ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
LỊCH SỬ - VĂN HÓA DÕNG HỌ TRẦN DANH
Ở THÔN PHƢƠNG TRIỆN XÃ ĐẠI LAI
HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
LỊCH SỬ - VĂN HÓA DÕNG HỌ TRẦN DANH
Ở THÔN PHƢƠNG TRIỆN XÃ ĐẠI LAI
HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HÀ THỊ THU THỦY
THÁI NGUYÊN - 2016
MỤC LỤC
Lời cam đoan .............................................................................................................. i
Lời cảm ơn................................................................................................................. ii
Mục lục ..................................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 3
3. Đối tƣợng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................. 6
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ..................................................... 7
5. Đóng góp khoa học của đề tài .......................................................................... 9
6. Bố cục luận văn ............................................................................................... 10
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.. 12
1.1. Về vấn đề nghiên cứu .................................................................................. 12
1.1.1. Khái niệm dòng họ.................................................................................... 12
1.1.2. Một số dòng họ ở Bắc Ninh ..................................................................... 13
1.2. Khái quát về xã Đại Lai ............................................................................... 15
1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên............................................................. 15
1.2.2. Lịch sử hành chính.................................................................................... 17
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội ......................................................................... 19
1.2.4. Truyền thống lịch sử - văn hóa................................................................. 21
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................... 29
Chƣơng 2. NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG
HỌ TRẦN DANH Ở THÔN PHƢƠNG TRIỆN XÃ ĐẠI LAI HUYỆN
GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH ............................................................................. 30
2.1. Nguồn gốc dòng họ Trần Danh ................................................................... 30
2.2. Sự phát triển dòng họ Trần Danh ................................................................ 36
Tiểu kết chƣơng 2 ............................................................................................... 45
Chƣơng 3. VĂN HOÁ DÕNG HỌ TRẦN DANH Ở THÔN PHƢƠNG
hoa văn hóa nhân loại đƣợc xem là nền tảng, là nhân tố điều tiết đích thực của sự
phát triển. Bởi vậy để xây dựng một xã hội công bằng, văn minh phải dựa trên cơ
sở trân trọng, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, mà trƣớc hết là phải phát huy đƣợc
truyền thống của gia đình, của dòng họ. Chế độ chính trị xã hội thay đổi theo tiến
trình phát triển của lịch sử, song tổ chức gia đình và dòng họ thì luôn trƣờng tồn
cùng non sông đất nƣớc. Mỗi dòng tộc, nhất là các dòng họ lớn, đều có truyền
thống văn hóa, bản sắc riêng của mình. Những nét riêng đó góp lại hình thành
nên nền văn hóa dân tộc. Nói cách khác, văn hóa của dòng họ chính là cơ sở nền
tảng của truyền thống và bản sắc văn hóa quốc gia.
Nghiên cứu về lịch sử - văn hóa của các dòng họ một mặt là động lực
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, mặt khác củng cố và khơi dậy
ý thức, lòng biết ơn và niềm tự hào về công đức cũng nhƣ những giá trị tinh
thần, vật chất mà tổ tiên truyền lại. Dòng họ là nơi lƣu giữ, bảo tồn những di
sản văn hóa của các thành viên trong dòng tộc gây dựng từ nhiều đời nhƣ: Gia
phả, nhà thờ, sắc phong, câu đối, văn bia, sách truyện, nghề truyền thống…
Trong dòng họ ngƣời trƣởng họ giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và chỉ
đạo các hoạt động nhƣ cúng tế, giỗ tổ, mừng thọ.
Ngƣời Việt Nam rất coi trọng dòng họ, là một trong những giá trị văn
hóa hàng đầu của ngƣời Việt, là ý thức tìm về cội nguồn. Dù ở bất cứ nơi đâu
thì ý thức về tổ tiên, trƣớc hết là tổ tiên dòng tộc vẫn là một trong những ý thức
1
sâu sắc nhất. Chính vì vậy mà ngày nay, đang hình thành một xu hƣớng, một
trào lƣu ghép nối gia phả, trùng tu tôn tạo từ đƣờng của dòng họ… Đây là biểu
hiện của ý nghĩa giá trị văn hóa cũng nhƣ đạo lý mang đậm tính nhân văn của
dân tộc ta. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó và ở vài nơi đôi khi cũng có
những biểu hiện lệch lạc bản chất tốt đẹp của văn hóa dòng họ, đó là việc một
số gia đình lợi dụng một số hoạt động để trục lợi cho bản thân hoặc cho dòng
và của địa phƣơng; hiểu đƣợc tầm quan trọng và vai trò của dòng họ đó trong
việc lƣu giữ và trao truyền các giá trị truyền thống; thấy đƣợc nét đặc trƣng
cũng nhƣ tính địa phƣơng của một dòng họ.
