LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo xây DỰNG các tổ CHỨC QUÂN sự TRONG đấu TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN từ 1930 đến 1945 - Pdf 40

MỤC LỤC

Trang
3

MỞ ĐẦU

Chương 1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC QUÂN SỰ TRONG ĐẤU
TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945)

8

1.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn xác định quan điểm của
Đảng về xây dựng tổ chức quân sự cách mạng

8

1.2 Quá trình hình thành quan điểm cơ bản của Đảng về xây
dựng các tổ chức quân sự trong đấu tranh giành chính quyền

17

Chương 2 ĐẢNG CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC QUÂN
SỰ THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
(1930 – 1945) VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

41

2.1 Đảng chỉ đạo xây dựng các tổ chức quân sự thời kỳ đấu
tranh giành chính quyền

lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta không ngừng được xây dựng và trưởng thành.
Lịch sử quân đội trở thành một đối tượng nghiên cứu của khoa học quân sự và
lịch sử quân sự, của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam thời hiện đại,
không chỉ giới khoa học trong nước, mà còn được giới khoa học nhiều nước
trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Dưới góc độ bộ môn Lịch sử Đảng, nghiên cứu về quá trình Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng các tổ chức quân sự trong thời kỳ
đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945) là vấn đề quan trọng, cần làm
rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng ta xác định quan điểm, quá trình
hình thành các quan điểm cơ bản và sự chỉ đạo của Đảng xây dựng các tổ
chức quân sự từ buổi đầu của sự nghiệp đấu tranh cách mạng. Đảng ta đã
gây dựng được một lực lượng quân sự giữ vai trò làm nòng cốt cho cuộc
Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi. Trên cơ
sở đó rút ra một số kinh nghiệm lịch sử, vận dụng vào quá trình xây dựng
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đồng thời, qua đó góp phần chống
lại các quan điểm phản động thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá quân
đội” hòng vô hiệu hoá quân đội. Mặt khác, trong hoàn cảnh hiện nay,
những tác động mặt trái của cơ chế thị trường đang hàng ngày, hàng giờ
gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của cán bộ, chiến sĩ. Trong thời gian


3
qua đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có biểu hiện
giảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới, chạy
theo lợi ích vật chất tầm thường, sa đoạ về lối sống, vun vén cá nhân, phai
mờ mục tiêu lý tưởng… gây tổn hại đến sức mạnh chiến đấu, bản chất
truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.
Vì vậy, tìm hiểu đầy đủ quá trình hơn 60 năm Đảng lãnh đạo xây dựng
quân đội, đặc biệt trong thời kỳ giành chính quyền là một việc làm cần thiết.
Qua đó góp phần tăng cường công tác tuyên truyền, bảo đảm cho mọi cán bộ,

thật, Hà Nội; Ban nghiên cứu lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1999), Lịch sử Quân đội nhân dân Việt
Nam, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Bộ Quốc phòng, Viện Lịch
sử quân sự Việt Nam (2004), Lịch sử các đội quân tiền thân của Quân đội
nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. Đây là các tài liệu
khoa học có giá trị, nhưng thường trình bày lịch sử theo phạm vi rộng, bao
quát nhiều nội dung, không đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể.
Ba là: Nhóm công trình chuyên khảo có liên quan đến đề tài như: Trịnh
Vương Hồng (2004) “Những quan điểm đầu tiên của Đảng chỉ đạo xây dựng
lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử Đảng 169 (12),
tr.11-14; Dương Đình Lập (2004) “Các trung đội cứu quốc quân”, Nguyệt san
Báo Quân đội nhân dân, 128 (1), tr.14-15; Lê Liên (2004), “Từ chủ trương
của Đảng về vũ trang cách mạng đến sự ra đời của Quân đội công nông”,
Nguyệt san Báo Quân đội nhân dân, 128 (1), tr.4-5; Hồ Kiếm Việt (2004)
“Mấy bài học chủ yếu trong giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng của
Quân đội nhân dân Việt Nam qua 60 năm”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị
quân sự, 88 (6), tr.22-26. Trong các công trình kể trên, có nhiều tư liệu lịch sử
có giá trị và nhận định khoa học sắc sảo, nhưng các tác giả thường đi vào
trình bày những khía cạnh có tính chất chung cho cả quá trình lịch sử, không
bàn riêng về sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quân sự trong đấu
tranh giành chính quyền từ 1930 – 1945…


