khóa luận tốt nghiệp Vận dụng quan điểm mác xit về tôn giáo và “chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của việt nam” chống các âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo chống chính quyền trên địa bàn tỉnh quảng trị trong giai đoạn hiện nay” - Pdf 40

MỤC LỤC

D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của khóa luận
Tôn giáo là một trong các hình thái ý thức xã hội, từ khi ra đời
cho đến nay đã có rất nhiều đánh giá khác nhau. Có ý kiến cho rằng:
Tôn giáo là tiêu cực, lạc hậu, là công cụ của chủ nghĩa đế quốc và các
thế lực thù địch chống lại phong trào cách mạng thế giới, phá hoại sự
nghiệp cách mạng thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho
rằng: hoạt tôn giáo là vấn đề văn hóa đạo đức, con người tạo ra tôn giáo,
trước hết để hỗ trợ cho con người trong nhận thức về mình cũng như
nhận thức và ứng phó với các lực lượng tự nhiên và xã hội quanh mình.
Từ sự nhận thức không đồng nhất, nên thái độ đối với tôn giáo
cũng rất khác nhau.
Vậy cần nhận thức, đánh giá vấn đề tôn giáo như thế nào cho
đúng?
Như chúng ta biết, đã có một thời kỳ rất dài, con người tồn tại và
phát triển mà chưa biết đến tôn giáo. Tôn giáo chỉ xuất hiện, tồn tại và
phát triển khi con người bất lực chưa giải thích được các hiện tượng tự
nhiên và xã hội quanh mình. Các hình thức tôn giáo ban đầu hết sức đơn
giản, gắn liền với các quan hệ cơ bản và nhằm giải quyết các quan hệ cơ
bản của con người: Quan hệ với “ta” (thị tộc, bộ tộc, làng bản mình...)
sinh ra Tôtem giáo; Quan hệ với cái khác “ta” (thị tộc, bộ tộc khác, cộng
đồng làng bản khác...) sinh ra ma thuật làm hại; Quan hệ giữa nam và nữ
sinh ra ma thuật tính giáo; Quan hệ với bệnh tật sinh ra ma thuật chữa
bệnh; Quan hệ với tự nhiên của người nguyên thủy sinh ra bái vật giáo...
Trong quá trình tồn tại và phát triển, các tôn giáo có sự đan xen,
tiếp nhận, hòa đồng hoặc phủ nhận nhau. Sự ra đời của tôn giáo theo
nghĩa đầy đủ của nó cùng với thời kỳ xã hội có giai cấp được thiết lập,
1

Mặt khác, mặt tiêu cực của tôn giáo là không thể phủ nhận, tập
trung nhất là ở thế giới quan duy tâm như Mác nói: Tôn giáo là thế giới

2


lộn ngược, thế giới quan đó coi tôn giáo đã tạo ra con người, quyết định
số phận của con người chứ không phải con người tạo ra tôn giáo.
Do vậy, từ khi xã hội loài người phân chia giai cấp và đấu tranh
giai cấp, tôn giáo không chỉ là việc đạo mà còn là việc đời, không đơn
giản là vấn đề tư tưởng mà còn là vấn đề chính trị. Nó phản ánh cuộc
đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị trong xã hội thể hiện: các tôn giáo
lớn đều chứa đựng mục tiêu chính trị, nhằm thay đổi xã hội hiện hành,
mặc dù các nhà sáng lập ra các tôn giáo đó không đặt ra vấn đề này. Ví
dụ: Phật giáo ra đời là sự phản kháng, bài xích chế độ đẳng cấp của đạo
Bà-la-môn; Kitô giáo ra đời là sự chống đối chế độ nô lệ La Mã thống
trị xã hội...
Do các tôn giáo phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội,
nên trong mỗi tôn giáo đều chứa đựng nhiều khuynh hướng chính trị
khác nhau. Có bộ phận gắn với giai cấp thống trị hoặc ngoại bang; có bộ
phận gắn với quần chúng lao động hoặc gắn với dân tộc và lợi ích dân
tộc; có bộ phận đứng trung gian giữa hai lực lượng trên, chỉ muốn đơn
thuần lo việc đạo. Vì vậy có tôn giáo ở thời điểm này, ở quốc gia này
đóng vai trò chính trị tiến bộ, ở thời điểm khác, nơi khác lại có thể thay
đổi theo chiều hướng ngược lại.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tính chính trị của tôn giáo có sự
thay đổi. Khuynh hướng chính trị tiến bộ đi với quần chúng lao động, đi
với dân tộc, phục tùng sự quản lý của Nhà nước có điều kiện phát triển.
Tuy nhiên, một bộ phận chức sắc trong các tôn giáo do quyền lợi gắn bó
với giai cấp thống trị trước đây, thậm chí do thù hằn với cách mạng nên

ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam” chống các âm mưu, hành động lợi
dụng tôn giáo chống chính quyền trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong
giai đoạn hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu của khóa luận
Tôn giáo là một đề tài không mới, nhưng cũng chưa bao giờ cũ.
Nó luôn được quan tâm, nghiên cứu từ nhiều lập trường, nhiều góc độ
và phương diện khác nhau, tùy theo chủ thể nghiên cứu.
Trong thời kỳ đổi mới này, nó cũng là một đề tài được nhiều
người chú ý. Đã có nhiều công trình lớn, nhỏ ra đời trong thời gian gần
đây. Trong đó có một số công trình lớn, trở thành cơ sở để Đảng và Nhà
nước lấy đó làm tiền đề soạn thảo đường lối, sách lược của công tác tôn
4


giáo của mình. Có thể đề cập một số công trình lớn, một số cuốn sách có
giá trị sau:
“Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của Đặng
Nghiêm Vạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001. Đây
là sự kế thừa của đề tài cấp Nhà nước KHXH-04-08. Những vấn đề lý
luận và thực tiễn liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam; Chính sách của
Đảng và Nhà nước do Đặng Nghiêm Vạn chủ nhiệm.
“Trích tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh về
tôn giáo” của Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo, Ban Tôn
giáo Chính phủ, xuất bản năm 1998.
“Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ”, Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội, năm 2001 của Đỗ Quang Hưng.
“Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam” của Viện Khoa học xã hội
Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004.
“Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo” do Lê Hữu Nghĩa
và Nguyễn Đức Lữ (đồng chủ biên), Nhà xuất bản tôn giáo, Hà Nội,

công tác tôn giáo ở Quảng Trị hiện nay.
- Nhiệm vụ:
+ Một là, làm rõ quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo.
+ Hai là, làm rõ thực trạng của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị
+ Ba là, nêu lên một số giải pháp đấu tranh chống “ÂMDBHB BLLĐ” lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay.
4. Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Từ thành tựu các công trình của các tác giả đi trước và kết quả
điền giả, khóa luận nêu khái quát việc “Vận dụng quan điểm mác-xit về
tôn giáo và “Chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt
Nam” chống các âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo chống chính
quyền trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay”. Tuy
nhiên, do giới hạn về thời gian và nguồn tư liệu do Ban tôn giáo tỉnh
Quảng Trị cung cấp, khóa luận chỉ mới đề cập những nội dung liên quan
đến chống “ÂMDBHB-BLLĐ” lợi dụng tôn giáo do đế quốc Mỹ đứng
đầu mà thôi.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
- Cơ sở lý luận
Biện chứng duy vật về lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo.
- Phương pháp nghiên cứu
+ Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu: phân tích và tổng
hợp, so sánh và đối chiếu, thống kê điền giả.