Về thực tiễn, nghiên cứu lịch sử - văn hóa dòng họ sẽ thấy đƣợc những
giá trị tích cực cũng nhƣ mặt hạn chế của một thiết chế dòng họ; kết quả nghiên
cứu góp thêm cơ sở khoa học cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phƣơng
trong việc hoạch định và triển khai có hiệu quả các chủ trƣơng, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc tại địa phƣơng, nhất là trong công cuộc xây
dựng nông thôn mới hiện nay.
Trên cơ sở ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, tôi đã quyết định chọn đề
tài “Lịch sử -Văn hóa dòng họ Trần Danh ở thôn Phương Triện xã Đại Lai
huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ Lịch sử cho mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu dòng họ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn không chỉ về
lịch sử dòng họ đó mà còn nhận diện đƣợc phần nào đời sống kinh tế, chính trị,
xã hội và văn hóa của địa phƣơng đó. Chính vì vậy, vấn đề này đã thu hút đƣợc
nhiều học giả trên thế giới và ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Khi tìm hiểu
các công trình nghiên cứu liên quan đến dòng họ, chúng tôi thấy các tác giả đề
cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống dòng họ nhƣ sau:
Nhóm thứ nhất, đề cập đến dòng họ trong mối liên quan đến làng xã,
văn hóa làng, văn hóa Việt Nam, trong đó đáng chú ý là cuốn “Cơ cấu tổ chức
của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” của Trần Từ xuất bản năm 1984, cuốn sách
đã trình bày khá chi tiết bức tranh làng Việt nhìn ở nhiều góc độ khác nhau.
Tác phẩm “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh (2003), là cuốn
3
sách đã đƣa ra những thông tin giá trị về dòng họ đặt trong mối tƣơng quan
với văn hóa Việt Nam, cuốn sách đƣợc chia làm 5 thiên: Thiên thứ nhất: Tự
bằng sông Hồng. Nguyễn Từ Chi trong cuốn “Góp phần nghiên cứu văn hóa và
tộc người” (2003) đã dành một phần nhỏ nghiên cứu về dòng họ và văn hóa các
dòng họ trên đất nƣớc Việt Nam.
Nhóm thứ tƣ, những công trình nghiên cứu về vùng đất, con ngƣời Gia
Bình và những nhân vật nổi tiếng của dòng họ Trần Danh ở thôn Phƣơng Triện,
xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”. Đầu tiên phải kể đến tác phẩm
Lược truyện các tác gia Việt Nam - tập1 (xuất bản năm 1972) ông Trần Văn
Giáp và các tác giả giới thiệu về cụ Trần Danh Án với rất nhiều tác phẩm về
văn, sử và địa.
“Lịch sử Đảng bộ xã Đại Lai từ 1930- 2002” do Ban chấp hành Đảng bộ
xã Đại Lai biên soạn 2003 cũng là một tác phẩm đề cập đến toàn bộ vị trí địa
lý, truyền thống lịch sử, cách mạng và phong trào đấu tranh anh dũng của nhân
dân Đại Lai trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Trong truyền
thống đấu tranh đó có sự đóng góp rất lớn của con cháu họ Trần Danh. Tác
phẩm cũng đề cập đến công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của
nhân dân Đại Lai từ khi đất nƣớc lập lại hòa bình đến nay. Qua đó, ta thấy đƣợc
những đóng góp của họ Trần Danh trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Tiếp đó ngày 05/10/2009 mộ và nhà thờ các vị Tiến sĩ họ Trần đã đƣợc Ủy ban
nhân dân tỉnh Bắc Ninh cấp Bằng xếp hạng là di tích Lịch sử - Văn hóa theo
quyết định số 1489/QĐ-UBND. Và đến ngày 28/01/2015 di tích đƣợc Bộ văn
hóa thể thao du lịch đã ra quyết định số 224/QĐ- BVHTTDL công nhận là Di
tích Quốc gia. Dòng họ Trần Danh từ sau sự kiện này càng đƣợc nhiều ngƣời
biết tới.
