TIỂU LUẬN tôn GIÁO học một số NHẬN THỨC cơ bản về tôn GIÁO THEO QUAN điểm CHỦ NGHĨA mác lê NIN và sự vận DỤNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM - Pdf 40

MỞ ĐẦU
Tôn giáo là gì? Tôn giáo có nguồn gốc từ đâu? Bản chất, chức năng của
tôn giáo như thế nào? Sự tồn tại của tôn giáo trong tương lai ra sao?... Đây là
những câu hỏi lớn, trong lịch sử và hiện nay đã có rất nhiều cách tiếp cận, giải
thích. Tuy nhiên tuỳ theo nhận thức, lập trường thế giới quan, phương pháp
luận của mỗi học thuyết khác nhau mà người ta luận giải vấn đề không hoàn
toàn như nhau, thậm chí đối lập nhau. Dù giải thích của các học giả còn nhiều
vấn đề phải bàn ở cả giác độ lý luận và thực tiễn, nhưng có một thực tế là
trong thời đại ngày nay tôn giáo đang nổi lên như một vấn đề hết sức nóng,
gây sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia, dân tộc. Chính vấn đề tôn giáo
hiện nay đang đặt ra trong nhận thức và thực tiễn của con người những vấn đề
cần được cắt nghĩa mang tính khoa học, cách mạng. Để từ đó chúng ta có giải
pháp phù hợp để xử sự với nó cũng mang tính khoa học như đòi hỏi tất yếu
của chính vấn đề.
Để nhận thức và giải quyết vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo theo
định hướng trên, đòi hỏi chúng ta phải trên cơ sở những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo trong điều kiện
thực tiễn hiện nay, phải tỏ rõ thái độ của người cộng sản trong giải quyết vấn
đề tôn giáo trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong phạm vi bài tiểu luận môn “Tôn học giáo”, học trò xin được trình
bày vấn đế “Một số nhận thức cơ bản về tôn giáo theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay”.

3


NỘI DUNG
I. MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ TÔN GIÁO THEO QUAN
ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Bằng sự tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của tư tưởng triết

thực. Song đáng tiếc, Phoiơbắc không đặt vấn đề xoá bỏ tôn giáo mà muốn
hoàn thiện nó. Ông cho rằng, sự khác nhau giữa các thời đại loài người, về đại
thể chỉ là sự khác nhau ở sự thay đổi về phương diện tôn giáo. Ông lại chủ
trương xây dựng một tôn giáo không cần Thượng đế. Tôn giáo tình yêu!
Xuất phát từ phương pháp luận duy vật biện chứng cho rằng tôn giáo là
một hiện tượng lịch sử xã hội, được sinh ra trong xã hội loài người với những
nguyên nhân và điều kiện nhất định. C.Mác đã chỉ rõ “Con người sáng tạo ra
tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người” 1. Theo C.Mác, chính
con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người: “…
tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản
thân mình hoặc đã để mất bản thân mình một lần nữa. Nhưng con người
không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con
người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội
ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược” 2. Như vậy, tôn giáo là
một hiện tượng xã hội do con người sáng tạo ra. Con người ở đây là con
người xã hội, là nhà nước, xã hội. Nhìn lại lịch sử ta thấy tôn giáo ra đời trong
điều kiện lịch sử và trình độ sản xuất hết sức thấp kém, con người vừa thoát
khỏi cuộc sống mông muội của loài vật, hoàn toàn lệ thuộc vào tự nhiên.
Chính sự yếu kém, bất lực trước các hiện tượng của tự nhiên như: sấm, chớp,
mây, mưa, bệnh tật…mà họ không giải thích nổi dẫn đến sợ hãi và phản ứng
bằng cách giải thích rằng đó là do một lực lượng siêu nhiên nào đó mang lại
đối với họ. Ph.Ăngghen còn khẳng định rằng: “Từ thời đại nguyên thuỷ, tôn
giáo đã sinh ra từ những biểu tượng hết sức ngu muội tối tăm và nguyên thuỷ
của con người về bản chất của chính họ và về tự nhiên, bên ngoài bao quanh
1
2

C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.569.
C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.414.


