1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kì một công trình khác.
Đồng Hới, tháng 5 năm 2015
1 Tác giả
Nguyễn Thị Oanh
LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng gửi lời tri ân đến cô giáo ThS. Trần Thị Mỹ Hồng, người
đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc quý thầy cô đã giảng dạy và đóng góp
những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại
học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất.
2 Tác giả
Nguyễn Thị Oanh
KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Kí hiệu
Chú giải
1.1.2.2.Truyện truyền thuyết...............................................................................8
1.1.2.3. Truyện cổ tích.......................................................................................9
1.1.2.4. Truyện cười........................................................................................11
1.1.2.5. Truyện ngụ ngôn................................................................................ 13
1.2. Truyện dân gian trong chương trình Tiểu học......................................... 14
1.2.1. Hệ thống truyện dân gian trong chương trình Tiểu học........................14
1.2.2. Đặc điểm truyện dân gian trong chương trình Tiểu học.......................15
1.2.3. Vai trò, ý nghĩa của truyện dân gian đối với học sinh Tiểu học..............15
CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VỀ TRUYỆN THẦN THOẠI, TRUYỆN
TRUYỀN THUYẾT, TRUYỆN CỔ TÍCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU
HỌC
2.1. Đặc trưng về truyện thần thoại trong chương trình Tiểu học...................17
2.1.1. Nhân vật................................................................................................ 17
2.1.1.1. Nhân vật là vị thần............................................................................. 17
2.1.1.2. Nhân vật anh hùng chinh phục tự nhiên, lao động và sáng tạo văn hóa
......................................................................................................................... 20
2.1.2. Cốt truyện..............................................................................................21
2.2. Đặc trưng về truyện truyền thuyết trong chương trình Tiểu học.................22
2.2.1. Nhân vật................................................................................................ 22
2.2.1.1. Nhân vật là anh hùng lịch sử..............................................................22
2.2.1.2. Nhân vật khởi nguyên và anh hùng văn hóa...................................... 24
2.2.2. Cốt truyện..............................................................................................27
2.2.3. Ngôn ngữ...............................................................................................29
2.3. Đặc trưng về truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học........................30
2.3.1. Nhân vật................................................................................................ 30
2.3.1.1 Nhân vật trong truyện cổ tích thần kì..................................................30
2.3.1.2. Nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt (thế sự)................................33
2.3.1.3. Nhân vật trong truyện cổ tích loài vật................................................35
PHỤ LỤC…………………………………………………………………….
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học dân gian là tài sản vô giá của dân tộc ta. Đó là những sáng tác
nghệ thuật truyền miệng do con người sáng tạo ra khi tham gia sinh hoạt tập
thể nhằm biểu đạt, ghi lại những tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm về
cuộc sống, xã hội, thiên nhiên và vũ trụ. Văn học dân gian chính là bộ “Bách
khoa toàn thư” vĩ đại, là nơi kết tinh rực rỡ những tri thức, tài năng nghệ
thuật, tinh hoa văn hóa của dân tộc. Do vậy, đối với nhân dân ở tất cả các thời
đã qua, văn học dân gian là nơi họ có thể tìm được những kinh nghiệm thực
tiễn để vận dụng vào cuộc sống hằng ngày. Không những thế, đối với chúng
ta ngày nay “Văn học dân gian giúp chúng ta nhận thức một cách đúng đắn,
toàn diện lịch sử của nhân dân mình, dân tộc mình trong quá khứ, để từ đó
hiểu được nhân dân mình, dân tộc mình trong giai đoạn cách mạng hiện tại”
[21;tr.15].
Nói đến văn học dân gian cùng những giá trị vĩnh hằng của nó, ta
không thể không nhắc đến truyện dân gian. Truyện dân gian là một bộ phận
của văn học dân gian Việt Nam. Những câu chuyện bình dân, gần gũi nhưng
có sức thu hút, sức hấp dẫn lớn đối với mọi tầng lớp, đặc biệt là thiếu nhi.