5
Tình hình trên cho thấy, các công trình nghiên cứu trước đó của các
đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội và các nhà khoa học đã đề
cập đến lịch sử cách mạng tháng Tám, lịch sử hình thành và phát triển lực
lượng vũ trang cách mạng ở phạm vi rộng mang tính khái quát, hoặc chỉ
đi vào nghiên cứu những vấn đề hẹp phục vụ cho chuyên đề nghiên cứu
riêng lẻ. Đến nay chưa có công trình khoa học nào trình bày một cách hệ

Luận văn dựa trên nguyên lý, quan điểm của học thuyết Mác-Lênin về chiến
tranh và quân đội, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối và chủ
trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng,
xây dựng quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn, dựa trên phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin, phương pháp luận sử học
mácxít, chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc và
sự kết hợp hai phương pháp đó. Đồng thời, luận văn còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khác như: thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp
để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào quá trình tổng kết lịch sử
cách mạng nói chung, lịch sử xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng.
Qua đó làm cơ sở để thống nhất nhận thức, xây dựng niềm tự hào về Đảng quang
vinh, Bác Hồ vĩ đại – Người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng
dạy lịch sử Đảng ở các nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục.


7

Chương 1
QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC QUÂN SỰ TRONG ĐẤU TRANH
GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945)

1.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn xác định quan điểm của Đảng về xây

C.Mác và Ph.Ăngghen chủ trương “vũ trang cho giai cấp công nhân”, lấy
vũ trang nhân dân thay thế quân đội thường trực. Các ông đã dự kiến quân
đội thường trực của giai cấp tư sản phải được thay thế bằng nhân dân vũ
trang, bằng lực lượng dân cảnh xã hội chủ nghĩa. Các ông đánh giá rất cao
bài học của Công xã Pari về nhiệm vụ của giai cấp công nhân đối với việc
đập tan quân đội thường trực. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Pari sở dĩ đã
chống cự lại được, chỉ là vì, do bị vây hãm, nó đã loại bỏ được quân đội và
thay bằng một đội vệ binh quốc gia gồm chủ yếu là công nhân. Hiện nay,
cần phải biến thực trạng đó thành một chế độ hẳn hoi; cho nên sắc lệnh đầu
tiên của Công xã là xoá bỏ quân đội thường trực và thay bằng nhân dân vũ
trang” [42, tr.449].
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ là người đầu tiên phát hiện
được sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà còn chỉ rõ cho họ con đường
hoàn thành sứ mệnh lịch sử bằng bạo lực cách mạng. Hình thức tổ chức quân
sự mới của giai cấp công nhân và quần chúng bị áp bức là: vũ trang cho giai
cấp công nhân, vũ trang nhân dân, vũ trang quần chúng. Đó là quan điểm rất
cơ bản, trở thành nền tảng lý luận về xây dựng lực lượng quân sự làm công cụ
bạo lực trong học thuyết Mác.
Vận dụng và phát triển luận điểm “vũ trang cho giai cấp công nhân” của
C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện mới của lịch sử, V.I.Lênin đã nêu lên


