LUẬN văn THẠC sĩ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG của các BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN ủy ở ĐẢNG bộ TỈNH hà NAM HIỆN NAY - Pdf 40

3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để xây dựng Đảng bộ huyện thuộc Đảng bộ tỉnh Hà Nam vững mạnh về
chính trị, tư tưởng và tổ chức cần giải quyết nhiều vấn đề, trong đó có việc chăm
lo xây dựng các cơ quan tham mưu của Huyện ủy vững mạnh. Cùng với các Ban
xây dựng Đảng của Huyện ủy, Ban Tuyên giáo Huyện ủy có vai trò vô cùng
quan trọng.
Cũng như các Ban Tuyên giáo Huyện ủy nói chung, các Ban Tuyên giáo
Huyện ủy ở Đảng bộ tỉnh Hà Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong tham
mưu, đề xuất với Huyện ủy những chủ trương, biện pháp lãnh đạo công tác giáo
dục chính trị tư tưởng trong huyện. Trực tiếp thực hiện công tác giáo dục lý luận
chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân trên địa bàn huyện. Tổ chức quán triệt,
triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng các cấp; tuyên truyền
thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Hoạt động của Ban Tuyên giáo
Huyện ủy góp phần tạo sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận
trong nhân dân. Vì vậy, hoạt động của Ban Tuyên giáo Huyện ủy có vai trò
quyết định trong việc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, thông qua đó góp
phần quan trọng vào sự phát triển mọi mặt địa phương.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của Ban Tuyên giáo Huyện ủy, trong những
năm qua, Ban Thường vụ Huyện ủy các huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã
quan tâm xây dựng các Ban Tuyên giáo Huyện ủy vững mạnh, lãnh đạo, chỉ
đạo, tạo điều kiện để các Ban Tuyên giáo Huyện ủy không ngừng nâng cao hiệu
quả hoạt động, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiện nay hiệu
quả hoạt động của các Ban Tuyên giáo Huyện ủy còn hạn chế nhất định trong
thực hiện chức năng, nhiệm vụ, trong tham mưu, đề xuất, chỉ đạo hướng dẫn
cũng như những hoạt động theo chuyên môn nghiệp vụ. Trong khi đó, yêu cầu
nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của
3

- TS. Ngô Văn Thạo (2002), Đổi mới và nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác tư tưởng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đặng Hữu, Đỗ Nguyên Phương,
Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Nguyễn Hữu Tăng, (2003), Tìm hiểu công tác
4


5

khoa giáo trong tình hình mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. TS. Phạm
Quang Nghị (chủ biên), (1996), Một số vấn đề lý luận và nghiệp vụ công tác tư
tưởng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trần Trọng Tân (2005), Về công tác tư
tưởng - văn hoá, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Đào Duy Tùng (1999), Một
số vấn đề về công tác tư tưởng, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trung tâm
nghiên cứu dư luận xã hội, Ban Tư tưởng - văn hóa Trung ương, (1999), Nghiên
cứu, sử dụng và định hướng dư luận xã hội.
Các công trình trên đây đã tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về
lý luận và thực tiễn công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, cũng như những hình
thức cụ thể của công tác tư tưởng như công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công
tác tuyên truyền cổ động, công tác văn hóa quần chúng, công tác nghiên cứu
phát triển lý luận của Đảng, công tác tổng kết thực tiễn, triển khai thực hiện lý
luận của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp vào thực tiễn; trong đấu tranh chống âm
mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng- văn
hóa; chỉ ra những ưu điểm, thành công đã đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn
chế, khuyết điểm, những bất cập, những thách thức đang đặt ra đối với công tác
tư tưởng, lý luận của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp tăng cường công tác Tuyên giáo, nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong điều kiện mới. Một số công trình
đi sâu nghiên cứu về chuyên môn nghiệp vụ của công tác Tuyên giáo, công tác
tư tưởng - văn hóa như là giáo khoa, giáo trình, tài liệu bồi dưỡng năng lực công
tác Tuyên giáo cho đội ngũ cấp ủy viên, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên,

