông thôn ...............................................
1.2.3. Lý thuyết giới .........................................................................
1.2.4. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh ............
1.3. Tổng quan nghiên cứu đề tài ..........................................................
1.3.1. Học vấn phụ nữ nông thôn......................................................
1.3.2. Địa vị phụ nữ nông thôn .........................................................
1.3.3. Tương quan giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn ...........
1.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................

4


Phần II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ
PHỤ NỮ NÔNG THÔN Ở QUẢNG NGÃI ............................................

2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ........................................................
2.1.1. Những thông tin cơ bản về vị trí, diện tích,

3.2.2. Chiến lược bình đẳng giới ......................................................
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .....................................................................

1. Kết luận ...............................................................................................
2. Khuyến nghị .......................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................
PHỤ LỤC ......................................................................................................

6


Phần I: MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ lâu giá trị học vấn được nhân dân ta rất coi trọng. Tuy nhiên, quyền
được học tập vẫn được giành chủ yếu cho nam giới. Trong số 1000 sinh viên
Đại học trong toàn quốc vào năm 1945 chỉ có vài người là phụ nữ. Năm 1946,
lần đầu tiên tiếp cận bình đẳng với học tập và đào tạo giữa phụ nữ và nam
giới được công bố và khẳng định trong Hiến pháp của Nhà Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
Đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay, nắm bắt được xu thế của thời
đại và để tránh được nguy cơ tụt hậu, Đảng ta đã khẳng định: Khoa học và
công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) khẳng định khoa học công
nghệ, giáo dục đào tạo là một trong ba đột phá của chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010).
Hơn một thập kỷ vừa qua, công cuộc đổi mới và chuyển đổi kinh tế ở
nông thôn Việt Nam đã tạo ra mức tăng trưởng đáng kể ở khu vực sản xuất
nông nghiệp. Trong sự đổi thay nhanh chóng đó, phụ nữ nông thôn đã đóng
góp một phần to lớn, bởi vì họ là lực lượng quan trọng trong hoạt động sản

phụ nữ đô thị thì độ chênh lệch này càng lớn hơn nhiều. Liệu nâng cao học
vấn cho phụ nữ nông thôn thì địa vị của họ có được tự động cải thiện hay
không? Mối tương quan giữa học vấn và địa vị mật thiết tới đâu?
Để đóng góp giải đáp những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài " Quan hệ
giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn hiện nay (nghiên cứu trường hợp tỉnh
Quảng Ngãi)" để khảo cứu. Sở dĩ có sự lựa chọn này là vì:

8


Sau thời gian cùng toàn quốc tiến hành công cuộc đổi mới, bộ mặt kinh
tế - xã hội Quảng Ngãi có nhiều biến chuyển tích cực, đời sống vật chất và
tinh thần được nâng cao đáng kể. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ giới, địa vị người
phụ nữ trong gia đình nói riêng và trong xã hội nói chung vẫn còn nhiều điều
cần đưọc xem xét kỹ lưỡng hơn trên quan điểm phát triển, kể cả những mặt đã
đạt được và những điểm còn tồn tại.
Đã có một số công trình nghiên cứu theo hướng đề cập tới vấn đề nâng
cao dân trí cho phụ nữ Quảng Ngãi trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, trong phạm vi đề tài này chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu độc
lập và có hệ thống dưới góc độ xã hội học về tương quan giữa học vấn và địa
vị phụ nữ nông thôn Quảng Ngãi.
2. Mục đích, nhiệm vụ
2.1. Mục đích
- Mục đích của đề tài nghiên cứu là nhằm làm rõ mức độ tương tác giữa
học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn hiện nay (trường hợp tỉnh Quảng Ngãi).
- Đưa ra khuyến nghị giải pháp nhằm tăng cường ảnh hưởng tích cực của
việc nâng cao trình độ học vấn tới việc nâng cao địa vị phụ nữ nông thôn và
ngược lại.
2.2. Nhiệm vụ
- Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn trên