7


+ Đồng thời sử dụng một số phương pháp cụ thể riêng biệt của

8


Mác và Ăngghen xem tôn giáo như là một hiện tượng xã hội phức
tạp, đa dạng gắn liền với những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Khi quan niệm tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào đầu óc con
người những lực lượng bên ngoài thống trị họ trong cuộc sống hằng
ngày, hai ông cũng ngăn ngừa sự giản đơn và hẹp hòi trong việc nhận
thức về vấn đề tôn giáo.
Học thuyết của Mác và Ăngghen về sự phản ánh hoang đường
hiện thực với tính cách là nguồn sản sinh và nội dung lòng tin của tôn
giáo đã giáng một đòn quyết định vào các quan niệm thần học, vào các
quan niệm tầm thường, nông cạn của chủ nghĩa siêu hình trong vấn đề
nguồn gốc tôn giáo.
Những phân tích của Mác, Ăngghen về nguồn gốc nhận thức và
nguồn gốc xã hội của tôn giáo là những luận điểm cơ bản hết sức quan
trọng làm thay đổi cách nhìn nhận và con đường khắc phục tôn giáo.
Các ông đã gắn cuộc đấu tranh chống tôn giáo với những biến đổi thế
giới có tính cách mạng. Chỉ có xây dựng lại triệt để một xã hội thì mới
tạo ra những điều kiện cho việc khắc phục tôn giáo. Tôn giáo có thể mất
đi, khi mà những quan hệ của đời sống hiện thực hàng ngày của con
người sẽ được thể hiện trong những mối quan hệ trong sáng và đúng đắn
giữa con người với nhau và con người với tự nhiên. Hai ông là những
người đấu tranh triệt để cho sự giải phóng ý thức quần chúng khỏi nọc
độc tôn giáo, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hình thức thỏa hiệp cơ
hội với tôn giáo.
Tóm lại, tôn giáo được phản ánh hoang đường không phải là bản
chất con người nói chung mà là xã hội hiện thực với nội dung xã hội do
lịch sử quyết định. Như vậy, nói theo cách của Mác, tôn giáo là một
“sản phẩm xã hội ”, nó được quy định và quyết định bởi lịch sử.

luận. Nó giúp ta phân biệt tôn giáo với các hình thái ý thức xã hội khác,
làm rõ nguyên nhân xuất hiện của tôn giáo cũng như sự tồn tại và sự tiêu
vong của nó trong tương lai. Tôn giáo có đặc thù khác với các hình thái
ý thức xã hội khác ở chỗ nó phản ánh các sức mạnh “thống trị cuộc sống
hàng ngày của con người” có nghĩa là phản ánh sự bất lực của con người
trước sức mạnh bên ngoài. Thế giới khách quan được phản ánh trong
tôn giáo dưới hình thức sai lầm hư ảo, xuyên tạc.

10


Vì không thấy đặc trưng của tôn giáo là việc tin và sùng bái cái
siêu tự nhiên, nên nhiều nhà tư tưởng tư sản cùng thời với Mác,
Ăngghen và nhiều nhà tư tưởng tư sản hiện nay coi chủ nghĩa vô thần
của Mác và Ăngghen, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản khoa học là
những hình thức tôn giáo.
• Chức năng
- Chức năng xã hội:
Tôn giáo là sản phẩm của xã hội và văn hóa. Ở từng quốc gia
khác nhau, các khu vực khác nhau, trong cộng đồng người khác nhau và
trong từng nền văn minh khác nhau, thì tôn giáo biểu hiện cũng rất khác
nhau.
Tính hai mặt của tôn giáo là tôn giáo vừa phản ánh xã hội đương
thời đã sinh ra nó (phản ánh xuyên tạc), vừa chống lại chính hiện thực
đó (tồn tại xã hội đó).
Tác dụng của tôn giáo là làm giảm đau, thư giãn, cân bằng cuộc
sống thế gian, nơi mà ở đó còn những cảnh khổ bất công.
Tôn giáo luôn biến đổi và thích nghi với từng giai đoạn phát triển
của tính chính trị.
- Chức năng (xã hội ) giáo dục:

thánh.
Phê phán tôn giáo làm cho con người thoát khỏi ảo tưởng để con
người tư duy, hành động xây dựng tính hiện thực của mình.
Phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn
giáo biến thành phê phán pháp quyền; phê phán thần học biến thành phê
phán chính trị”[Dẫn theo 24;10].
1.1.4. Quan niệm của Mác, Ăngghen về những điều kiện để tôn
giáo tự mất đi.
Từ quan niệm về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo là: Sự nghèo
nàn của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, và
mặt khác là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. “Tôn giáo
là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không
có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không
có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[13; 14]. Các ông
chỉ ra những điều kiện để tôn giáo mất đi là:
12