Tuyên giáo trong những năm tới.
Một số bài báo tập trung nghiên cứu tổng kết công tác Tuyên giáo trong
85 năm qua, trong đó đề cập chuyên sâu công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực
hiện công tác Tuyên giáo ở các cấp các ngành, các địa phương. Tổng kết những
thành tựu to lớn của ngành Tuyên giáo đã đạt được trong 85 năm hoạt động của
ngành, khái quát những bài học kinh nghiệm được rút ra từ tổng kết lịch sử 85
năm truyền thống của ngành Tuyên giáo, đề xuất những vấn đề cần tiếp tục đổi
mới nội dung, hình thức, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác Tuyên giáo trong tình hình mới. Các công trình trên là tài liệu tham khảo có
giá trị đối với học viên trong quá trình thực hiện luận văn.
* Các luận văn, luận án đã bảo vệ
6


7

Trương Minh Tuấn (2011), Đổi mới công tác tư tưởng của Đảng ở Tây
Nguyên trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng
Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Dương Minh Đức (2006), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay, Luận án Tiến sĩ
chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Kim Nhàn (2013) Công tác tư tưởng của Đảng bộ
tỉnh Quảng Ninh trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội hiện nay,
Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Nguyễn Văn Luân (2010) Công tác
tư tưởng của Đảng ủy cấp xã ở Bình Thuận hiện nay, Luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh. Lương Thị Bích Hường (2009) Đổi mới hoạt động thông tin,
công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản hiện nay, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở các địa phương.
Kết quả nghiên cứu đạt được của các công trình trên đây là những đóng
góp rất to lớn về lý luận và thực tiễn mà học viên có thể tham khảo, kế thừa để
luận giải nội dung của luận văn.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban Tuyên giáo Huyện ủy ở Đảng bộ tỉnh
Hà Nam hiện nay dưới góc độ khoa học Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà
nước. Vì vậy, đề tài luận văn là công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp
với các công trình đã nghiệm thu, công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
*Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn hiệu quả
hoạt động của các Ban Tuyên giáo Huyện ủy, trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban Tuyên giáo Huyện ủy ở
Đảng bộ tỉnh Hà Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về các Ban Tuyên giáo Huyện
8


9

ủy, hoạt động và hiệu quả hoạt động của các Ban Tuyên giáo Huyện ủy ở Đảng
bộ tỉnh Hà Nam.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các Ban Tuyên giáo Huyện
ủy ở Đảng bộ tỉnh Hà Nam, chỉ rõ nguyên nhân, khái quát những kinh nghiệm
nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban Tuyên giáo Huyện ủy ở Đảng bộ tỉnh
Hà Nam hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động của các

*Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn,
đặc biệt là phương pháp của khoa học xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước,
trong đó chú trọng phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử, khảo sát
thực tế, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp những luận cứ khoa
học giúp các Huyện ủy, Tỉnh ủy Hà Nam quan tâm xây dựng các Ban Tuyên
giáo các Huyện ủy vững mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban Tuyên
giáo Huyện ủy, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Kết quả nghiên
cứu của luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích đối với đội ngũ cán bộ các Ban
Tuyên giáo Huyện ủy ở Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong quá trình công tác, thực
hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Đồng thời, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập,
nghiên cứu môn Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước ở Học viện Chính trị
- Bộ Quốc Phòng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trường Chính trị
của tỉnh Hà Nam, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện thuộc tỉnh Hà Nam.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.