10


Để phù hợp với điều kiện hạn chế về thời gian, kinh phí (kinh phí cá
nhân) nên phạm vi khảo sát được giới hạn ở ba xã đại diện của Quảng Ngãi
(chọn trên cả ba vùng sinh thái: đồng bằng, ven biển, miền núi). Đề tài chỉ tập
trung vào một số vấn đề mà chúng tôi cho là chủ yếu khi xem xét mối tương
quan giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn (cụ thể là tác động qua lại giữa
học vấn và địa vị của phụ nữ nông thôn trong gia đình, trong làng - xã). Song
chiều tác động từ học vấn tới địa vị sẽ được chú ý nhiều hơn so với chiều
ngược lại từ địa vị tới học vấn. Khoảng thời gian được nghiên cứu quan tâm
là từ khi bắt đầu quá trình đổi mới (1996) tới nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận.
Dựa vào cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ, giáo dục, đào tạo. Vận dụng một số lý
thuyết xã hội học như: Lý thuyết về cơ cấu chức năng, biến đổi xã hội, xã hội
học giáo dục, lý thuyết giới để giải thích thực trạng cũng như các biến đổi
trong quá trình tương tác giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn ở giai đoạn
hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu có sẵn liên quan đến đề tài.
- Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung với phụ nữ và cán bộ lãnh
đạo ở địa phương (dự kiến 30 cuộc phỏng vấn sâu và 9 thảo luận nhóm tập
trung).
- Phương pháp điều tra chọn mẫu: Bằng bảng hỏi, dự kiến 300 phiếu tại
ba xã đại diện.

11


vị phụ nữ thay đổi tiến bộ
ảnh hưởng
việctỉnh
nâng
cao học vấn cho phụ
Đặcsẽđiểm
lịch sử, đến
KTXH
Quảng
Ngãi.
nữ nông thôn.
6.1.2. Trong bối cảnh phát triển
kinh tế - xã hội ở nông thôn Quảng Ngãi
Biến phụ thuộc

hiện nay thì học vấn của phụTương
nữ nông
tăng lên, nhờ đó địa
quanthôn
giữa có
họcxu
vấnhướng

địaxu
vị phụ
nữ nông
vị phụ nữ nông thôn cũng có
hướng
tăngthôn.


Địa vị phụ nữ nông thôn

- Quyền ra quyết định:
+ Trong gia đình.
+ Trong làng - xã.
- Tham gia trong gia
đình, trong làng - xã

Hệ quả
- Góp phần bình
đẳng nam nữ tại
địa phương.
- Góp phần xoá
đói giảm nghèo tại
địa phương.
- Góp phần đẩy
mạnh CNH, HĐH
tại địa phương,
nhằm phát triển
bền vững.

Biến can thiệp II
Môi trường tự nhiên của vùng duyên
hải miền trung và của Quảng Ngãi.

12
Sự tác động, sự ảnh hưởng, tạo ra hệ
quả.


thôn. Giải pháp

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

1.1. Các khái niệm

14


1.1.1 Học vấn
Học vấn là những hiểu biết nhờ học tập mà có [ từ điển TV, tr. 454]. Khi
đề cập đến trình độ học vấn của cá nhân người ta muốn nói đến mức độ hiểu
biết, nội dung và tính chất của các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà một cá nhân
tiếp thu được trong quá trình tham gia vào các hoạt động, quá trình xã hội. Do
vậy có thể dựa vào cách tổ chức của xã hội đối với quá trình học tập của cá
nhân để phân biệt học vấn. Một số loại học vấn quan trọng cần tính đến là:
học vấn do tự học, học vấn do được giáo dục-đào tạo một cách chính quy,
chính thức. Trong nghiên cứu này khái niệm học vấn chủ yếu được dùng với
nghĩa là kết quả của quá trình học tập tại trường, lớp nhất định.
Vai trò của học vấn đối với con người: (1) học vấn là cơ sở và điều kiện
của năng lực hoạt động của cá nhân. Nhờ có học vấn mà cá nhân có khả năng
gia nhập, chiếm giữ các vị trí xã hội và thực hiện được các vai trò, chức năng
xã hội. (2) Học vấn là một yếu tố hình thành trong quá trình xã hội hoá và là
một bộ phận của nhân cách con người. Nhờ có quá trình xã hội hoá mà cá
nhân có học vấn, và nhân cách được hình thành, phát triển. Học tập là một bộ
phận cấu thành của quá trình xã hội hóa cá nhân với cơ chế chung là tiếp
nhận, lĩnh hội các kinh nghiệm đã được phát hiện, tích luỹ và truyền lại tức là
sự “kế thừa văn hóa”. Thông thường khi nói tới giáo dục, người ta hiểu đó là