V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979, tr.169.
5 V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979, tr.170.
3
4

6


ở bên ngoài trần tục nữa mà là cuộc đấu tranh chống người thầy tu ở bên
trong bản thân mình, chống cái bản tính thầy tu của mình. Con người chỉ phải
nhận thức bản thân mình, làm cho bản thân mình trở thành thước đo của mọi
quan hệ sống. Không nên đi tìm chân lý ở những miền hão huyền của thế giới
bên kia, ở ngoài thời gian và không gian, ở một “Thượng đế” nào đó dường
như đang sống ở bên trong thế giới hoặc đối lập với thế giới đó, mà phải đi
tìm chân lý gần hơn rất nhiều, ngay ở trong lòng mỗi người. Vì bản chất riêng
của con người vĩ đại hơn nhiều và cao quý hơn nhiều, so với bản chất tưởng
tượng của tất cả những “Thượng đế” có thể có, vì những Thượng đế này chỉ
là sự phản ánh ít nhiều mập mờ và bị bóp méo của bản thân con người. Chính
vì vậy, một lần nữa C.Mác chỉ rõ: “Người công nhân càng làm kiệt sức mình
trong công việc thì thế giới vật phẩm xa lạ đối với anh ta do bản thân anh ta
tạo ra chống lại chính anh ta, trở nên càng mạnh; bản thân anh ta, thế giới bên
trong của anh ta trở nên càng nghèo; của cải thuộc về anh ta càng ít. Trong
tôn giáo tình hình cũng hoàn toàn giống như vậy. Con người hiến cho thần
thánh càng nhiều, thì cái bản thân trong con người càng ít” 6.
Cùng với nguồn gốc tự nhiên là nguồn gốc xã hội, bên cạnh những hiện
tượng tự nhiên hàng ngày tác động tới cuộc sống thì con người còn gặp phải
những mâu thuẫn trong xã hội như vấn đề chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật và
những áp bức, bất công, nhất là từ khi xã hội có phân chia giai cấp, có đối
kháng giai cấp. Ph.Ăngghen nhận định: “Chẳng bao lâu, bên cạnh những sức
mạnh thiên nhiên lại xuất hiện những sức mạnh xã hội, những sức mạnh đối

đúng hoặc sai lệch với hiện thực khách quan. Sự phản ánh sai lệch, việc giải
thích không đúng những hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội nhất là những
vấn đề có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của con người, số phận của con
người… là những tiền đề quan trọng để hình thành tín ngưỡng tôn giáo.
Hơn nữa, trong quá trình tồn tại, các tác động với thế giới hiện thực (cả
tự nhiên và xã hội) do trình độ nhận thức có hạn trước những hiện tượng
phong phú, vừa khó hiểu, vừa gần gũi, vừa xa lạ, vừa bí hiểm đã làm nảy sinh
tâm lý lo sợ, ngưỡng vọng dẫn đến ý thức cho rằng có sự tồn tại thực của
những lực lượng siêu nhiên, đó là cơ sở tâm lý của tôn giáo.

8

V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979, tr.169-170.

8


Như vậy, tôn giáo nảy sinh, tồn tại và phát triển có nguồn gốc từ những
điều kiện cụ thể trên cơ sở khả năng nhận thức và tình cảm của con người
trước những hiện thực khách quan.
1.2. Nhận thức về bản chất của tôn giáo
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo là sự sáng tạo ảo
tưởng, là thế giới quan lộn ngược, là sự phản ánh xuyên tạc, sai lệch thế giới
hiện thực. Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo là sự phản
ánh tồn tại xã hội nhưng đó là sự phản ánh hư ảo, sai lệch trước các hiện
tượng tự nhiên, hiện tượng trong xã hội do trình độ nhận thức của con người
còn thấp kém, không thể giải thích nổi những hiện tương đó. Bằng sự tưởng
tượng, suy tưởng của con người mà các biểu tượng tôn giáo ra đời. Tôn giáo
là sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào đầu óc con người, là “thế giới
quan lộn ngược”, là biến cái tự nhiên thành như cái siêu nhiên, cái trần thế