Thưởng thức truyện dân gian là nhu cầu giải trí hàng đầu của các em. Đến với
truyện dân gian các em không chỉ được thỏa mãn nhu cầu giải trí của mình
mà còn được giáo dục về phẩm chất, về nhân cách, được bồi dưỡng những
tình cảm thẩm mĩ… Trẻ em vốn ưa tưởng tượng, thích ước mơ, sống với thế
giới nhiều xúc cảm mãnh liệt. Truyện dân gian lại là thế giới của ước mơ,
tưởng tượng, vì vậy, một số thể loại truyện dân gian đã trở thành món quà
học dân gian đã được tiến hành thường xuyên liên tục trên một diện rộng
nhằm tìm kiếm tối đa các giá trị văn học và văn hóa đang lưu truyền trong
nhân dân các địa phương, các dân tộc trong nước. Gần như trên đất nước có
bao nhiêu dân tộc thì có bấy nhiêu sắc thái văn học gồm đủ thể loại như
truyền thuyết, thần thoại, cổ tích… Có thể hình dung tổng thể văn học dân
gian Việt Nam như một tấm thổ cẩm nhiều màu sắc” [20;tr.4].
Trong giáo trình “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học
dân gian” tài liệu đào tạo và bồi dưỡng giáo viên Tiểu học, tác giả Đỗ Bình
Trị đã chỉ ra những đặc trưng thi pháp của bốn thể loại truyện dân gian:
truyện cổ tích, truyện truyền thuyết, truyện cười, truyện ngụ ngôn. Tác giả
cho rằng “Những đặc trưng thể loại phải được coi như một chỉnh thể. Chính
chỉnh thể này chứ không phải những đặc trưng xét riêng rẻ, tạo nên diện mạo
xác định của thể loại và biến thái của nó, tạo nên mối liên hệ giữa các thể loại.
Mỗi thể loại văn học dân gian có cách nói riêng của nó. Thi pháp thể loại
chính là cách nói riêng ấy. Vì thế, có nắm được thi pháp thể loại mới có khả
năng “giải mã” được các tác phẩm thuộc thể loại” [3;tr.3].
Nhà nghiên cứu Cao Đức Tiến cũng đã khái quát đặc trưng các loại
truyện cổ dân gian, đó là thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ngụ ngôn,
truyện cười trong cuốn giáo trình “Văn học” tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu
học. Trong đó, tác giả đã bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình trước từng thể
loại truyện dân gian.
Bên cạnh đó cũng có các công trình đã nghiên cứu chuyên sâu từng thể
loại truyện dân gian. Nghiên cứu “Đặc trưng truyện ngụ ngôn trong chương
trình Tiếng Việt Tiểu học” là công trình của Lê Thị Mỹ Huệ. Trong đó, tác
giả đã nói đến truyện ngụ ngôn với các đặc điểm về nhân vật, kết cấu và lời
kể. Trong cuốn khóa luận “So sánh truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn trong
chương trình Tiếng Việt Tiểu học từ gốc nhìn thi pháp” của Phạm Thị Vân,
tác giả đã chỉ ra được những nét đặc sắc của hai thể loại, đồng thời đi sâu vào
đến lớp 5.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các tác phẩm truyện dân gian
trong chương trình Tiểu học để thấy được đặc sắc về nhân vật, ngôn ngữ, cốt
truyện và kết cấu của từng thể loại truyện dân gian, từ đó tổng hợp, khái quát
lại và đưa ra kết luận chung.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Dùng để thống kê, phân loại và xác định tần
số xuất hiện của truyện thần thoại, truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện
ngụ ngôn, truyện cười trong chương trình Tiểu học. Từ đó, xác định vị trí và tầm
quan trọng của các thể loại truyện dân gian trong chương trình.
- Phương pháp so sánh: Dùng để thấy được điểm chung và điểm khác biệt của
từng thể loại truyện dân gian. Từ đó, làm nổi bật các đặc trưng cơ bản của các
thể loại.