10


11

Chương 1
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN TUYÊN GIÁO
HUYỆN ỦY Ở ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM - NHỮNG VẤN ĐỀ

cũng là vùng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch. Vùng đồng bằng có diện tích
đất đai màu mỡ, bãi bồi ven sông Hồng, sông Châu, là tiền đề để phát triển sản
xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm và du lịch
sinh thái. Địa hình đó là điều kiện để phát triển kinh tế đa dạng, với hướng kết
hợp kinh tế vùng đồng bằng với kinh tế vùng đồi núi. Hà Nam cũng như các tỉnh
đồng bằng sông Hồng có khí hậu mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, gió mùa,
mùa đông lạnh hơn nhiều với điều kiện trung bình cùng vĩ tuyến.
Hà Nam có diện tích đất nông nghiệp chiếm 47.206 ha, diện tích nuôi
trồng thuỷ sản 4.529 ha; đất lâm nghiệp 9.635 ha; đất chuyên dùng 11.692 ha,
đất ở 4.326 ha; đất chưa sử dụng 7.564 ha.
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Hà Nam chủ yếu là đá carbonate (có
trữ lượng trên 7,4 tỷ m³). Nguồn đá này cung cấp cho sản xuất xi măng, xây
dựng, bột mịn cho xây trát, bột nhẹ thương phẩm. Đá quý (đá vân hồng tím nhạt
ở huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, có vỉa cao 60 m, dài 30 – 40 m, song cũng có
vỉa dài tới gần 200 m. Đá vân mây da báo ở Thanh Liêm. Đá đen tập trung ở Bút
Sơn. Đất sét với tổng trữ lượng 393,1 triệu tấn (trong đó, đất sét làm nguyên liệu
sản xuất xi măng 331 triệu tấn; đất sét làm gạch ngói 62 triệu tấn). Than bùn có
trữ lượng trên 11 triệu m³ tại vùng Hồ Tam Chúc - Ba Sao, hồ Đồng Hán, Xã
Thanh Sơn, huyện Kim Bảng (nguyên liệu này có thể làm phân vi sinh và một số
chất phụ gia khác). Cát xây dựng ở Hà Nam rất dồi dào, đặc biệt là nguồn cát
đen ở bãi ven sông Hồng dài 10 km, bãi sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ hàng
năm cung cấp cho san lấp và xây dựng, có khả năng cung cấp cho tỉnh ngoài
hàng triệu m³.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Từ sau khi tái lập tỉnh đến nay, kinh tế - xã hội Hà Nam đã có những bước
tiến vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế tăng trưởng nhanh,
năm sau cao hơn năm trước. Nền kinh tế chuyển biến căn bản từ nền kinh tế
thuần nông nhỏ lẻ, manh mún sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Diện
12


Hà Nam.
13


14

Hà Nam có nhiều điểm sinh thái khá hấp dẫn. Tại huyện Kim Bảng có khu
du lịch Ngũ Động Sơn có Đền Trúc thờ Lý Thường Kiệt, vị anh hùng dân tộc
thời Lý. Ngũ Động Sơn là quả núi có 5 hang động nối liền nhau tạo thành một
dãy hang động liên hoàn. Trên đỉnh núi có bàn cờ thiên tạo bằng đá, trong động
có nhiều nhũ đá tạo vẻ đẹp huyền bí. Nhiều thi nhân và du khách đã từng qua
đây dừng chân chiêm ngưỡng. Di tích này cách thị xã Phủ Lý 7 km nằm sát với
dòng sông Đáy và lại kề bên quốc lộ 21A. Chùa Bà Đanh là ngôi chùa có cảnh
quan sơn thuỷ hữu tình, thanh u, cô tịch và linh thiêng nổi tiếng một thời. Chùa
có vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm vào loại hiếm có của tỉnh Hà Nam.
Hồ Tam Chúc ở xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, diện tích mặt nước hồ 585
ha, diện tích phụ cận và khu du lịch sinh thái là 600 ha. Nơi đây cách chùa
Hương 7 km, cách Hà Nội 70 km, Nam Định 40 km, Ninh Bình 45 km, Hưng
Yên 40 km. Khu sinh thái “Hồ Tam Trúc” đang được xây dựng với hình ảnh của
Hạ Long trên cạn sẽ là điểm dừng chân cho khách nhiều tỉnh, là nơi dưỡng trí
vào các ngày nghỉ cuối tuần của khách thập phương.
Đền Trần Thương ở xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, thờ Quốc công Tiết
Chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Hàng năm ở đây có lễ tưởng niệm và
liên hệ mật thiết với lễ hội ở Côn Sơn - Kiếp Bạc, Bảo Lộc - Nam Định. Từ năm
2010, tại Đền Trần Thương tổ chức Lễ phát lương Đức Thánh Trần vào ngày
đêm ngày 14, rạng ngày 15 tháng giêng.
Chùa Long Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thường tổ chức lễ hội
vào ngày 19 đến ngày 21 tháng 3 hàng năm. Lịch sử xây dựng chùa với tháp từ
thế kỷ XI. Tháp “sùng thiện diên linh” có nghệ thuật kiến trúc đặc trưng thời Lý,
xây dựng xong vào năm 1121. Tháp cao 13 tầng, mở 40 cửa, đỉnh tháp có xá lỵ

nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học đã góp phần tích cực giảm thiểu ô nhiễm môi
trường nông thôn. Tỉnh đã thực hiện việc phát triển đàn bò sữa ở những vùng có
lợi thế về chăn nuôi đàn gia súc. Đến nay đã có 4.552 mô hình nuôi lợn bằng công
nghệ đệm lót sinh học, có 1.360 con bò sữa. [68]
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Hà Nam có bước phát triển toàn diện,
khá vững chắc. Hà Nam là quê hương của phong trào thi đua "Hai tốt" với trường
THCS Bắc Lý 2 lần được công nhận đơn vị anh hùng. Đến nay, 100% xã,
phường, thị trấn có trường mầm non công lập. Mỗi huyện, thành phố có từ 03 - 04
trường THPT công lập. Toàn tỉnh có 01 trường THPT chuyên. Cơ sở vật chất,
15


16

trang thiết bị được tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hoá, kiên cố
hoá, hiện đại hoá. Đến nay, toàn tỉnh có 274 trường được công nhận đạt chuẩn
quốc gia; 100% trường phổ thông có đủ danh mục thiết bị tối thiểu; 100% trường
tiểu học được trang bị thiết bị tối thiểu và phòng học ngoại ngữ; 100% cơ sở giáo
dục từ mầm non đến THPT được nối mạng Internet và sử dụng mạng trong công
tác quản lý điều hành và cập nhật thông tin. Hà Nam là 01 trong 04 tỉnh đầu tiên
của cả nước được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (tháng
11/1999); là một trong mười tỉnh đầu tiên của cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo dục
trung học cơ sở (tháng 01/2002). Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục toàn diện có
nhiều chuyển biến tích cực, tiến bộ rõ rệt và vững chắc ở tất cả các cấp học. Kết
quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thi đại học, cao đẳng, thi học sinh giỏi
quốc gia luôn ở trong những tỉnh dẫn đầu toàn quốc. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
viên của tỉnh đủ về chủng loại, cơ cấu, chất lượng từng bước được nâng cao.
Để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Hà Nam đã triển khai
trên 150 nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh và trung ương trên tất cả các lĩnh vực như:
Công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục, công nghệ thông tin, bảo vệ môi

cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII trình Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XIX, dự kiến tỷ trọng công nghiệp - xây dựng 58%, dịch vụ
29,4%; nông, lâm nghiệp giảm còn 12,6%. Thu nhập bình quân đầu người đạt
42,33 triệu đồng/năm. Thu ngân sách đạt 3.250 tỷ đồng. [61]
Thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung làm tốt công tác quy hoạch các khu công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Tỉnh xác định quan tâm
phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, góp phần ổn định đời sống
nhân dân; duy trì tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp; tăng cường huy động
các nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư; tập trung phát triển kết
cấu hạ tầng giao thông đường bộ, phát triển đô thị; tập trung khai thác các nguồn
thu, chống thất thu, hạn chế nợ đọng; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi
trường; tập trung triển khai Quy hoạch về phát triển nguồn nhân lực; đảm bảo ổn
định an sinh xã hội, đời sống nhân dân; ổn định chính trị, xã hội, giữ vững quốc
phòng - an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; tiếp tục chú trọng cải cách hành
chính, tạo môi trường thuận lợi cho thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội.
17