Về tài liệu của họ Trần Danh ở Phƣơng Triện - xã Đại Lai, năm 1996 ông
Trần Dực và Trần Khánh - ngƣời rất tâm huyết với dòng họ đã dịch từ quyển
gia phả bằng chữ Hán sang tiếng việt và biên soạn thành cuốn “Gia phả họ:
Trần Bảo Triện”. Đây là tƣ liệu quan trọng của dòng họ để tìm hiểu về lịch sử
5
6
3.4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Thôn Phƣơng Triện, xã Đại Lai, huyện Gia
Bình, tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi thời gian: Từ nguồn gốc hình thành cho đến nay.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
- Tƣ liệu thành văn: Các luận văn, luận án, sách tham khảo, đặc biệt là
sách chuyên khảo viết về lịch sử dòng họ, gia phả dòng họ đã đƣợc các tác giả
công bố xuất bản.
- Tài liệu lƣu trữ: Các Văn kiện của Đảng, các chỉ thị, Nghị quyết; các
bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc liên quan tới nội dung
nghiên cứu của đề tài.
- Tài liệu điền dã: Hệ thống các tài liệu gồm Hồ sơ di tích, thần phả đình
Tổ, văn bia, câu đối, sắc phong trong đền thờ của dòng họ đƣợc tác giả thu thập
đƣợc trong quá trình thực địa tại thôn Phƣơng Triện, xã Đại Lai, huyện Gia
Bình, tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng một số phƣơng pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử: Tác giả vận dụng phƣơng pháp này để để tìm hiểu
nguồn gốc lịch sử hình thành và phát triển của dòng họ Trần Danh. Thông qua
các nguồn tƣ liệu, tác giả làm rõ đƣợc giá trị văn hóa cũng nhƣ giá trị lịch sử
của dòng họ trong lịch sử văn hóa nƣớc nhà. Từ đó đánh giá một cách khách
quan những đóng góp to lớn về kinh tế, văn hóa của dòng họ đối với lịch sử
quê hƣơng và lịch sử dân tộc. Đặc biệt, thông qua công tác xử lý tƣ liệu, tác giả
làm rõ đƣợc truyền thống hiếu học từ đời xƣa truyền lại trong dòng họ. Là một
hƣơng nói riêng và dân tộc nói chung. Để làm rõ đƣợc điều đó, tác giả cần đánh
giá khách quan, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của từng thời kỳ. Ở đây tác
giả chú ý tới gia phong, tinh thần hiếu học, sự đóng góp trong lĩnh vực kinh tế,
văn hóa của dòng họ Trần Danh cho quê hƣơng đất nƣớc. Từ đó rút ra những
bài học kinh nghiệm quý báu để giúp các thế hệ con cháu mai sau đƣợc học tập
nhiều hơn. Đồng thời cũng sẽ là những tấm gƣơng sáng trong công cuộc rèn
đức luyện tài cho cộng đồng xã hội.
8
Phương pháp điền dã dân tộc học: đƣợc vận dụng trong quá trình đi khảo
sát thực tế ở địa phƣơng, với các kỹ năng quan sát, phỏng vấn ngƣời cao tuổi và
trƣởng tộc của dòng họ tại địa bàn nghiên cứu... Trên sơ sở đó, tác giả có so
sánh, giám định tƣ liệu để có đƣợc những căn cứ khoa học nghiên cứu vấn đề.
Phương pháp chuyên gia: Khi nghiên cứu đề tài, tác giả tiến hành tham
khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực văn hóa, dòng
họ, lãnh đạo các phòng, ban của Sở Văn hóa, Ban tuyên giáo của huyện, của
tỉnh… Từ đó, đƣa ra những kết luận, nhận định xác thực cho đề tài.
5. Đóng góp khoa học của đề tài
Luận văn “Lịch sử - Văn hóa dòng họ Trần Danh ở thôn Phương Triện
xã Đại Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh” là một công trình khảo cứu cung
cấp cho ngƣời đọc bức tranh toàn cảnh về nguồn gốc, lịch sử phát triển của
dòng họ Trần Danh trong lịch sử dân tộc. Đặc biệt, văn hóa truyền thống của
dòng họ với nề nếp gia phong tốt đẹp, là tấm gƣơng sáng cho thế hệ trẻ noi
theo. Vì thế, tác giả mong muốn luận văn này có những đóng góp nhƣ sau:
Thứ nhất, những ngƣời trong dòng họ hiểu rõ cội nguồn gia tộc mình với
những truyền thống nhân văn cao quý, sẽ noi theo gƣơng sáng của ngƣơi xƣa
mà nhận biết trách nhiệm, xây dựng lý tƣởng cho mình. Đó là truyền thống đạo
lí “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tốt đẹp của dân tộc ta.