“- Tôn giáo là hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân. Vậy khi nhân dân
có hạnh phúc thực sự sẽ là một trong các điều kiện để tôn giáo tự nó mất
đi.
- Khi con người là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người
chưa tìm thấy bản thân mình, hoặc đã đánh mất mình một lần nữa, thì
con người để cho tôn giáo (là cái mặt trời ảo tưởng) vận động xung
quanh mình. Vậy khi con người thoát khỏi những ảo tưởng, có lý trí để
tư duy, hành động và xây dựng tính hiện thực của mình, tự vận động
xung quanh bản thân mình sẽ là một trong các điều kiện để tôn giáo tự
mất đi.
- Tôn giáo chỉ mất đi khi nào trong xã hội xóa bỏ được hết những
quan hệ “biến con người thành một sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bị

1.2.1. Quan điểm của V.I. Lênin về nguồn gốc nhận thức và
nguồn gốc xã hội của tôn giáo
1.2.1.1. Nguồn gốc nhận thức
Trong “CNXH và tôn giáo”, Lênin chỉ ra sự bất lực của những
người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào
thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu nhiệm[Dẫn theo 24; 12]
Trong chương II mục 4 của “Lý luận nhận thức...”, Lênin chỉ ra,
chính quan điểm sai tận gốc của chủ nghĩa duy tâm cho rằng “xét đến
cùng tính khách quan của những vật thể vật lý, mà chúng ta gặp trong
kinh nghiệm của chúng ta, là dựa vào sự kiểm tra lẫn nhau và sự xét
đoán ăn khớp với nhau của những người khác nhau. Nói chung, thế giới
vật lý tức cái kinh nghiệm ăn khớp về mặt xã hội, hài hòa về mặt xã hội.
Tóm lại, là cái kinh nghiệm được tổ chức về mặt xã hội” dẫn họ đến chủ
nghĩa tín ngưỡng ( phê phán chủ nghĩa Ma Khơ) - dù họ có phủ định
chủ nghĩa tín ngưỡng. Đây là nguồn gốc nảy sinh các giáo lý tôn
giáo[ Dẫn theo 24; 12].
Trong chương III mục 3 của “Lý luận nhận thức...”, trong khi phê
phán chủ nghĩa Ma Khơ ở Nga, Lênin chỉ ra, chính chủ nghĩa bất khả tri
của Cant, Hium trong vấn đề tính nhân quả mà những người theo chủ
nghĩa Ma Khơ lập lại, là một trong những nguồn gốc nhận thức của tôn
giáo[Dẫn theo 24; 12].
Trong chương III mục 5 của “Lý luận nhận thức...”, Lênin viết:
“Cũng như tất cả những người theo phái Ma Khơ, Bôdarốp đã lạc đường
14


khi lẫn lộn tính khả biến của những khái niệm của con người về không
gian và thời gian, tính chất hoàn toàn tương đối của những khái niệm ấy
với tính bất biến của cái sự thật này là: Con người và giới tự nhiên chỉ
tồn tại trong không gian và thời gian, còn những vật ở ngoài thời gian và