18

Tỉnh đặc biệt quan tâm đến chiến lược đào tạo và phát huy nguồn lực con
người trên cơ sở phát triển sự nghiệp giáo dục toàn diện, thực hiện tốt các chính
sách an sinh xã hội, nâng cao mức hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần cho
nhân dân. Kêu gọi thu hút đầu tư xã hội hoá các lĩnh vực: y tế, giáo dục, văn
hoá, môi trường...
Vượt lên khó khăn của một tỉnh nghèo, phát huy tiềm năng và thế mạnh,
những thành tựu sau tái lập, sự đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ, quân và
dân Hà Nam quyết tâm phấn đấu đưa Hà Nam trở thành tỉnh công nghiệp trước
năm 2020, là đô thị loại I sau năm 2025.
1.1.2. Đặc điểm các Đảng bộ huyện của tỉnh Hà Nam

bàn tỉnh Hà Nam thì việc lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông nghiệp vẫn là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu. Các địa phương xây dựng quy hoạch Nông thôn mới
gắn với quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp. Chú trọng chỉ đạo chuyển đổi cơ
cấu giống, cây trồng. Trồng các cây có giá trị kinh tế cao như dưa chuột, đậu
bắp...Nhiều loại cây xuất khẩu sang các nước như Nhật Bản, Nga...Tích cực áp
dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp như trồng rau sạch. Tỉnh có
cơ chế hỗ trợ các hộ nông dân mua máy phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông thôn như máy gặt đập liên hoàn, máy gieo sạ...Hỗ trợ các hộ xây dựng
chuồng trại ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, xây dựng lán trại
trồng nấm ăn...
Các địa phương tích cực chỉ đạo xây dựng cánh đồng mẫu với diện tích
trên 30 ha với tiêu chí đồng cánh, đồng giống, đồng trà. Cánh đồng mẫu đã phát
huy hiệu quả với giá trị sản xuất trên một hecta đất canh tác đạt cao. Hiện nay, 2
huyện Lý Nhân và Duy Tiên là những địa phương ven sông Hồng được tỉnh chỉ
đạo phát triển chăn nuôi bò sữa để tận dụng vùng đất bãi trồng cỏ. Lượng sữa
được công ty sữa Cô gái Hà Lan thu mua đóng trên địa bàn tỉnh thu mua với giá
hợp lý. [43, 44, 45, 46, 47]
Đảng viên của các Đảng bộ huyện của tỉnh Hà Nam chủ yếu là đảng
viên sống ở khu vực nông thôn, trình độ nhận thức, trình độ giác ngộ không
đồng đều.
Một số đảng viên là cán bộ, công nhân viên chức sinh hoạt tại các đảng
bộ, chi bộ cơ quan, một số sinh hoạt tại các chi bộ khu phố, còn lại đa số đảng
19


20

viên sinh hoạt tại các chi bộ thôn, xóm. Tuyệt đại đa số đảng viên sống ở các
thôn xóm, số rất ít sống ở các khu phố, trung tâm các thị tứ, thị trấn.
Quan hệ của đảng viên trong chi bộ thôn, xóm, ngoài quan hệ đồng chí,