5. Đóng góp của đề tài
- Về lí luận: Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm chỉ ra những đặc trưng của các thể
loại truyện dân gian, qua đó thấy được đặc sắc của từng thể loại bằng việc tìm
hiểu các tác phẩm truyện cụ thể trong chương trình Tiểu học.
- Về thực tiễn: Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu cần thiết giúp
giáo viên hiểu đúng các thể loại được giới thiệu trong chương trình Tiểu học
và hoàn thiện thao tác phân tích tác phẩm nhằm nâng cao chất lượng dạy và
học truyện dân gian trong chương trình Tiểu học.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về truyện dân gian và truyện dân gian trong
chương trình Tiểu học.
Chương 2: Đặc trưng về truyện thần thoại, truyện truyền thuyết, truyện
nghệ thuật của truyện dân gian dân tộc mình không hề biệt lập mà chỉ biểu
hiện trong tương quan với những cái tương đồng nhân loại. Nghiên cứu so
sánh các thể loại truyện dân gian, ta có thể bắt gặp những hiện tượng trùng lặp
tương tự nhau về đề tài, về cốt truyện, hình tượng nhân vật, về các mô típ
nghệ thuật, các yếu tố thi pháp.
Trong giai đoạn đầu tiên của sự nảy sinh và phát triển, truyện dân gian
là hình thức sơ khai của nghệ thuật, đồng thời cũng là hình thức nguyên hợp
của sự sản xuất tinh thần nói chung, về sau đã chuyển thành hình thức tổng
hợp tự nhiên của sáng tác tạo văn hóa và sáng tác nghệ thuật của nhân dân lao
động. Kho tàng truyện dân gian Việt Nam rất phong phú với nhiều thể loại
như truyện thần thoại, truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn,
truyện cười. Mỗi thể loại của truyện dân gian với những đặc sắc của nó làm
nên những giá trị to lớn cho truyện dân gian để truyện dân gian vượt qua cuộc
chọn lọc tự nhiên của thời gian, khẳng định được sức sống ngay cả trong thời
đại mới. Đi sâu vào từng thể loại truyện dân gian để tìm hiểu những đặc điểm
của mỗi thể loại, chúng ta sẽ hiểu hơn khả năng trường tồn của truyện dân
gian bất chấp quy luật đào thải khắc nghiệt của thời gian.
1.1.2. Một số thể loại truyện dân gian
1.1.2.1. Truyện thần thoại
1 Khái niệm
Thần thoại là loại truyện dân gian kể về các vị thần, các nhân vật được
sùng bái, các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa phản ánh nhận
thức và quan niệm của thời cổ về nguồn gốc thế giới và đời sống con người.
C. Mác đã khẳng định: “Với tư cách là hình thức văn hóa tinh thần đầu
tiên của loài người, thần thoại tức là tự nhiên và bản thân các hình thái ý thức
xã hội đã được trí tưởng tượng chế biến đi một cách vô ý thức” [21;tr.17].
Trên cơ sở định nghĩa trên về thần thoại chúng ta có thể thấy, thần thoại
chính là hình thức nhận thức thế giới mang tính đặc trưng của con người thời
nhất của thiên nhiên. Sự phân biệt giai cấp, phân biệt lợi ích giữa bộ tộc này
và bộ tộc khác, sự đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm đã chuyển hóa bộ phận
thần tự nhiên sang bộ phận thần thoại anh hùng văn hóa.
1.1.2.2.Truyện truyền thuyết
3 Khái niệm
Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các
nhân vật lịch sử được lí tưởng hóa hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật
địa phương theo quan điểm của nhân dân, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố
hư ảo, thần kì như cổ tích và thần thoại.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Những truyền thuyết dân
gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí
tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng.
Chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác
phẩm văn hóa mà đời đời con cháu còn ưa thích” [21;tr.38]. Như vậy, ta cũng
thấy được rằng, điều chủ yếu mà truyền thuyết muốn phản ánh không phải là
lịch sử như thế nào mà là lịch sử đem lại cái gì cho nhận thức và tình cảm của
nhân dân. Nếu lịch sử quan tâm đến các diễn biến, các sự kiện thì truyền thuyết
quan tâm đến các mô típ, chi tiết đẫm màu sắc nhân văn.