Gia cốp Bômơ là “người hữu thân duy vật”, không những ông
thần thánh hóa tinh thần, mà ông còn thần thánh hóa cả vật chất nữa. Ở
ông, thượng đế có tính vật chất - chủ nghĩa thần bí của ông là ở chỗ đó.
“Ở chỗ nào con mắt nhìn đến và bàn tay mò đến thì chỗ đó các
thần thánh không tồn tại nữa”[Dẫn theo 24; 14]. Như vậy, nếu thần
thánh hóa vật chất và thực sự chỉ lệ thuộc vào vật chất là nguồn gốc xã
hội của tôn giáo.
Khi lý tưởng của con người không hướng tới sự phù hợp với giới
tự nhiên, mà hướng tới thế giới siêu tự nhiên, khi đó tôn giáo nảy
sinh[Dẫn theo 24; 14]. Sự phiến diện, cứng nhắc, thấy cây mà không
thấy rừng, chủ nghĩa chủ quan và mù quáng chủ quan sẽ dẫn đến chủ
nghĩa duy tâm và là nguồn gốc của tôn giáo”[ Dẫn theo 24; 14].
Trong tôn giáo cũng như trong nền dân chủ, chúng ta đều thấy có
nguyện vọng chung là giải phóng. Nhưng chúng ta thấy rằng, về mặt
này, dân chủ đi xa hơn và tìm sự giải phóng không chỉ trong tinh thần
mà chính trong xác thịt, trong hiện thực vật chất, thực tế, nhờ tinh thần
của con người [Dẫn theo 24; 14].
Nếu chỉ hướng sự giải phóng con người đến sự giải phóng tinh
thần, thì đó là nguồn gốc xã hội cho tôn giáo nảy sinh. Chính trị phi kinh
tế tự nó làm nhục nó.
Tình trạng nô lệ về mặt kinh tế, đó là nguồn gốc thật sự của sự mê
hoặc nhân loại bằng tôn giáo[Dẫn theo 24; 14].
1.2.2. Quan điểm của V.I. Lênin về vai trò của tôn giáo trong xã
hội
Trong xã hội tư bản, sự áp bức chủ nghĩa về mặt kinh tế, gây nên
và đẻ ra mọi hình thức áp bức chính trị đối với quần chúng, làm cho địa
vị xã hội của quần chúng thấp kém đi, đới sống tinh thần và đạo đức của
quần chúng bị mê muội và tối tăm thì tôn giáo là một trong những hình
thức áp bức về mặt tinh thần[Dẫn theo 24; 14].
Với người lao khổ, tôn giáo dạy họ phải cam chịu, phải nhẫn nhục

theo 24; 15].
- Lợi dụng truyền giáo để cướp bóc thuộc địa[Dẫn theo 24; 15].
- Sự phát triển mạnh của Đạo Hồi ở vùng Tác ta vừa có tác dụng
phát triển văn hóa ở vùng này, đồng thời sự liên kết của họ với người
17


theo Đạo Hồi ở Tuốc kê xtan, Trung Quốc, Ấn Độ trong chủ nghĩa Liên
Hồi là một sự nổi loạn, là mối lo ngại của chính phủ Nga[Dẫn theo 24;
16].
- Lê nin cũng chỉ ra tính hai mặt của tôn giáo khi trích dẫn “Các
cha cố đạo Cơ Đốc nói về chiến tranh rằng, các cha cố Pháp lo lắng vì
chiến tranh xảy ra sẽ dẫn đến châu Âu kiệt quệ, các ông khêu gợi lòng
yêu nước của mỗi người và vì sự nhân từ của Chúa (cha của mọi con
chiên), và vì Chúa ở trong lòng mọi người, mà không tiến hành chiến
tranh, nhưng các cha cố người Đức cũng vận dụng lý do đó mà tán thành
chiến tranh do Đức khởi xướng[Dẫn theo 24; 16].
1.2.3. Quan điểm của V.I. Lênin về thái độ của nhà Nước đối
với tôn giáo
“Phải tách Giáo hội ra khỏi Nhà nước.
Tôn giáo phải được tuyên bố là một việc của tư nhân đối với Nhà
nước, Nhà nước không dính đến tôn giáo, các đoàn thể tôn giáo không
được dính đến chính quyền Nhà nước.
Bất cứ ai cũng được quyền tự do theo hoặc không theo bất cứ một
tôn giáo nào đó. Không phân biệt quyền lợi giữa công dân có tín ngưỡng
tôn giáo với các công dân khác.
Trong các văn kiện chính thức của Nhà nước phải vứt bỏ thậm chí
mọi sự nhắc đến tôn giáo nào đó của công dân. Nhà nước không chi bất
cứ một khoản phụ cấp nào cho quốc giáo cũng như các đoàn thể tôn
giáo, giáo hội. Các đoàn thể tôn giáo hoàn toàn độc lập với chính

về vấn đề tôn giáo. Nguồn gốc sâu xa nhất của thành kiến tôn giáo là
cùng khổ và dốt nát. Chính điều đó mà chúng ta cần phải đoàn kết và
đấu tranh[Dẫn theo 24; 17].
1.2.4. Quan điểm của V.I. Lênin về thái độ của Đảng cộng sản
đối với tôn giáo
“Lênin tuyên bố: Người cộng sản đấu tranh đòi cho mỗi người có
toàn quyền tự do theo tôn giáo nào mà mình thích, không những thế mà
mỗi người đều có quyền truyền bá bất kỳ tôn giáo nào hoặc thay đổi tôn
giáo. Vấn đề tín ngưỡng không một ai được can thiệp. Không một tôn
giáo nào hay giáo đường nào có địa vị thống trị cả. Mọi tôn giáo, mọi
giáo hội đều bình đẳng trước pháp luật. Tăng lữ của tôn giáo nào thì do
người theo tôn giáo đó nuôi, Nhà nước không dùng công quỹ để giúp đỡ
19