hội, trong đó cá nhân được học hỏi và thực hành những tri thức, những kỹ
năng và những phương thức cần thiết để hội nhập với xã hội. Nhưng xã hội
hóa không phải là một quá chỉ mang tính thụ động (cá nhân chịu sự tác động
của xã hội), mà đó là quá trình hoạt động tích cực của cá nhân (2). Ngoài ra,
cá nhân có được "sự hiểu biết" thông qua nhiều con đường khác nhau: học
trong gia đình, học qua kinh nghiệm thực tế (kết quả đạt được thể hiện ở năng
lực hoạt động thực tiễn, trình độ chuyên môn tay nghề). Sự lĩnh hội của cá
nhân sẽ được vật hóa vào sản phẩm vật chất và tinh thần, ở số lượng và chất
lượng sản phẩm làm ra, ở năng suất và hiệu quả lao động. Có thể coi học vấn
và nghề nghiệp là hai loại "vốn" có thể giúp cho người lao động tự kiếm sống
trong suốt cuộc đời của họ. Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm học
vấn để chỉ trình độ kiến thức, kỹ năng kỹ xảo mà cá nhân tiếp thu được không
chỉ từ quá trình học tập trong nhà trường. Nhưng chủ yếu học vấn được đo

16


bằng chỉ báo lớp học mà cá nhân đã vượt qua, hoặc cấp học cao nhất. Học vấn
của phụ nữ được xác định trong đề tài này chủ yếu là những lớp học cao nhất
mà phụ nữ đã trải qua.
1.1.2. Địa vị xã hội (Status)
Địa vị xã hội là một khái niệm cơ bản của xã hội học. Khái niệm địa vị
xã hội được dùng để chỉ vị trí nhất định trong cấu trúc xã hội. Điều đó có
nghĩa là gắn với mỗi địa vị xã hội, con người dù là nam hay nữ sẽ có những
vai trò tương ứng. Có thể nêu ra một số quan niệm về địa vị của các nhà
nghiên cứu: “Chúng ta gọi vị trí xã hội của một cá nhân là địa vị và hành vi
mà chúng ta mong đợi người có địa vị đó gọi là vai trò của anh ta.” [ Bilton,
tr. 32]. Địa vị dùng để chỉ thứ bậc của một cá nhân được xác định bởi sự giàu
có, sự ảnh hưởng và uy tín. Các nhà xã hội học sử dụng thuật ngữ địa vị với
một sự khác biệt với nghĩa một vị trí trong nhóm hoặc một xã hội, "Bất cứ

Vai trò xã hội có liên quan chặt chẽ với vị thế hay địa vị xã hội cua cá
nhân, có thể hiểu vị thế là chỗ đứng của vai trò. Vị thế là cơ sở xác định vai
trò, việc thực hiện tốt hay xấu vai trò của cá nhân đều ảnh hưởng đến vị thế xã
hội. nói một cách khác, giữa vị thế và vai trò có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Chẳng hạn một người phụ nữ làm tốt vai trò của mình theo sự mong đợi
của xã hội và gia đình, có thể tăng cường vị thế hoặc ngược lại, vị thế sẽ giảm
đi khi người phụ nữ không làm tốt vai trò của mình theo sự mong đợi của gia
đình và xã hội.
Trong xã hội phong kiến hay trong xã hội có đẳng cấp, về mặt lý thuyết
người ta cho rằng: địa vị không thể bị thay đổi "Con vua..." bởi sự cố gắng
duy trì địa vị của những người giữ tầng lớp đó. Với sự xác định những địa vị
xã hội một cách vững chắc cho đó là những địa vị được gắn cho (địa vị được
thừa hưởng từ thế hệ trước truyền lại). Trong xã hội công nghiệp, địa vị xã
hội thường được mô tả rất khác nhau. Nhiều nhà xã hội học cho rằng địa vị xã
hội do cá nhân dành được bằng những thành tựu công nghiệp luôn là sự thừa
kế theo dòng dõi (gọi là địa vị đạt được). Xã hội luôn biến chuyển và phát
triển, do đó địa vị xã hội cũng luôn luôn di chuyển, bởi vì con người và địa vị
19