Đến với những câu chuyện truyền thuyết mang yếu tố kì ảo và đậm
màu sắc lịch sử, li kì, hấp dẫn, các em nhỏ vừa có kiến thức lịch sử vừa được
đắm mình vào khung cảnh chiến sự vừa hư vừa thực. Ngoài ra, các em sẽ cảm
thấy thêm yêu lịch sử của dân tộc và quyết tâm giữ gìn nó.
4 Nguồn gốc ra đời của truyền thuyết
Theo Ph. AWngghen: “Tất cả các dân tộc trong quá trình phát triển lịch
sử của nó đều phải trải qua thời đại anh hùng”. Truyền thuyết Việt Nam ra đời
và phát triển trong thời đại anh hùng Việt Nam, thời đại mà những yếu tố xã
hội – lịch sử của nó mang đặc trưng chung của thời đại anh hùng trong lịch sử
nhân loại. Đó là thời kì con người bứt ra khỏi đời sống dã man, bước vào chế
người.
Thế giới truyện cổ tích là thế giới có sự phân hóa giàu nghèo, tốt xấu,
một thế giới với nhiều số phận con người nhỏ bé bị áp bức. Qua những số
phận khác nhau của nhân vật, truyện trình bày kinh nghiệm sống, quan niệm
đạo đức, lí tưởng và mơ ước của nhân dân lao động. Trong truyện cổ tích có
nhiều con người với tấm lòng cao thượng và luôn chứa đựng luật nhân quả
nên những con người bình dân đã gửi gắm tình cảm của mình với truyện cổ
tích:
“Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
Ở hiền thì lại gặp hiền
Người ngay thì được phật tiên độ trì”
(Lâm Thị Mỹ Dạ)
Trong chương trình Tiểu học có rất nhiều mẫu truyện cổ tích mang yếu
tố hoang đường kì ảo làm hấp dẫn các em nhỏ. Khi đọc truyện cổ tích các em
được bắt gặp nhiều số phận con người với nhiều hoàn cảnh, tính cách khác
nhau, qua đó các em sẽ biết cảm thông cho những số phận con người đáng
thương.
6 Phân loại truyện cổ tích
Có rất nhiều cách phân loại truyện cổ tích, cách phân loại phổ biến hiện
nay dựa trên những khác biệt của đối tượng phản ánh thế giới đặc trưng của
mỗi thể loại. Truyện cổ tích được chia làm ba tiểu loại, đó là truyện cổ tích
thần kì, truyện cổ tích sinh hoạt (thế sự), truyện cổ tích loài vật.
+ Truyện cổ tích thần kì là nhóm truyện tiêu biểu nhất của truyện cổ
tích. Nó ra đời sớm và những đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích đều có thể
tìm thấy trong nhóm truyện này. Khuynh hướng nổi bật của truyện cổ tích
thần kì không phải là nhấn mạnh hiện thực mà là trình bày mơ ước, nguyện
vọng và lí tưởng xã hội của nhân dân, thông qua chiến thắng tất yếu của cái
bé và những vật nuôi thường chiếm thiện cảm của các tác giả dân gian nhiều
hơn những con vật to lớn và những con vật hoang dã.
1.1.2.4. Truyện cười
7 Khái niệm
Truyện cười là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức
tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như
truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài
hước...
Truyện cười là loại truyện kể ngắn gọn bậc nhất. Dài cũng chỉ 15 đến
20 câu, ngắn thì 5 đến 7 câu, trung bình khoảng trên dưới 10 câu. Tuy ngắn
thế nhưng cũng là cả một câu chuyện có mở đầu, có diễn biến, có kết thúc và
cũng có nhân vật lại phần lớn là nhân vật “có nét” khó quên. Toàn bộ các yếu
tố thi pháp của truyện cười như kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện đều
phục vụ mục đích gây cười.