bất kỳ tôn giáo nào, nuôi bất kỳ tăng lữ nào thuộc bất kỳ tôn giáo nào.
Tất cả những điều đó phải được thực hiện một cách vô điều kiện và
thẳng thắn.
Với những công nhân theo tín đồ Cơ Đốc, và những trí thức theo
chủ nghĩa thần bí, những người cộng sản không gạt họ ra khỏi xô viết và
cũng không gạt họ ra khỏi Đảng. Chúng ta tin rằng, cuộc đấu tranh thực
tế và công việc cùng nhau làm trong một hàng ngũ, trong một đội ngũ
nhất định có thể làm cho tất cả những phần tử có sức sống tin vào chân
lý chủ nghĩa Mác và vứt bỏ những gì không còn có sức sống”[Dẫn theo
24; 18].
Nhiệm vụ chung của tạp chí “dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác” là
“Cơ quan ngôn luận của chủ nghĩa duy vật chiến đấu, phải tiến hành
không biết mệt mỏi cho việc tuyên truyền vô thần và đấu tranh cho vô
thần”[Dẫn theo 24; 18]. “Cần dành nhiều chỗ để tuyên truyền chủ nghĩa
vô thần, để giới thiệu những sách báo nói về vấn đề ấy và để uốn nắn

mới, mặt tiêu cực, lạc hậu của tôn giáo cần được khắc phục, đồng thời
vẫn còn có những yếu tố tư tưởng nhân đạo của tôn giáo, nhất là những
yếu tố nhân bản trong đạo đức của tôn giáo cũng cần được sử dụng.
Hai là: Trong thời kỳ quá độ vẫn còn tồn tại nhiều thành phần
kinh tế khác nhau với lợi ích khác nhau của các giai cấp và các nhóm xã
hội; những yếu tố ngẫu nhiên, tự phát nảy sinh từ nền kinh tế thị trường
làm cho con người sống thụ động, trông chờ vào “những lực lượng
ngoài trần thế”. Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn đang tiếp diễn với nhiều
hình thức vô cùng phức tạp, các lực lượng phản động trong và ngoài
nước vẫn chưa từ bỏ âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng
cũng là chỗ dựa cho tôn giáo tồn tại.
Ba là: Vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX, hàng loạt sự kiện xảy
ra trên thế giới gây tác động mạnh mẽ đến trạng thái tinh thần và tư
tưởng của con người. Chủ nghĩa xã hội tan rã và sụp đổ ở nhiều nước
Đông Âu và Liên Xô tạo nên sự đảo lộn nghiêm trọng trong đời sống
vật chất, tinh thần và làm giảm niềm tin của một bộ phận đông đảo nhân
dân vào lý tưởng xây dựng cuộc sống tốt đẹp trên trần thế. Chủ nghĩa tư
bản ở nhiều nước khủng hoảng bởi sự tăng trưởng kinh tế tỏ ra không
cứu vãn được sự suy thoái về mặt đạo đức và xã hội, điều đó làm sâu sắc

21


thêm tâm lý bất mãn của những người lao động đang mong tìm lối thoát
khỏi nỗi “khổ cực trần gian”.
Nhân loại mặc dù đã bước vào giai đoạn văn minh mới, nhưng
đang đứng trước hàng loạt nguy cơ và bị ám ảnh bởi nhiều nỗi lo sợ: Sự
đe dọa của chiến tranh hạt nhân hủy diệt bởi kho thuốc nổ hiện đang
được tích trữ đủ sức công phá mấy chục lần trái đất và điều đó dường
như thường xuyên nhắc nhỡ con người lời phán đoán của Chúa về “ngày