9
sự cần thiết phải xây dựng tổ chức quân sự kiểu mới của nhà nước xã hội chủ
nghĩa và khẳng định rằng, trước nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc,
nếu nước Cộng hoà Xô Viết trẻ tuổi không muốn trở thành miếng mồi ngon
của chúng, thì về lực lượng quân sự không thể dừng lại ở hình thức dân cảnh
mà phải tiến lên hình thức tổ chức mới cao hơn, đó là: quân đội thường trực,
chính quy. Trong tác phẩm “Quân đội cách mạng và chính phủ cách mạng”
viết năm 1905, V.I.Lênin đã chỉ rõ quân đội cách mạng là “trụ cột của chính

một đạo Hồng quân vĩ đại của người lao động. Chính từ chủ trương đó, khi ký
sắc lệnh thành lập Hồng quân Xô Viết (28.1.1918) V.I.Lênin một lần nữa
nhấn mạnh rằng: muốn bảo vệ được chính quyền công nông để chống bọn cá
mập, tức bọn địa chủ và tư bản, chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ; chúng
ta đã chứng tỏ, bằng hành động chứ không phải bằng lời nói, rằng chúng ta có
khả năng thành lập được Hồng quân; có Hồng quân mạnh chúng ta sẽ vô địch.
Sở dĩ V.I.Lênin luận giải rõ ràng và nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng
và sự cần thiết của lực lượng quân sự trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng là
vì Người mong muốn có sự thống nhất về nhận thức trong Đảng và quần
chúng cách mạng; tạo cơ sở cho quyết tâm cao xây dựng lực lượng vũ trang
của nước Cộng hoà Xô Viết trong thực tiễn, cổ vũ quần chúng cách mạng
hăng hái gia nhập Hồng quân, ủng hộ Hồng quân. Một tổ chức quân sự làm
nòng cốt để tiến hành phương pháp bạo lực cách mạng nhằm thực hiện mục
đích chính trị do Đảng của giai cấp công nhân đề ra. Đây là cơ sở nền tảng để
Đảng ta xác định quan điểm xây dựng tổ chức quân sự cách mạng trong đấu
tranh giành chính quyền.
Chủ trương vũ trang toàn dân, xây dựng tổ chức quân sự làm nòng cốt
cho toàn dân đánh giặc của Đảng ta còn là sự kế thừa và phát triển những giá
trị truyền thống khoa học nghệ thuật quân sự của dân tộc ta trong quá trình
lịch sử dựng nước và giữ nước, đặc biệt là nghệ thuật tổ chức, xây dựng lực
lượng vũ trang, xây dựng quân đội của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới lên


11
một trình độ mới, phù hợp với đặc điểm mới của thời đại chống chủ nghĩa
thực dân, giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, truyền thống vũ trang toàn
dân, mỗi người dân là một người lính, “trăm họ là binh”, xây dựng quân đội
đậm nét tính nhân dân, truyền thống cố kết dân tộc để giữ nước “cả nước
chung sức đánh giặc” là đặc điểm nổi bật và xuyên suốt chiều dài lịch sử

lượng vũ trang làm nòng cốt gồm nhiều thứ quân, có quân của triều đình (cấm
quân, sương quân),có quân của các địa phương và các đội dân binh ở làng xã,
động, bản…
Truyền thống tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang chống ngoại xâm
của ông cha là một di sản quân sự quý giá, một nhân tố quan trọng để
Đảng ta kế thừa và phát triển lên một trình độ mới trong quá trình tổ chức
xây dựng lực lượng quân sự, tiến hành đấu tranh giành chính quyền, giải
phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nói chung và xây dựng quân đội nói riêng
trong điều kiện lịch sử mới.
Việc tổ chức ra lực lượng quân sự làm công cụ bạo lực cách mạng của
Đảng trong đấu tranh giành chính quyền còn là sự tiếp thu có chọn lọc những
bài học kinh nghiệm các cuộc đấu tranh cách mạng của các nước, nhất là kinh
nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng quân sự của Công xã Pari (1871). Đây là
cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới mà giai cấp công nhân cùng với
quần chúng nhân dân tiến hành bằng con đường vũ trang nhằm lật đổ bộ máy
thống trị của giai cấp tư sản phản động; đã nắm được chính quyền, giành
thắng lợi trong thời gian ngắn. Nhiệm vụ cấp thiết lúc bấy giờ đối với Công
xã là phải củng cố lực lượng quân sự, tranh thủ đà thắng lợi, tiếp tục tiến công
đập tan sào huyệt bộ máy chính quyền cũ, bảo vệ chính quyền mới, nhưng
Công xã đã không làm được. Vì thế, sau khi củng cố được lực lượng quân
đội, giai cấp tư sản mở cuộc phản công, bao vây Công xã. Do bị bao vây,
Công xã không liên minh được với quần chúng nên bị thất bại. Sự thất bại của
Công xã, nó đã để lại bài học kinh nghiệm quí báu đối với phong trào công