Việc sinh hoạt chi bộ tại các chi bộ thôn, xóm chủ yếu vào buổi tối nên
thời gian sinh hoạt không nhiều. Địa bàn nông thôn rộng, lại sinh hoạt vào buổi
tối nên số đảng viên thiếu, vắng nhiều, kết quả sinh hoạt có nhiều hạn chế. Vai
trò lãnh đạo, chỉ đạo của một số chi bộ thôn, xóm đối với nhiệm vụ chính trị của
địa phương, nhất là sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới kết quả
không cao. Một số trưởng thôn, xóm không phải là đảng viên nên vai trò lãnh
đạo của Đảng đối với chính quyền có nhiều hạn chế.
Với đặc điểm của tổ chức đảng và đảng viên ở các huyện trên địa bàn tỉnh
Hà Nam như vậy nên các Ban Tuyên giáo Huyện ủy trên địa bàn tỉnh Hà Nam
trong quá trình chỉ đạo, hướng dẫn về công tác tư tưởng phải phù hợp với tình
hình, chú ý tới nhiệm vụ trọng tâm của đảng bộ, tới đặc thù của chi bộ nông thôn
và tình hình đảng viên ở khu vực nông thôn.
1.1.3. Ban Tuyên giáo Huyện ủy ở Đảng bộ tỉnh Hà Nam
* Biên chế, tổ chức của Ban Tuyên giáo Huyện ủy
Theo Quy định 220 - QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban
Tuyên giáo Huyện ủy gồm Trưởng ban, không quá hai Phó trưởng ban. Biên chế
có từ bốn đến sáu người. Đối với tỉnh Hà Nam, có ba Ban Tuyên giáo Huyện ủy
có năm người, một Ban Tuyên giáo Huyện ủy có sáu người, một Ban Tuyên
giáo Huyện ủy có bốn người.
Đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy là Ủy viên Ban Thường vụ
Huyện ủy. Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 – 2020 có 4 Ban Tuyên giáo
Huyện ủy cơ cấu một đồng chí Phó Trưởng ban là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng
bộ huyện.
Cán bộ, chuyên viên của các Ban Tuyên giáo Huyện ủy được tuyển chọn
từ số sinh viên tốt nghiệp đại học ở Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn, Đại học văn hóa, Học viện Báo chí tuyên truyền. Trong những năm gần
đây, đội ngũ cán bộ Ban Tuyên giáo các Huyện ủy được trẻ hóa. Trình độ học
vấn của cán bộ các Ban Tuyên giáo Huyện ủy ở Đảng bộ tỉnh Hà Nam đều có
21

Thứ nhất, Ban Tuyên giáo Huyện ủy là cơ quan tham mưu của Huyện uỷ
mà trực tiếp và thường xuyên là Ban Thường vụ và Thường trực Huyện uỷ về
22


23

công tác xây dựng Đảng thuộc các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tuyên truyền, lý
luận chính trị, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, khoa giáo, biên soạn lịch sử
đảng bộ địa phương.
Thứ hai, Ban Tuyên giáo Huyện ủy là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về
công tác Tuyên giáo của Huyện ủy
Ban Tuyên giáo Huyện ủy là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác
Tuyên giáo của Huyện uỷ. Chức năng chuyên môn gắn chặt với chức năng tham
mưu, đề xuất. Trong hệ thống các cơ quan tham mưu của Đảng, Ban Tuyên giáo
Huyện ủy đồng thời cũng là một cơ quan nghiên cứu. Điều đó, xuất phát từ yêu
cầu khách quan về chức năng của Ban Tuyên giáo. Hoạt động chuyên môn của
Ban Tuyên giáo Huyện ủy gồm các lĩnh vực sau:
Một là, công tác tuyên truyền
Ban Tuyên giáo Huyện ủy nghiên cứu, biên soạn tài liệu, chỉ đạo và tiến
hành công tác tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
cương lĩnh, đường lối, các quan điểm, tư tưởng của Đảng, chính sách, luật pháp
của Nhà nước đến cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực
lượng vũ trang của địa phương. Thông tin có định hướng tình hình thời sự trong
nước và quốc tế. Hướng dẫn, chỉ đạo và trực tiếp tiến hành các hoạt động tuyên
truyền, giáo dục nhân các ngày kỷ niệm, các đợt vận động chính trị lớn của đất
nước và địa phương. Tuyên truyền, giáo dục truyền thống của dân tộc và của địa
phương. Tuyên truyền về thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc
phòng, công tác xây dựng Đảng của đất nước, của địa phương. Tuyên truyền
gương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến thúc đẩy phong trào thi đua. Tổ

thiết nhằm nắm bắt, tập hợp kịp thời, sát thực tâm tư, tình cảm, ý chí, nguyện
vọng của nhân dân về những vấn đề, sự kiện có tính thời sự trong nước và thế
giới, đặc biệt là đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; giúp
các cơ quan lãnh đạo, quản lý có thêm thông tin tham khảo trong quá trình xây
dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; là một khâu quan trọng, cần thiết trong xây dựng, ban
hành, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước
24