xã hội của họ luôn luôn có mối tương quan mật thiết với nhau. Chính sự mô tả
con người xã hội đã giúp ta hiểu rõ bản chất vốn có của người đó. Còn khi mô
tả địa vị xã hội của họ, chúng ta đã nêu bật giá trị xã hội dưới sự đánh giá của
dư luận xã hội đương thời.
Trong đời sống xã hội, địa vị xã hội thường tương quan với quyền lực. Nếu
ta hiểu rằng quyền lực xã hội có nghĩa là ảnh hưởng của một người (có thể có)
đối với các người khác trong xã hội (đó cũng là biểu hiện địa vị của người
ấy). Xét về mặt tâm lý xã hội, người ta thường tin tưởng, tín nhiệm hướng vào
những người có địa vị xã hội cao hơn vì họ có ảnh hưởng lớn, rộng rãi đối với
toàn xã hội (có nghĩa là họ hơn hẳn những người bình thường).

xã hội. Địa vị phụ nữ cũng khác trong những hoàn cảnh gia đình khác, giai
cấp xã hội khác và khung cảnh khác của sự biến đổi xã hội.
Đề tài này xác định địa vị của phụ nữ trong gia đình và trong cộng đồng
làng xã, chỉ báo của địa vị phụ nữ sẽ là: sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt
động trong gia đình, trong cộng đồng làng xã và quyền ra quyết định của họ
trong gia đình và cộng đồng.
Trong đề tài này, chúng tôi xem xét khái niệm địa vị phụ nữ như là sự
hoạt động của cá nhân ở các lĩnh vực khác nhau trong quá trình tham gia vào
sản xuất, vào việc ra quyết định trong gia đình, cộng đồng làng xã. Chỉ báo
của địa vị phụ nữ nông thôn sẽ là người mẹ, người vợ, người con, người lao
động, người nội trợ, thành viên của cộng đồng... Hay nói khái quát hơn, khi
nói đến địa vị của phụ nữ chính là đề cập đến sự tham gia của phụ nữ vào các
hoạt động trong gia đình, trong cộng đồng làng xã, và quyền ra quyết định của
họ trong gia đình, trong cộng đồng.
1.1.3. Giới
Giới chỉ mối quan hệ, mối tương quan giữa địa vị xã hội của giới nữ và
nam giới trong bối cảnh xã hội cụ thể [Trần thị Vân Anh, tr. 21]. Nói cách
khác, giới là sự tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kỳ vọng về
các đặc điểm và năng lực được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một người
nam giới hay một người phụ nữ (hoặc một cậu bé hay một cô bé) trong một
xã hội hay một nền văn hóa nhất định. Giới cũng phản ánh mối quan hệ giữa

21


nam và nữ, ai cần làm gì và ai là người kiểm soát việc ra quyết định, tiếp cận
các nguồn lực và hưởng lợi [Báo cáo tóm tắt tình hình giới, tr. 6] 1.
Bản sắc giới và quan hệ giới là những khía cạnh then chốt của nền văn
hóa vì chúng định hình cho lối sống hàng ngày trong gia đình, trong cộng
đồng và ở nơi làm việc.