Những mẫu truyện cười trong chương trình Tiểu học, một mặt giúp các
em được thư giãn sau những giờ học căng thẳng, mặt khác qua tiếng cười đó
để các em hiểu được ý nghĩa giáo dục trong truyện.
8 Phân loại truyện cười
Có nhiều cách phân loại truyện cười do căn cứ vào những tiêu chí khác
nhau:
Căn cứ vào đặc điểm thi pháp, các nhà nghiên cứu đã chia thành truyện
cười không kết chuỗi và truyện cười kết chuỗi.
- Truyện cười không kết chuỗi
Tiểu loại này gồm những truyện cười có kết cấu độc đáo, khép kín,
hoàn chỉnh. Tính chất phiếm chỉ về nhân vật, địa điểm và thời gian xảy ra “sự
kiện nghệ thuật” là đặc điểm bao trùm các truyện. Chính tính phiếm chỉ ấy
khiến đề tài của truyện rất rộng, thế giới nhân vật cực kì đa dạng và do vậy
chúng không thể kết chuỗi với nhau được.
mang đến cho các em nhỏ một thế giới gần gũi và quen thuộc với những loài
vật, con vật, đồ vật xung quanh cuộc sống.
Những câu chuyện ngụ ngôn nhẹ nhàng dễ dàng đi vào lòng các em
nhỏ, chứa đựng ý nghĩa giáo dục lớn. Bởi vậy trong chương trình Tiểu học có
rất nhiều mẫu truyện ngụ ngôn.
10 Nguồn gốc xuất hiện của truyện ngụ ngôn
Sự xuất hiện của truyện ngụ ngôn đánh dấu một thời điểm mà ý thức xã
hội đã phát triển khá cao. Một số nhà nghiên cứu cho rằng truyện ngụ ngôn
hoàn toàn thuộc lĩnh vực văn chương bác học, thậm chí có ý kiến còn khẳng
định nguồn gốc ngoại lai của truyện ngụ ngôn Việt Nam. Quả thật có nhiều tư
liệu phù hợp với luận điểm ấy. Đầu tiên, khá nhiều truyện ngụ ngôn Ấn Độ
vào nước ta từ đầu Công nguyên cùng với đạo phật và đặc biệt nở rộ ở thời
Lí, Trần. Cũng như nhiều nước Đông Nam Á khác, theo chân những nhà sư
Tây Trúc, những truyện ngụ ngôn Ấn Độ như Bốn anh xẩm sờ voi, Con cò,
Con quạ với đàn cá tép, Mèo lại hoàn mèo… đã vào nước ta và được Việt hóa
đến mức nhuần nhuyễn. Ngoài ra một số truyện ngụ ngôn Ấn Độ nữa truyền
vào nước ta qua con đường văn học Hán, văn học Chăm và văn học Khơ Me.
Lại có những truyện ngụ ngôn vốn của Trung Quốc (những truyện như Kéo
cây lúa lên cho chóng lớn của Mạnh Tử, Ôm cây đợi thỏ của Hàn Phi Tử,…)
cũng vào nước ta theo con đường Hán học. Thời cận đại, cùng với ảnh hưởng
của văn học Pháp, không ít truyện ngụ ngôn của La Phoongten, của Êdốp đã
du nhập vào nước ta.
Nhưng thực ra truyện ngụ ngôn không chỉ có nguồn gốc từ ảnh hưởng
của văn hóa ngoại lai. Từ lâu rồi trong dân gian đã có nhiều truyện cổ tích về
loài vật, trong quá trình phát triển, không ít trong số đó đã dần trở thành
truyện ngụ ngôn. Trong nhân dân ta còn sớm hình thành lối nói so sánh kiểu:
cao như sếu, chậm như rùa, nhanh như thỏ, yếu như sên, mạnh như hổ, ngốc
như lừa…
22%
Ba
23
18%
Bốn
33
25%
Năm
12
9%
Như vậy ta thấy truyện dân gian trong chương trình Tiểu học chủ yếu
phân bố ở các lớp 1, 2, 3, 4 còn lớp 5 chiếm số lượng ít hơn. Điều này cũng là
dụng ý nghệ thuật của người biên soạn chương trình. Ở những lứa tuổi càng
nhỏ thì những câu chuyện với các giá trị giáo dục lại càng cần thiết hơn.