13
nhân và cộng sản quốc tế sau này, nó chỉ rõ phải thực hiện chuyên chính vô
sản triệt để và liên minh công nông, cần sử dụng quân đội làm công cụ bạo
lực chủ yếu đập tan bộ máy nhà nước cũ và xây dựng chính quyền nhà nước
mới.

thể xoay chuyển tình thế. Bằng kinh nghiệm thực tiễn lại được trang bị
lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh sớm nhận thức được bản
chất của kẻ thù và phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn. Ngay từ
năm 1922, sau một thời gian nghiên cứu chế độ thực dân, Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là hành động bạo
lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ em và
phụ nữ lại càng bỉ ổi hơn nữa” [44, tr.96]. Dưới ách thống trị của chế độ
thực dân đối với nhân dân ta, Người đã rút ra hai kết luận quan trọng.
Thứ nhất, theo quy luật, có áp bức thì có đấu tranh. Nhưng các cuộc đấu
tranh của nhân dân ta diễn ra mang tính bột phát, cục bộ, bị kẻ thù khủng
bố rất khốc liệt. Bởi vậy, muốn tổ chức bạo động phải có kế hoạch chu
đáo, có quyết tâm cao, có tổ chức chặt chẽ. Thứ hai, trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, lần đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện một lực lượng
mới tham gia. Đó là giai cấp công nhân. Người coi đó là “dấu hiệu mới
của thời đại”. Vấn đề đặt ra là phải tăng cường tình đoàn kết giai cấp
cùng chống kẻ thù chung.
Từ những cơ sở đó, năm 1924, Người đã khẳng định phương pháp
cách mạng ở các nước thuộc địa phải bằng khởi nghĩa vũ trang. Khởi
nghĩa vũ trang là một phương thức cơ bản để giành chính quyền thông
qua việc lật đổ hệ thống chính quyền thực dân thuộc địa, chứ không phải
bằng con đường cải cách dần dần, một cuộc đảo chính giản đơn, hay một
cuộc cách mạng từ trên dội xuống. Người nói về tổ chức càng nhiều càng
tốt những nhóm vũ trang của những người nông dân và công nhân. Đó là
những tế bào có thể hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa mà Người
tin chắc chắn sẽ nổ ra. Cũng trong năm 1924, trên cơ sở tổng kết lịch sử


15
và tổng kết thực tiễn phong trào đấu tranh yêu nước ở Việt Nam, Người
viết “Báo cáo về vấn đề Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ”, đề cập đến vấn