các hành vi xã hội của nữ giới và nam giới, mối liên hệ giữa hai giới đó. Do
vậy giới không chỉ đề cập một cách đơn giản đến phụ nữ hay nam giới mà còn
phản ánh mối quan hệ giữa hai nhóm đối tượng này. Có thể nói một cách cụ
thể hơn, qua lăng kính giới: các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là hoàn
toàn có thể thay đổi được. Quan niệm các công việc "bếp núc" là "thiên chức"
của phụ nữ đang được xem xét lại, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể
của mỗi gia đình. Có thể coi giới là một công cụ phân tích để hiểu rõ hơn tiến
trình phát triển của xã hội và văn hóa, văn minh.
Đề tài này vận dụng quan niệm giới, khái niệm giới vào xem xét học vấn
và địa vị của từng phụ nữ trong mối tương quan với nam giới. Không những
thế, đề tài thấy cần phải so sánh trình độ học vấn, vị trí và vai trò của phụ nữ
với nam giới trong những tình huống, lĩnh vực nhất định... Có thể nói cụ thể
hơn: đề tài muốn xem xét địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam đã được cải
thiện đến mức độ nào, nó tương quan với học vấn ra sao? Tương quan về địa
vị của nam và nữ đến mức độ nào (nhất là trong giáo dục, trong sự phân công
lao động trong gia đình, giữa vợ và chồng).
1.2. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng vào nghiên cứu.
Để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài này, chúng tôi dựa vào
một số lý thuyết chủ yếu: lý thuyết chức năng, lý thuyết phát triển nông thôn,
đặc biệt lý thuyết giới. Vì vậy lý thuyết về Giới đóng vai trò nền tảng lý luận
của nghiên cứu này. Ngoài ra một số lý thuyết khác có liên quan đến học vấn
và địa vị phụ nữ cũng sẽ được đề cập đến với mức độ nhất định.
1.2.1. Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng nhấn mạnh đến những đóng góp (chức
năng của một bộ phận trong một cấu trúc xã hội nhất định). Một trong những
người đi đầu quan trọng là Spencer, tác giả của Thuyết chức năng, người đã
so sánh những tổ chức cơ thể sống với xã hội. Durkeim, người cùng thời với
Spencer, cũng đóng góp phần phát triển quan điểm lý thuyết này.Trong những

23

yếu tố nào của cấu trúc xã hội cũng kéo theo sự thay đổi ở các bộ phận, yếu tố
24


còn lại và của cả cấu trúc. Khi đề cập đến lý thuyết chức năng, không thể
quên được tên tuổi của Auguste Com, H. Spencer, Emile Durkheim - Talcott
Parsons, là một trong những đại diện tiêu biểu cho trường phái lý thuyết cấu
trúc - chức năng trong xã hội học Mỹ. Các ông đã có công đóng góp cho
thuyết chức năng hình thành và phát triển. Người ta cho rằng lý thuyết chức
năng là một trong những lý thuyết định hướng cơ bản của xã hội học và người
khởi thủy, góp phần phát triển quan điểm lý thuyết cấu trúc chức năng là
Emile Durkheim. Ông đưa ra khái niệm đoàn kết xã hội (Social Solidarity) để
chỉ các quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với nhóm và giữa cá
nhân với nhau. Khi nghiên cứu vai trò của phân công lao động, ông đã chứng
minh rằng, di cư và tích tụ dân cư, đô thi hóa và công nghiệp hóa đã làm tăng
mật độ tiếp xúc, quan hệ và tương tác giữa các cá nhân, nhóm và tổ chức
trong xã hội. Không những thế, Emile Durkheim là người đầu tiên nêu lên
tầm quan trọng của hướng tiếp cận xã hội học nghiên cứu giáo dục và chính
ông đã đặt cơ sở cho hướng tiếp cận của thuyết chức năng trong xã hội học
giáo dục. Ông nói về mục đích của hệ thống giáo dục là khơi dậy và phát triển
ở trẻ em trạng thái thể chất, học vấn vấn đạo đức, những cái mà xã hội chính
trị nói chung và cả môi trường cụ thể mà nó dự định sẽ bước vào đòi hỏi.
Dựa vào thuyết chức năng luận, ông đã dùng quan điểm chức năng để
giải thích, dự báo về giáo dục. Ông và những người theo thuyết chức năng
đều cho rằng xã hội do những người có công trạng thống trị, họ phải được đào
tạo cao để hình thành các vai trò của mình, các vai trò cùng tồn tại được ... từ
hoạt động giáo dục. Theo quan điểm chức năng, giáo dục có khả năng truyền
lại những giá trị của nền văn hóa xã hội. Nhờ có giáo dục, con người đã lĩnh
hội, tiếp thu những giá trị của nền văn hóa xã hội. Ngoài ra, cũng cần lưu ý
hai nhà nghiên cứu David và Mooe, hai ông cho rằng, sự tồn tại của các vị trí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status