Thứ hai, những ngƣời ngoại tộc biết đến dòng họ Trần Danh cũng cảm
11
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Khái niệm dòng họ
Dòng họ là toàn thể nói chung những ngƣời cùng huyết thống làm thành
các thế hệ nối tiếp nhau. Dòng họ là một hiện tƣợng lịch sử - xã hội đặc biệt
mang tính phổ quát của nhân loại. Ý thức về dòng họ là dấu hiệu quan trọng
đánh dấu bƣớc phát triển của xã hội loài ngƣời từ mông muội đến văn minh.
Dòng họ có từ trƣớc khi xã hội phân chia thành giai cấp và một khi Nhà nƣớc
đã tiêu vong, thì dòng họ với tƣ cách là sự liên tục giữa cha và con cháu vẫn
tồn tại.
Nói về dòng họ, ngƣời Trung Hoa từ thời cổ đại đã có hai từ khác nhau
là "Tính" và "Thị". "Tính" là ký hiệu nói rõ một gia tộc đã sản sinh ra một con
ngƣời nào đó. Bộ từ điển cổ nhất tƣơng đối hoàn chỉnh là "Thuyết văn giải tự"
hoàn thành vào năm 1000 sau Công nguyên giải thích về chữ "Tính" nhƣ sau: "
Nhân sinh dĩ vi tính, tòng nữ sinh" (Thời cổ đại xa xƣa, loài ngƣời đã trải qua
chế độ thị tộc mẫu hệ, trong đó chế độ hôn nhân là ngoại tộc quần hôn. Cả một
tốp những ngƣời nam cùng lứa tuổi của thị tộc A đƣợc đƣa đến thị tộc B làm
chồng của cả một tốp ngƣời nữ cùng lứa. Con đẻ ra tất nhiên không biết bố, mà
chỉ sống với mẹ. Đó chính là nguyên nhân việc tạo ra chữ "Tính" bằng cách
ghép chữ "Nữ" với chữ "Sinh").
Rất nhiều họ thời cổ đại ghi lại trong "Thuyết văn giải tự" đều viết với bộ
Nữ nhƣ họ Khƣơng đƣợc chú thích là họ của Thần Nông, đẻ ra ở Khƣơng
Thủy. Họ Cơ đƣợc chú thích là họ của Hoàng Đế, đẻ ra Cơ Thủy. Họ Diêu
đƣợc chú thích là họ của Ngu Thuấn, đẻ ra ở Diêu Khƣ... và nhiều họ khác nhƣ
họ Cất, họ Vân, họ Hào, họ Doanh... Đó là những minh chứng cho thấy "Tính"
(họ) khởi nguồn từ xã hội mẫu hệ.
những quy phạm gia phong, lệ tục, khoán ƣớc của gia đình, dòng họ, hƣơng
ƣớc, phong tục của làng xã, phản ánh cuộc sống cộng đồng có quy củ và tổ
13
chức cao. Nhờ đó, các giá trị chuẩn mực văn hóa vật chất và tinh thần của gia
đình, dòng họ làng xã đƣợc xây dựng, bảo tồn và phát triển, đồng thời tạo nên
nội lực mạnh mẽ để tiếp thu tinh hoa văn hóa ngoại nhập. Bởi vậy mà từ xa xƣa
ở miền quê Kinh Bắc, nhiều gia đình, dòng họ, làng xã đƣợc nhà nƣớc phong
kiến và xã hội suy tôn là “Mỹ tục khả phong”, “Địa linh nhân kiệt”, “Gia phong
văn hiến”… và ngày nay con cháu vẫn kế tục và phát huy những giá trị tốt đẹp
của dòng họ.