vua, chín mười anh quan mà được” “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng
ống nào cũng không chống lại nổi”, “cách mệnh thì phải tổ chức rất vững
mới thành công” [45, tr.274]. Những quan điểm tư tưởng Người nêu trong
“Đường cách mệnh” đã trở thành cơ sở nền tảng để Đảng ta tiến hành xây
dựng tổ chức quân sự của Đảng sau này.
Như vậy, chủ trương của Đảng về xây dựng các tổ chức quân sự, thời
kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945), có cơ sở lý luận và thực
tiễn phong phú. Đó là kết quả của sự nghiên cứu, vận dụng sáng tạo học
thuyết quân sự Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn nước ta; là sự kế thừa
và phát triển truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang đặc sắc của dân
tộc; tiếp thu những nhân tố có giá trị về quân sự của các nước để phục vụ
cho việc xây dựng các tổ chức quân sự cách mạng ở Việt Nam. Trong
những cơ sở đó, học thuyết quân sự Mác-Lênin quyết định bản chất giai
cấp, truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang đặc sắc của dân tộc có vị
trí đặc biệt quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển quan
điểm của Đảng về xây dựng các tổ chức quân sự. Tuy nhiên, các cơ sở đó
không tác động riêng rẽ mà tác động trong mối quan hệ biện chứng, thông
qua hoạt động, đúc kết thực tiễn sáng tạo của Đảng trước đòi hỏi của thực
tiễn xây dựng các tổ chức quân sự cách mạng ở Việt Nam, Đảng từng
bước bổ sung, phát triển trong đường lối cho phù hợp với từng thời điểm
cụ thể, đưa cuộc đấu tranh cách mạng tới thắng lợi.
1.2. Quá trình hình thành quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng
các tổ chức quân sự trong đấu tranh giành chính quyền
Ngày 3.2.1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có sứ mệnh lịch sử
lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi trong thời đại mới. Trên
cơ sở nắm vững quan điểm học thuyết Mác-Lênin, kế thừa và phát triển
những giá trị truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang chống giặc ngoại


17

18
khuyếch trương phong trào đấu tranh rộng lên; đồng thời phải tổ chức đội
tự vệ của nông dân. Nghị quyết nhấn mạnh: “Đảng phải tổ chức bộ quân
sự của Đảng để: làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện. Giúp cho
công nông hội tổ chức đội tự vệ. Vận động trong quân đội của bọn địch
nhơn” [18, tr.116], nghĩa là Đảng phải tổ chức ra bộ quân sự nhằm thực
hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng xác định.
Hội nghị còn ra các nghị quyết riêng về nông dân vận động, cộng sản
thanh niên và quân đội vận động, trong đó nêu rõ chủ trương xây dựng đội tự
vệ công nông. Án nghị quyết về nông dân vận động nêu: “Việc tổ chức và
khuyếch trương đội tự vệ của nông dân rất quan trọng và cần thiết cho cuộc
đấu tranh ở nhà quê” [18, tr.155]. Án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận
động chỉ rõ: “phải tổ chức những “thanh niên vệ đội” tức là những đoàn thể
có tính chất bán võ bị cho quảng đại quần chúng thanh niên thành phố và
nhà quê” [18, tr.240].
Án nghị quyết về quân đội vận động chỉ ra rằng: “Ở Đông Dương quân
đội hoàn toàn ở dưới quyền của đế quốc chủ nghĩa. Trong quân đội có hai
phần: Phần đông hơn hết là những người bổn xứ; còn một phần nữa là những
đội quân chiếm cứ hoặc ở Pháp, hoặc ở các thuộc địa khác kéo tới. Trong
cuộc vận động cách mạng trong đám quân đội ấy, chiến lược của Đảng một
mặt là phải lấy khẩu hiệu quân đội quốc gia (nghĩa là quân đội không phụ
thuộc với đế quốc chủ nghĩa) để làm cho binh lính bổn xứ hoá ra quân đội
cách mạng; còn một mặt nữa là phải thực hành cái chương trình thất bại
chủ nghĩa (nghĩa là làm cho đế quốc chủ nghĩa bị thất bại, quân đội bị rời
rã) kích thích ra những sự phân tán để làm cho bộ phận quân đội ấy bị thối,
mục, tan nát” [18, tr.241].
Những chủ trương của Đảng về xây dựng đội tự vệ công nông được bàn
ra quyết định tại Hội nghị đã hình thành trên cơ sở con đường cách mạng bạo
lực, con đường “võ trang bạo động” và thực tiễn xây dựng lực lượng cách