hơn cả và hình như xa lạ với đời sống vật chất hơn cả”. V.I.Lênin cũng đã chỉ
ra: Tôn giáo là do con người sáng tạo ra; thế giới quan tôn giáo là thế giới
quan lộn ngược; niềm tin tôn giáo là niềm tin gắn liền sự mù quáng ảo tưởng
của một bộ phận quần chúng nhân dân. Người viết: “Tôn giáo là một trong
những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng
lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác
hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc”11.
1.3. Nhận thức về kết cấu của tôn giáo
Bất cứ một tôn giáo nào cũng là một hệ thống với kết cấu : Niềm tin tôn
giáo; tình cảm tôn giáo; tổ chức tôn giáo. Ba yếu tố này gắn bó chặt chẽ, tác
động lẫn nhau, trong đó ý thức tôn giáo - niềm tin hư ảo - là cái xuyên suốt,
bản chất nhất. Yếu tố tổ chức, hành động tôn giáo giữ vai trò rất quan trọng
trong sự tồn tại và phát triển của tôn giáo. Vì vậy, về bản chất, tôn giáo là một
hình thái ý thức xã hội. Nhưng xem xét toàn diện với cả ba yếu tố đó, tôn giáo
không chỉ là một hình thái ý thức xã hội, mà còn là một hiện tượng xã hội
thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội và là một tổ chức, một lực lượng xã
hội - văn hoá - tâm linh khá đông đảo, rộng rãi. Cũng như những hình thái ý
thức xã hội khác, ý thức tôn giáo là sự phản ánh tồn tại xã hội, ra đời từ đời
10
11

C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.437-438.
V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1979, tr.170.

10


sống hiện thực với những hình thức khác nhau theo quy luật chung của ý thức
xã hội và quy luật riêng của nó, phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội.
Đồng thời tôn giáo cũng có tính độc lập tương đối, có tính đặc thù của nó và

thân mình, từ bỏ những ảo tưởng thần thánh để quay trở về với cuộc sống
hiện thực.
Phê phán các nhà duy vật vô thần trước đó, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng
định, thật sai lầm nếu cho rằng sẽ đánh tan được những thiên kiến tôn giáo chỉ
bằng tuyên truyền, giáo dục hay mệnh lệnh hành chính. Tôn giáo là một hình
thái ý thức xã hội nên về nguyên tắc, nó chỉ thay đổi khi bản thân tồn tại xã
hội được thay đổi, nó chỉ được giải quyết khi bản thân hiện thực nảy sinh tôn
giáo được cải tạo. Cũng trong “Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”,
C.Mác đã nêu rõ nguyên tắc này: “Xoá bỏ tôn giáo, coi là hạnh phúc ảo tưởng
của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân. Đòi hỏi
nhân dân từ bỏ những ảo tưởng về tình cảnh của mình nghĩa là đòi hỏi nhân
dân từ bỏ một tình cảnh đang cần có ảo tưởng. Do đó, việc phê phán tôn giáo
là hình thức manh nha của sự phê phán cái biển khổ ấy, cái biển khổ mà tôn
giáo là vòng hào quang thần thánh”13. Do đó, theo ông, “nhiệm vụ của lịch sử,
sau khi thế giới bên kia của chân lý đã mất đi, là xác lập chân lý của thế giới
bên này… Như vậy, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê
phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành
phê phán chính trị”14.
Vì vậy, muốn khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, trước hết
cần phải tạo lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo
đói, thất học…, một thế giới hiện thực không còn cần đến “sự đền bù hư ảo”
của tôn giáo mà người ta có thể tìm thấy những hạnh phúc thật sự ngay trong
cuộc sống, một xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. Đó là một quá trình cách
mạng lâu dài, gian khổ gắn liền với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.569-570.
C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.570.
14 C.Mác và Ph.Ănggen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.570.
12

13

15
16

Dẫn theo: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. tr.236.
V.I.Lênin: Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1981, tr.410.