Dòng họ Nguyễn Đức là gia tộc lớn ở Quế Ổ - Chi Lăng - Quế Võ - Bắc
Ninh từ đầu thế kỷ XV và liên tục từ đó đến nay đã hơn 600 năm. Theo trƣờng
kỳ lịch sử, đây là thời kỳ độc lập tự chủ, hội tụ nhiều bậc anh hùng, hào kiệt,
văn tài võ lƣợc; Cũng đúng thời kỳ này dòng họ Nguyễn Đức đã nổi tiếng võ
công lừng lẫy mà dấu thơm muôn thuở còn truyền. Tại nhà thờ Nguyễn Đức
Đại Tổ đƣờng còn lƣu lại đôi câu đối “Thế thụ quân ân: Vương, công hầu, bá,
tử/ Thiên xương Nguyễn Đức: Phú, quý, thọ, khang, ninh” (Đời đời nhận ơn
vua, đƣợc ban các tƣớc: Vƣơng, công hầu, bá, tử/ Trời phú cho họ Nguyễn Đức
đƣợc: Phú, quý, thọ, khang, ninh). Sách “Địa phƣơng chí Bắc Ninh qua tƣ liệu
Hán Nôm” của Viện KHXH Việt Nam; sách “Lê Quý kỷ sự” Lê Quý Đôn viết:
“Thời Lê Trung hƣng ở thôn Quế Ổ có một dòng họ To và Mạnh nhất Kinh
Bắc, đó là dòng họ Nguyễn Đức có đến 8 đời nối nhau làm tƣớng phò vua giúp
nƣớc với 18 Quận công,… Trong Nguyễn Đức tộc phả ghi:… chỉ nói những
ngƣời có khoa danh, ở đời có tiếng tăm mới kể: 18 Quận Công, 3 Đại Vƣơng, 76
tƣớc hầu, 3 tạo sỹ, 4 vị lấy công chúa, trúng vũ cử 2 ông, thi văn trúng hƣơng cử
4 ông…”. Đặc biệt dòng họ đã có đóng góp rất ý nghĩa cho quê hƣơng. Tập thơ
“Loa hồ bách vịnh” của Phó bảng Nguyễn Đức Lâm, ngƣời làng Phù Lƣu ngày
tích cấp quốc gia còn ở Quế Võ đƣợc công nhận là di tích cấp tỉnh.
1.2. Khái quát về xã Đại Lai
1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Đại Lai là một trong 13 xã, thị trấn của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh,
nằm ở phía Bắc, Đông Bắc huyện Gia Bình, phía Tây giáp xã Xong Giang,
15
Đông giáp xã Thái Bảo, Nam giáp xã Nhân Thắng, phía Bắc giáp Sông Đuống,
bên kia là xã Đào Viên (huyện Quế Võ). Vốn là vùng đất cổ, đƣợc hình thành
từ sớm nên Đại Lai có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn hoá Việt
Nam nói chung và văn hiến Kinh Bắc nói riêng. Ngay từ rất sớm, làng Trung
Thành xã Đại Lai có lò gốm “lò này có từ thế kỷ II sau Công Nguyên, vào loại
sớm nhất Kinh Bắc... Các vật dụng của đoàn thợ với 16 kiểu dáng, có men và
không men...”... “Đồ gốm của di chỉ này có nhiều nét gần gũi với Lãng Ngâm
(Hà Bắc); Đƣờng Cổ, Nam Chinh (Hà Tây); Chùa Thông (Hà Nội). Hiện vật thu
đƣợc gồm: 1 bàn niêu và 1 đôi xe chỉ... nhƣ vậy có thể xếp di chỉ Đại Lai vào
giai đoạn Đông Sơn muộn của thời đại đồng thau - sắt sớm Việt Nam” (Qua
nghiên cứu khảo cổ học và tài liệu Dƣ địa chí Hà Bắc do Sở Văn Hóa - Thông
tin xuất bản năm 1982) [6, tr. 10].
Xã có diện tích đất tự nhiên là 815 ha, trong đó đất canh tác là 446 ha, dân
số là 7871 ngƣời, mật độ dân cƣ 966 ngƣời/km2 (số liệu tháng 9 năm 1999).
Là một xã nằm liền kề bên dòng sông Đuống (sông Thiên Đức) thuộc
đồng bằng Bắc Bộ. Xã có 4 thôn, nằm trải dài ven đê sông Đuống, đất đai ở đây
khá bằng phẳng, nó đƣợc bồi tụ bởi hai con sông là Sông Lai (sông cổ ngày
xƣa, nay chỉ còn dấu tích) và sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay). Do đó
đất đai rất màu mỡ, có đê ngăn nƣớc, vùng đất bãi trồng màu, thuận tiện cho
phát triển nền kinh tế nông nghiệp khá toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi.