20
vụ Trung ương Đảng còn ra “Thông cáo cho các Xứ uỷ”, phân tích tương
đối hệ thống vai trò, chức năng, phương hướng xây dựng lực lượng tự vệ
công nông; đồng thời phê phán uốn nắn những ý kiến sai lầm về đội tự vệ
đã xuất hiện trong một số đảng bộ. Trung ương Đảng chỉ rõ hiện thời thực
dân Pháp đang ra sức khủng bố đàn áp phong trào cách mạng “Đảng
không có phép tiên thần gì, Đảng cũng không có quân đội, tàu bay, trái
phá, Đảng chỉ có cách làm quần chúng giác ngộ, tự lấy lực lượng mà tranh
đấu, lấy sức tổ chức của mình mà chống khủng bố” [20, tr.3]. Trung ương
Đảng phân tích:
Đội tự vệ không phải tổ chức trong một lúc đấu tranh rồi giải tán đi,
nhưng phải duy trì khuyếch trương ra làm một lực lượng vĩnh viễn của quần
chúng. Khi có tranh đấu thì đội tự vệ phải ra đi đầu, đi kèm quần chúng mà
hộ vệ, còn lúc thường thì phải tập luyện riêng, phải bàn định những cách hộ
vệ và bênh vực tranh đấu. Có đồng chí nói rằng: tổ chức ra đội tự vệ mà
không có võ trang cho họ thì tay không làm gì được mà hộ vệ cho quần
chúng. Nói như vậy rất sai lầm. Trong lúc tranh đấu bây giờ thì không thể nói
đến việc võ trang được. Việc võ trang quần chúng không phải lúc nào cũng đề
xướng ra được. Phải hiểu rằng, tự vệ chứ không phải là hồng quân, hộ vệ anh
em tranh đấu hàng ngày chớ không phải xông pha cùng binh lính địch nhân
mà cướp chính quyền. Vấn đề võ trang chưa phải là cần kíp phải có [20, tr.7 8].
Từ đó, Trung ương Đảng chỉ rõ, đội tự vệ tuy không đủ võ trang,
song có thể giúp quần chúng được nhiều. Tuy tự vệ không có khí giới gì
nhưng nó có tổ chức, nó có thao luyện, nó có kế hoạch thống nhất, nó có
điều tra và hiểu rõ những thủ đoạn của quân đội, nó lại có sức hy sinh
cương quyết, hiểu rõ trách nhiệm cách mạng của họ nữa, thì tự vệ cũng
thành một lực lượng mạnh hơn mấy trăm ngàn người khác rồi. “Thế đủ
biết không cần có võ trang cũng vẫn tổ chức tự vệ được. Nhưng đồng thời

lầm.


22
Tiếp tục quan điểm coi trọng vai trò lực lượng vũ trang cơ sở trong
đấu tranh cách mạng của quần chúng, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 của
Đảng họp ở Sài Gòn tháng 3 năm 1931, đã ra Án nghị quyết trong đó
nghiêm khắc phê phán:
Trong những cuộc tranh đấu đã có nhiều nơi đảng viên cản trở
quần chúng không để cho quần chúng hộ vệ tính mạng nữa. Có lúc quần
chúng xung đột với binh lính thì đảng bộ lại phê bình vô lý, lại đem câu
“bạo động non”, “manh động” mà cản trở sự xung đột… việc tranh đấu
cướp chính quyền là việc làm không phải khi nào cũng được. Chớ còn
ra tranh đấu biểu tình hàng ngày vì những mục đích quyền lợi rõ rệt mà
xung đột với lính thì là một sự tự vệ rất cần kíp [21, tr.95].
Nghị quyết đã nêu tiếp vấn đề tổ chức đội tự vệ. Lần đầu tiên, Hội nghị
Trung ương Đảng đã đề cập đến vai trò của chi bộ Đảng trong việc tổ chức đội
tự vệ đảm bảo chất lượng chính trị. Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Chi bộ phải
đặc biệt chú ý về việc tổ chức đội tự vệ. Đội tự vệ là một lợi ích tranh đấu rất cần
thiết để bảo vệ tranh đấu. Chi bộ phải cùng với Công hội mà chuyên cần lo lắng,
kéo đảng viên vào đội, đẩy người ra chỉ huy” [21, tr.112]. Như vậy, ngay từ khi
ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng đến việc tổ
chức, phát triển Đội tự vệ công nông. Đảng ta coi đây là một trong những
công tác quan trọng trong nhiệm vụ tuyên truyền tập hợp quần chúng, xây
dựng các tổ chức quân sự cách mạng, mà hình thức ban đầu là Đội tự vệ
công nông làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh để đánh đổ chính quyền
thực dân, phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc, mà cương lĩnh
đầu tiên của Đảng đã vạch ra.
Sau cao trào 1930 – 1931, phong trào cách mạng tạm thời lắng
xuống. Những năm tiếp theo, chính quyền thực dân Pháp và phong kiến