13


những điều kiện cụ thể mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa xác định thái độ, cách
ứng xử phù hợp.
II. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH
SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, vấn đề tín ngưỡng tôn giáo là một vấn
đề hết sức nhạy cảm, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định chính trị xã hội,
an ninh quốc phòng, sự phát triển kinh tế, văn hoá đất nước. Trong tình hình
hiện nay vấn đề tôn giáo là vấn đề được đặt ra hết sức cấp thiết. Hiện nay chủ
nghĩa đế quốc dùng tôn giáo như một thứ vũ khí lợi hại để thực hiện âm mưu
“diễn biến hoà bình” nhằm xoá bỏ thành quả cách mạng của nước ta. Chính vì
vậy, trong tình hình hiện nay giải quyết vấn đề tôn giáo là vấn đề hết sức phức
tạp, đòi hỏi chúng ta cần tập trung thực hiện tốt quan điểm, đường lối và
chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước. Trung thành và vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Thực hiện nhất quán quan điểm tôn trọng tự
do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Nghiêm cấm mọi hành vi
vi phạm đến tự do tín ngưỡng của nhân dân, và quyền tự do không tín ngưỡng
của nhân dân, được bảo đảm bằng pháp luật. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động tín ngưỡng tôn giáo. Nhà nước không can thiệp vào
công tác nội bộ của các tôn giáo, tuy nhiên nhà nước quản lý tôn giáo bằng
pháp luật theo nguyên tắc đoàn kết, tự do, không khuyến khích, không tài trợ

hợp dân tộc. Tinh thần đó được Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện bằng hệ
thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách mạng và đã có từ khi mới
thành lập Đảng. Trong Chỉ thị của Thường vụ Trung ương về vấn đề thành
lập Hội phản đế Đồng Minh ngày 18/11/1930, Đảng đã có tuyên bố đầu tiên
về chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của quần chúng: “... phải lãnh đạo
từng tập thể sinh họat hay tập đoàn của nhân dân gia nhập một tổ chức cách
mạng, để dần dần cách mạng hóa quần chúng và lại đảm bảo tự do tín ngưỡng
17

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.606.

15


của quần chúng...”18. Sau khi đất nước giành được độc lập, trong phiên họp
đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Tín
ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”19. Theo đó, Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh,
nghị định về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo; qua đó, góp phần củng cố,
phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đóng góp
của đồng bào các tôn giáo vào thắng lợi của cách mạng.
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày 11/11/1977,
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 297-CP về “Một số chính sách đối với tôn
giáo” trong đó nêu lên 5 nguyên tắc về tự do tôn giáo.
Nghị quyết 40 của Ban Bí thư (khoá IV) năm 1981 nêu lên bốn nhiệm vụ
chung: Một là, cảnh giác, đấu tranh trấn áp bọn phản động. Hai là, vận động
quần chúng tăng cường đoàn kết toàn dân, cùng toàn dân xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ba là, tranh thủ cải tạo giáo sĩ và
giáo hội theo hướng phục tùng pháp luật, đi với dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Bốn là, giáo dục quần chúng nhất là lớp trẻ về nhân sinh quan, thế giới quan

sách tôn giáo của Nhà nước, đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi
lợi dụng tôn giáo, phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa
xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”20.
Chủ trương, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo từng bước
được hoàn thiện. Đến đầu thập kỷ 90, trong những năm đầu thực hiện công
cuộc đổi mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 24-NQ/TƯ về công tác tôn giáo
trong tình hình mới, ghi dấu son về sự đổi mới đường lối, chính sách tín
ngưỡng, tôn giáo. Sau gần 10 thực hiện Nghị quyết 24, Đảng ta đã tổng kết,
đánh giá những thành tựu và nêu rõ những khuyết điểm, đồng thời Bộ Chính
trị ra Chỉ thị 37-CT/W ngày 02/7/1998 về công tác tôn giáo trong tình hình
mới. Cho đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá IX về công tác tôn giáo (Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3/2003)
quan điểm, chính sách của Đảng đối với tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được
khẳng định và phát triển thêm một bước mới phù hợp với sự nghiệp đổi mới
của Đảng. Đó là “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
20

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 50, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.494-495.