Địa hình trong vùng tƣơng đối bằng phẳng, hệ thống giao thông, thuỷ lợi
đã có ngƣời Việt tụ cƣ ở đó. Thời các vua Hùng chia nƣớc Văn Lang thành 15
bộ, Gia Bình nằm trong bộ Vũ Ninh. Thời Thục Phán - An Dƣơng Vƣơng thì
vùng đất Gia Bình ngày nay thuộc bộ lạc An Định. Thời thuộc Tần (214 - 209
TCN) Bắc Ninh (trong đó có vùng đất Gia Bình) thuộc Tƣợng Quận. Thời
Triệu Đà (208 - 207 TCN) Bắc Ninh thuộc quận Giao Chỉ. Nhƣ vậy đất Gia
Bình khi đó cũng thuộc quận Giao Chỉ. Thời thuộc Hán (210 TCN - 40) đất Gia
Bình gọi là huyện An Định. Thời thuộc Đƣờng (TK VIII) đất Gia Bình là địa
phận của hai huyện An Bình và Nam Định.
17
Trải qua các đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê sáp nhập hai huyện An Bình và
Nam Định thành huyện An Định thuộc lộ Bắc Giang. Thời thuộc Minh (1414 1427 ) huyện An Định thuộc châu Gia Lâm và thuộc phủ Bắc Giang. Đầu thời
Lê Quang Thuận (1460 - 1469) huyện An Định đƣợc đổi là huyện Gia Định và
trực thuộc phủ Thuận An. Đời Gia Long (1802 - 1819) huyện lị huyện Gia
Định đóng ở xã Bảo Khám. Năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) huyện Gia Định
đổi tên là huyện Gia Bình. Từ đầu thời Nguyễn đến năm 1884: huyện Gia
Bình có 8 tổng 68 xã thôn phƣờng sở [43, tr. 219]. Khi đó tổng Đại Lai có 14
xã phƣờng: Đại Lai xã; Nhân Hữu xã gồm 4 thôn Cầu (làng Ngụ Ngoài), Đào
(làng Ngụ Trong), Đoàn, Lê (làng Lời); Gia Phú xã; Bồng Trì xã (làng Đìa);
Phƣơng Độ xã; Phùng Xá xã (làng Bùng); Huề Đông xã; Bảo Triện xã; Ngô
Cƣờng xã (làng Ngò); Hƣơng Triện xã; Địch Trung xã; Cẩm Xá xã (làng
Vối); Ngọc Triện xã; Bái Giang phƣờng.
Thời Pháp thuộc từ năm 1884 - 1945: huyện Gia Bình có 8 tổng và 66 xã
thôn [42, tr. 231]. Lúc này tổng Đại Lai có 11 xã phƣờng, trong đó xã Phƣơng
Triện gồm 2 thôn Cống (làng Triện Quang) và thôn Trung. Thời kỳ kháng
chiến chống Pháp 1945 - 1954: các xã Đại Lai, Địch Trung, Huề Đông của tổng
Đại Lai hợp thành xã Thái Lai gồm 3 thôn: Đại Lai, Địch Trung, Huề Đông.
Sang đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954: các xã Đại Lai, Địch
tạo của mình để làm ra những sản phẩm thủ công phong phú và đa dạng. Đó là
nghề làm quang tre có từ lâu đời ở Phƣơng Triện, đƣợc bán khắp vùng sang các
tỉnh bạn nhƣ Quảng Ninh, Hải Phòng... Bên cạnh đó còn một số nghề nhƣ nghề
đan nia, nghề làm đó tôm...
Về thƣơng nghiệp: Với vị trí thuận lợi nằm sát sông Đuống, thuyền bè đi
lại thuận tiện, có bến đò ngang nên thƣơng nghiệp ở đây phát triển sớm. Chợ
Đại Lai đƣợc ra đời, là chợ lớn nhất của xã. Chợ họp hàng ngày vào cả hai buổi
sáng và chiều nhƣng đông đúc nhất là vào những ngày chợ phiên. Chợ họp mỗi
tháng 12 phiên vào các ngày 2, 5, 7, 10. Ngày chợ phiên, ngƣời mua ngƣời bán
tấp nập, họp ra cả đƣờng cái, kéo dài hàng cây số. Chợ bán các loại: bánh kẹo,
19