25

Ban Tuyên giáo Huyện ủy tham mưu xây dựng thiết chế, cơ chế hoạt
động của các đầu mối đơn vị trực thuộc, quy chế hoạt động của đội ngũ cộng
tác viên dư luận xã hội. Nắm bắt và phản ánh kịp thời với Thường trực Huyện
ủy tình hình dư luận xã hội để có giải pháp định hướng dư luận xã hội tích cực,
không để lan truyền dư luận xã hội tiêu cực trên địa bàn.
Bốn là, công tác khoa giáo
Khoa giáo là các hoạt động trên lĩnh vực khoa học, giáo dục xã hội nói
chung, bao gồm các mặt: giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, chăm sóc
sức khỏe nhân dân, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, dân số - kế hoạch hóa gia đình,
thể dục - thể thao...Công tác khoa giáo là hoạt động lãnh đạo và chỉ đạo của
Đảng trong lĩnh vực khoa giáo nhằm thực hiện đường lối của Đảng.
Ban Tuyên giáo Huyện ủy tham mưu cho Huyện ủy những chủ trương,
biện pháp lãnh đạo các cơ quan trong ngành khoa giáo thực hiện đúng đường
lối, quan điểm của Đảng, đảm bảo sự phát triển đúng hướng, có hiệu quả, phục
vụ đắc lực các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Lãnh đạo công tác chính trị,
tư tưởng trong đội ngũ cán bộ công tác trong ngành khoa giáo và các hoạt động
khoa giáo. Tiến hành chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các

hướng dẫn và trực tiếp nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn lịch sử đảng bộ địa
phương (lịch sử đảng bộ huyện, lịch sử các ngành của huyện, lịch sử đảng bộ
các xã, thị trấn...).
Nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Huyện ủy
Để thực hiện tốt các chức năng, Ban Tuyên giáo Huyện ủy ở Đảng bộ tỉnh
Hà Nam có năm nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu, tham mưu, đề xuất
Nghiên cứu, theo dõi, tổng hợp tình hình tư tưởng của cán bộ, công chức,
viên chức, đảng viên và nhân dân, những diễn biến trên lĩnh vực tư tưởng - văn
hoá ở địa bàn huyện; dự báo những diễn biến, xu hướng tư tưởng có thể xảy ra,
kịp thời báo cáo, tham mưu với Huyện uỷ, Ban Thường vụ về phương hướng,
nhiệm vụ, nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết. Chuẩn bị hoặc tham
gia chuẩn bị nghị quyết đại hội; chuẩn bị xây dựng các đề án, nghị quyết, chỉ thị,
quy định, quyết định, quy chế của Huyện uỷ, Ban Thường vụ Huyện ủy về công
26


27

tác Tuyên giáo. Sơ kết, tổng kết về công tác Tuyên giáo.
Thứ hai, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát
Tổ chức nghiên cứu, học tập, tuyên truyền, quán triệt, chỉ đạo, hướng dẫn
triển khai thực hiện các văn bản của Đảng. Kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, tổ
chức đảng, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
huyện trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế
của cấp uỷ cấp trên và của Huyện uỷ trong lĩnh vực Tuyên giáo. Bồi dưỡng,
hướng dẫn nghiệp vụ công tác Tuyên giáo cho cấp uỷ, cán bộ Tuyên giáo cấp
dưới. Hướng dẫn cấp uỷ xã, phường, thị trấn, tổ chức, cơ quan, đơn vị thuộc
huyện sưu tầm, biên soạn lịch sử đảng bộ. Hướng dẫn, kiểm tra công tác tuyên
truyền các ngày lễ lớn, các phong trào thi đua yêu nước, truyền thống cách mạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status