1.2.2. Đặc điểm truyện dân gian trong chương trình Tiểu học
Trong chương trình Tiểu học, truyện dân gian được phân bố ở nhiều
phân môn nhưng chủ yếu là tập đọc và kể chuyện. Số lượng tác phẩm truyện
dân gian được sử dụng nhiều trong cả sách Tiếng Việt và sách Truyện đọc,
động của nhiều yếu tố, các em dễ bắt chước. Việc in những dấu hằn đầu tiên
về cái đẹp vào tâm trí các em có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành
những cảm xúc và quan niệm thẩm mỹ, lòng nhân ái của các em sau này.
Chính lẽ đó mà truyện dân gian đã trở thành một phương tiện giáo dục rất
hiệu nghiệm đối với trẻ thơ.
Khi bước vào thế giới của mỗi câu chuyện dân gian, các em như được
cưỡi trên mình cỗ máy thời gian quay trở về quá khứ với những câu chuyện
lịch sử li kì, gặp gỡ những nhân vật lịch sử có công lao lớn trong lịch sử đất
nước thông qua truyện truyền thuyết. Những câu chuyện thần thoại giúp các
em được bay bổng vào thế giới thần tiên, hiểu được nguồn gốc của loài người
và các hiện tượng xã hội. Những bài học triết lí rút ra từ những mẫu truyện cổ
tích, ngụ ngôn, truyện cười giúp các em áp dụng ngay trong thực tiễn cuộc
sống hằng ngày, các em sẽ biết thông cảm cho những số phận đáng thương,
trong lớp học phải biết đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, không được đánh bạn, có ý
thức giúp đỡ, yêu thương bạn bè. Đây là những mầm móng tốt đẹp giúp các
em hình thành và phát triển nhân cách sau này. Truyện dân gian trong chương
trình Tiểu học đã thành công trong việc khái quát được các bài học nhận thức
thành các tình huống thực tiễn. Những tác phẩm truyện cười của truyện dân
gian mang đến cho các em học sinh những phút giây thư giãn thoải mái,
những tiếng cười sảng khoái sau những giờ học căng thẳng. Truyện dân gian
giúp các em hiểu rõ hơn về nguồn gốc của con người, của tự nhiên, về những
phẩm chất đạo đức giúp trẻ có thêm nhiều kiến thức cần thiết, biết sống đẹp
với đời, biết ứng xử tốt với những người xung quanh, nhiều khi còn giúp trẻ
cảm nhận một cách nhạy bén đối với cái thiêng liêng nhất, cao đẹp nhất trong
tình cảm con người.
Tóm lại, truyện dân gian có tác động mạnh mẽ trong việc bồi dưỡng
tâm hồn trẻ thơ, đem đến cho trẻ những ước mơ bay bổng, những xúc cảm
thẩm mĩ về một thế giới huyền ảo, kích thích và phát triển trí tưởng tượng của
chàng thanh niên khiêng, họ nhởn nhơ vừa đi vừa ngắm trời ngắm đất không
chăm chú đến công việc khiến kiệu về nhà chậm vì vậy ngày ở mặt đất dài
hơn, đó là những ngày mùa hè. Thần Mưa thì không cần mẫn như Thần Mặt
trời ông được phân công làm mưa nhưng lại ham chơi nên nhiều khi quên
việc. Chỗ đã cho mưa rồi lại tưới đi tưới lại mặt đất sinh ra lụt lội còn có chỗ
quên cho mưa khiến đất đai khô nẻ, người vật chết khô. Người ta muốn có
mưa phải đánh trống sấm, cúng tế Thần để thức tỉnh Thần nhớ nhiệm vụ của
người. Thần Trụ Trời dùng đôi tay khổng lồ đào đất, đắp cột chống trời, khi
trời đất xa nhau Thần mới phá cột đi, đất đá văng ra thành đồi núi, nơi đào đất
thành biển. Thần trong thần thoại không thể trong chớp mắt xây xong một
cung điện lộng lẫy, thần cũng không phẩy tay dời núi lấp sông hoặc đọc thần
chú lập tức các món sơn hào hải vị hiện ra ngon lành như các nhân vật trong
truyện cổ tích. Muốn chống trời thần phải hì hục đào đất, đắp đá, dựng cột,
muốn cho trời rộng đất dài, trời đất khớp nhau các thần phải ra sức co kéo,
muốn đội bầu trời thần phải dùng đôi vai vĩ đại của mình… Có một nhà
nghiên cứu đã nhận xét “Thần trong thần thoại không phải là cái gì khác hơn
sự thần thánh hóa con người”.