17


xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do,
tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo
bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ
pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”.
Những quan điểm của Đảng ta từ ngày thành lập đến nay chứng minh
rằng Đảng coi quyền tự do tín ngưỡng là một nhu cầu quan trọng của con

lệnh tín ngưỡng, tôn giáo do ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI thông qua
ngày 18/6/2004 và Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 29/6/2004.
Những quan điểm, chính sách về tín ngưỡng tôn giáo tiếp tục được Đảng
ta khẳng định trong các Nghị quyết của các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX. X.
XI. Điều đó chứng tỏ tính nhất quán và sự vận dụng vào giải quyết có hiệu
quả vấn đề tôn giáo trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nước Việt
Nam. Nhất quán quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo tôn giáo của nhân dân; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác
nhau, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, tại Đại hội XI, Đảng ta
tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển những quan điểm, chính sách của
mình về tôn giáo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ra đời là một minh chứng, một bước tiến
và một lần nữa tiếp tục khẳng định nguyên tắc nhất quán trong chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng tự do tín ngưỡng,
tôn giáo.
Thực tế, những chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo không phải
chỉ được khẳng định ở Hiến pháp, pháp luật hay trong các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng mà được thể hiện sống động trong cuộc sống hàng ngày.
Trong điều kiện mới, để tăng cường hơn nữa sự đoàn kết gắn bó đồng
bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta chỉ rõ: “Lấy
19


mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, phấn đấu vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương
đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở
trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm,
định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những
ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc” 21. Nghị quyết chỉ rõ:

điều kiện để các tôn giáo hoạt động thuận lợi; không chỉ góp phần từng bước
nâng cao đời sống vật chất tinh thần của toàn thể quần chúng nhân dân, mà
còn từng bước thực hiện những ước nguyện cao nhất của các tôn giáo; không
chỉ góp phần làm cho “tốt đời” mà còn góp phần làm cho “đẹp đạo”. Sự phát
triển nhận thức mới của Đảng cũng chính là cơ sở khoa học để đánh bại mọi
thủ đoạn tuyên truyền kích động, xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với
các quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng ta.
2.2. Giải quyết vấn đề tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, trong xu thế phát triển hội nhập, đa phương hoá, đa dạng hoá
các mối quan hệ, kẻ thù luôn tìm mọi cách lợi dụng tôn giáo để chống phá
cách mạng nước ta. Do đó, vấn đề đặt ra ở đây là phải không ngừng tiếp thu
và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề tôn giáo trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam, phải
nhất quán với chính sách tôn giáo, phải thực hiện lương giáo đoàn kết cùng
nhau xây dựng một xã hội phồn thịnh và phát triển.
Trên thực tế có những tôn giáo trong tiến trình ra đời, tồn tại và phát
triển của mình đã trải qua những thăng trầm, biến cố do sự phát triển vận
động của quy luật xã hội, nhưng trên cơ sở và những yếu tố tích cực của tôn
giáo chân chính đó, cộng thêm sự kiên trì giữ vững lòng tin vào tín ngưỡng
tôn giáo của mình của một bộ phận nhân dân đã góp phần xây dựng, củng cố
các giá trị đạo đức, luận lý và nhân bản trong xã hội, trong gia đình trong
nhiều năm thậm trí là nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển của các tôn giáo và
điều đó đã được phát huy rất có hiệu quả trong cuộc sống đời thường của
nhân dân ta.
Do nhận thức rõ yếu tố tích cực của các tôn giáo, nên Đảng và nhà nước
ta có quan điểm, chính sách về tín ngưỡng tôn giáo và đã xác định rõ: “Tiếp
tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan
điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn
21



Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.245.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.81.

22


vi lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta và đấu tranh
ngăn chặn các hoạt động vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân, Đại hội
XI của Đảng đã chỉ chỉ rõ: “... chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với
những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại
khối đại đoàn kết dân tộc”25. Quan điểm trên vừa phản ánh tình hình các thế
lực thù địch ngày càng gia tăng các hoạt động lợi dụng tôn giáo can thiệp vào
công việc nội bộ của nước ta vừa khẳng định quyết tâm và nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải không ngừng đề cao cảnh giác cách mạng,
chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đánh thắng mọi âm mưu thủ
đoạn của các thế lực thù địch thù địch lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân
quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng chống phá cách mạng nước ta. Tôn trọng
tự do tín ngưỡng, đồng thời phải kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng tự do tín
ngưỡng để trục lợi, gây rối trật tự, an toàn xã hội là hai nội dung cơ bản thể
hiện tính khoa học và cách mạng trong quan điểm tôn trọng tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của Đảng ta. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo khẳng định: “Nghiêm cấm lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây
rối, xâm phạm an ninh quốc gia”. Như vậy, đi đôi với tôn trọng, đảm bảo
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, pháp luật của Việt Nam cũng
nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và
đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản các tín đồ thực hiện
nghĩa vụ công dân; đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động lợi dụng

thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Tăng cường công tác vận động quần
chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở cơ sở; Tăng cường quản lý nhà nước về
tôn giáo; Tăng cường công tác tổ chức, cán bộ làm công tác tôn giáo.
Ba là, Đảng và Nhà nước phải luôn quan tâm, tạo điều kiện mọi mặt để
phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho đồng bào vùng sâu, đồng bào vùng có đạo, phải xây dựng cho được thiên
đường ở trần gian thì thiên đường bên kia sẽ mất đi, xây dựng thành công
chế độ xã hội: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thực hiện chủ nghĩa cộng sản là lập trường với tính cách là phủ định của phủ
định, cho nên nó là nhân tố hiện thực, cần thiết cho giai đoạn phát triển lịch
27

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.81.

24


sử sắp tới, của sự giải phóng con người và của sự giành lại con người. Chủ
nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai
sắp tới.
Tóm lại, tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, vô cùng phức
tạp và nhạy cảm; là vấn đề đang nổi lên hiện nay không chỉ ở Việt Nam, mà
trên khắp thế giới; là vấn đề mà kẻ địch đang tìm mọi cách lợi dụng để chống
phá, chia rẽ các dân tộc, các tôn giáo ở các nước, các khu vực trên khắp thế
giới trong đó có Việt Nam. Nhận thức được vấn đề đó, ngay từ đầu Đảng và
Nhà nước ta qua các giai đoạn cách mạng đều xác định: Công tác tôn giáo là
vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng. Từ đó, Đảng, Nhà nước ta đã
luôn nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo những quan điểm, tư tưởng của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam và đã thu được kết quả to lớn, là xây dựng và phát huy được sức

quê hương mình, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xây dựng đất nước phồn vinh, gia đình
hạnh phúc, thực hiện đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội. Đồng thời kiên
quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện và hành vi mê tín dị đoan, tà đạo, lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại cuộc sống của nhân dân, chia
rẽ đoàn kết các tôn giáo và dân tộc.
Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất.
Ngoài chức năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, quân đội còn
tham gia tích cực có hiệu quả vào việc phát triển kinh tế xã hội mà trực tiếp là
trên địa bàn đóng quân, tích cực tuyên truyền và vận động nhân dân thực hiện
các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có
những vấn đề về tôn giáo. Trên những địa bàn xung yếu, địa bàn tôn giáo,
quân đội cùng với các lực lượng chính trị xã hội khác cần phải thực sự là “tai
mắt” của Đảng, Nhà nước, kịp thời phát hiện và cùng với tổ chức Đảng, chính
quyền và các đoàn thể xã hội địa phương, giải quyết một cách hiệu quả tình
hình phức tạp tôn giáo nảy sinh. Để thực hiện tốt quan điểm, đường lối của
26


Đảng về vấn đề tôn giáo, chúng ta phải thực hiện tốt một số biện pháp trong
quân đội:
Một là, không ngừng tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách tôn
giáo của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và cho nhân
dân địa phương nơi đóng quân.
Hiện nay, có nhiều yếu tố làm cho tín ngưỡng, tôn giáo tác động tiêu cực
vào đời sống tinh thần quân nhân. Trong đó có cả yếu tố khách quan, chủ
quan, yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tác động tổng hợp tạo nên
những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo đối với đời sống tinh thần
quân nhân theo nhiều chiều: cản trở việc hình thành, phát triển thế giới quan
khoa học của quân nhân; cản trở sự phát triển văn hoá, đạo đức của quân nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status