Lênin suy nghĩ kỹ lưỡng trên nền tảng triết học duy vật biện chứng và
trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Theo các ông, muốn thay đổi ý thức xã hội,
phải thay đổi tồn tại xã hội, muốn xóa bỏ ảo tưởng của con người phải
xóa bỏ nguồn gốc làm nảy sinh nhu cầu có ảo tưởng; muốn đẩy lùi ước
mơ về “thiên đường”, ở thế giới bên kia phải kiến tạo được ở thiên
đường thế giới hiện hữu.
Vì vậy, đấu tranh với tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thế
giới mà niềm vui tinh thần là tôn giáo chứ không trực tiếp “tấn công”
vào thần thánh, “truy kích” Thượng đế. Do đó “phê phán thượng giới
biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán
pháp quyền; phê phán thần học biến thành phê phán chính trị”[13; 15].
Lênin đã từng phê phán hai khuynh hướng giải quyết vấn đề tôn
giáo: khuynh hướng dùng ấn phẩm tuyên truyền thuần túy đấu tranh với
tôn giáo là khuynh hướng tả khuynh vô chính phủ muốn đưa cuộc đấu
tranh chống tôn giáo lên trên cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai
cấp. Ông cho rằng, đấu tranh với tôn giáo phải cực kỳ thận trọng. Trong
cuộc đấu tranh này ai làm tổn thương đến tình cảm tôn giáo thì phải
gánh chịu những hậu quả tai hại của sự thất bại.
1.3. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng
sản, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo
Tư tưởng về tôn giáo là một trong những nội dung quan trọng
trong tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta. Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hội đầy đủ, sâu sắc quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo, vận dụng sáng tạo các quan điểm đó vào
thực tiễn của cách mạng Việt Nam và đã góp phần trí tuệ vào kho tàng
lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin nhiều nội dung mới.

23



kết được, trước hết phải thực sự tôn trọng tự do tín ngưỡng và nhu cầu
24


sinh hoạt tôn giáo cầu sinh hoạt tôn giáo của họ. Nói đến tôn trọng tự do
tín ngưỡng chính là tôn trọng tự do tư tưởng cũng như sự thỏa mãn nhu
cầu về đời sống tâm linh, tôn trọng khát vọng sống hạnh phúc của tín đồ
được biểu hiện dưới hình thức tín ngưỡng tôn giáo. Ở Chủ tịch Hồ Chí
Minh, sự tôn trọng ở chỗ Người tìm cách hạn chế mức thấp nhất sự khác
biệt, mặt mâu thuẫn, đồng thời phát hiện, khai phá phát triển những mặt
thống nhất để hòa đồng. Đánh giá về sự tôn trọng tự do tín ngưỡng, thái
độ chân thành đối với tôn giáo của Bác, một học giả và là một nhà hoạt
động chính trị người Pháp, ông Sanh-tơ-ny đã nói: Về phần tôi, phải nói
rằng, chưa bao giờ tôi có cớ để nhận nơi tấm lòng của cụ Hồ Chí Minh
có một vết nào, dầu rất nhỏ, của sự công kích đa nghi hoặc chế diễu đối
với một tôn giáo bất kỳ
Trong thực tế, sinh hoạt tôn giáo là một mảng sinh hoạt xã hội rất
dễ bị xâm phạm, dễ bị lợi dụng. Vì vậy, để đoàn kết được những người
có đạo và cùng hướng tới mục tiêu chung, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,
những người cộng sản chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng không thôi
thì vẫn chưa đủ mà phải có trách nhiệm bảo vệ cho đồng bào các tôn
giáo thực hành quyền đó và cao hơn nữa là tạo điều kiện thuận lợi cho
họ để thực hiện nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của mình. Quan điểm đó
được Người thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật, các mệnh lệnh của
Chính phủ ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
Năm 1952, Người đã soạn thảo: “Tám điều mệnh lệnh của Chính
phủ...”, trong đó Điều 4 ghi: “Bảo vệ đền, chùa, nhà thờ, trường học,
nhà thương và các cơ quan văn hóa xã hội khác”. Ngày 14 tháng 6 năm
1955, Người ký Sắc lệnh 234/SL, trong đó Điều 16 chương IV khẳng
định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền của nhân dân”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status