yếu là của công nhân và nông dân do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.


24
Thành phần của đội tự vệ bao gồm những người lao động có nhiệt tình, cương
quyết, không phân biệt gái trai, hoặc dân tộc, từ 18 tuổi trở lên. Đội tự vệ đặt
dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương chấp uỷ của Đảng Cộng sản.
Từ Trung ương chấp uỷ tới mỗi thành uỷ, tỉnh uỷ phải tổ chức ngay quân uỷ,
quân uỷ này một bộ phận thì lo quân đội vận động, một bộ phận thì lo tổ chức
và chỉ huy đội tự vệ. Đồng thời, các đảng bộ “phải đem đảng viên và đoàn
viên cương quyết nhất vào Tự vệ và các cấp bộ chỉ huy của Tự vệ, nhưng thế
không phải là không cho những hội viên thường hăng hái dự cuộc chỉ huy tự
vệ [22, tr.95]. Nghị quyết quy định cụ thể trong các ban chỉ huy đội tự vệ
ở cấp trung đội và đại đội, bên cạnh đội trưởng và đội phó có một đại biểu của
Đảng “Đội trưởng và đại biểu Đảng phải hợp tác mà chỉ huy” [22, tr.95]. Sự
hành động hàng ngày thì phục tùng Đảng bộ tương đương. Sự hành động
quân sự chung thì phục tùng thượng cấp tự vệ, và quân uỷ tương đương của
Đảng. Đội trưởng và đại biểu Đảng có bất đồng ý kiến thì do thượng cấp
quân uỷ giải quyết.
Nguyên tắc tổ chức của Đảng là tập trung dân chủ, tính chất của đội
tự vệ công nông là tổ chức nửa vũ trang của quần chúng lao động. Nghị
quyết chỉ rõ: “Kỷ luật tự vệ công nông cách mạng không phải là kỷ luật
nhà binh, nhưng cũng nghiêm khắc. Không thoả hiệp được với tính lười
biếng, sụt sè và bất tuân mệnh lệnh thượng cấp” [22, tr.95]. Đặc biệt,
trong bối cảnh kẻ thù đang khủng bố, đàn áp tàn khốc, các tổ chức đảng
và các đoàn thể quần chúng công hội, nông hội… đang hoạt động trong
điều kiện rất khó khăn, gian khổ, đội viên tự vệ phải có nhiệm vụ giữ bí
mật công tác của đội, tiểu đội nào chỉ được biết tiểu đội ấy, cấp trên và
cấp dưới quan hệ với nhau chỉ qua những người phụ trách cấp ấy. Nghị
quyết nhấn mạnh: trong đội tự vệ phải thực hiện dân chủ nội bộ: “Tự vệ

chức, chỉ huy thống nhất, hàng ngày bảo vệ quần chúng đấu tranh chống ách
thống trị thực dân, phong kiến.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status