Nhân vật thần trong thần thoại có thể đem lại sự may mắn mà cũng có
thể đem lại sự rủi ro cho con người. Các nhân vật thần mang nhiều tính cách
khác nhau có thể thiện cũng có thể ác nhưng thường thì uy nghiêm. Truyện
thần thoại trong chương trình Tiểu học với số lượng không nhiều nhưng mỗi
câu chuyện các vị thần lại có những nét tính cách riêng, đưa các em vào thế
giới vừa thực vừa ảo. Chẳng hạn trong câu chuyện “Ông Mạnh thắng Thần
Gió” (Tiếng Việt 2, tập 2).
“Ngày xưa loài người chưa biết làm nhà phải ở hang núi… Từ đó,
Thần Gió thường đến thăm ông, đem cho ngôi nhà không khí mát lành từ biển
cả và hương thơm ngào ngạt của các loài hoa” [12;tr.13].
Đọc truyện thần thoại trên chắc hẳn người đọc cảm thấy Thần Gió
chờ đợi nên chỗ ấy trở thành chín cửa sông như chín con rồng, vì thế còn có
tên là Cửu Long” [24;tr39].
Trong truyện, Thần Săn và Thần Câu là bạn thân nhưng không hiểu vì
lí do gì giữa hai thần lại nảy ra một cuộc tranh cãi gay gắt, thiên thần đã phải
giải quyết bằng cách cho hai người thi đấu, đó là một cuộc chạy đua. Thần
Săn chạy đá văng đất lún, trở thành dòng sông, chỗ Thần Săn ngồi lại nghỉ
nay là Biển Hồ. Chỗ Thần Câu chạy cũng thành sông nhưng có lắm khúc
quanh co. Câu chuyện giải thích sự hình thành Sông Cửu Long với chín cửa
sông “Vì Thần đi đi lại lại chờ đợi nên chỗ đó thành chín cửa sông, vì thế còn
có tên là Cửu Long”. Cũng có những vị thần tốt bụng, luôn giúp đỡ con người
và giúp cho con người nhận ra nhiều điều trong cuộc sống như trong truyện
“Điều ước của vua Mi-đát” (Tiếng việt 4, tập 1), câu chuyện kể về Thần Đi-ôni-dốt đã giúp vua Mi-đát nhận ra rằng hạnh phúc không thể xây dựng bằng
ước muốn tham lam.
Như vậy, trong chương trình Tiểu học không có nhiều truyện thần thoại
nhưng hệ thống nhân vật thần trong thần thoại được xây dựng với nhiều nét
tính cách khác nhau. Đặc biệt với cách viết tưởng tượng, hư cấu nhân vật thần
trong thần thoại được mô tả hết sức thần kì, đưa các em nhỏ vào thế giới kì bí,
siêu nhiên của các vị thần để giúp các em dễ dàng hiểu rõ nguồn gốc của vũ
trụ, tự nhiên và những mơ ước mà con người gửi gắm vào các vị thần này.
Ngoài ra những câu chuyện trong chương trình Tiểu học cũng mang ý nghĩa
giáo dục.