tiểu luận môn CTXH trong phòng chống bạo lực gia đình - Pdf 40

Mục lục

1


A.LÝ DO CHỌN CHỦ ĐỀ.
Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, để lại nhiều hậu quả
nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ, nó làm hạn chế sự tham gia
của họ vào đời sống cộng đồng, không chỉ gây hậu quả về thể chất, tâm lý cho
bản thân phụ nữ mà còn với cả trẻ em, gia đình, toàn xã hội và vi phạm nghiêm
trọng các quyền con người. Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia
đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối
với các thành viên khác trong gia đình. Ảnh hưởng của bạo hành gia đình trải
rộng từ tâm lý cho đến thể chất của nạn nhân. Nhiều trường hợp hành vi bạo lực
dẫn đến thương tật suốt đời thậm chí tử vong. Bạo lực gia đình thường là nguyên
nhân khởi phát trầm cảm và rối loạn stress sau sang chấn sau này.
Hiện nay bạo lực gia đình ngày càng gia tăng với mức độ phức tạp, dưới
nhiều hình thức khác nhau, với nhiều đối tượng khác nhau. Bạo lực gia đình đã
kéo theo nhiều hệ lụy, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống đạo đức, đây cũng là một
thực tế đáng lo ngại cần có sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội, đặc biệt là
những người trợ giúp như nhân viên công tác xã hội.

2


B.NỘI DUNG.
1.Cơ sở lý luận công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình.
1.1. Khái quát chung về bạo lực gia đình, đặc điểm của gia đình có bạo
lực.
1.1.1. Khái quát chung về bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc

mình để gây ra bạo lực với vợ.
Ảnh hưởng của nền văn hóa phong kiến với những quan niệm mang đậm
màu sắc định kiến giới, đó là những định kiến nằm ngay trong truyền thống văn
hóa, phong tục tâp quán, chuẩn mực đạo đức bấy lâu nay trong xã hội: tư tưởng

4


trọng nam, khinh nữ; chồng chúa, vợ tôi; tư tưởng gia trưởng; định kiến giới:
phụ nữ là người giữ gìn hạnh phúc gia đình “một điều nhịn là chín điều lành”…
Những quan niệm này đã khiến cho người nam giới cho rằng họ có vai trò trụ cột
trong gia đình, có quyền định đoạt mọi việc, họ luôn có tư tưởng mình là tiếng
nói trong gia đình nên có thể mắng chửi vợ một vài câu là điều bình thường,
thậm chí tát vợ một vài cái cũng không sao; hay do hiểu sai mục đích của biện
pháp nghiêm khắc trong giáo dục con cái theo quan niệm “yêu cho roi, cho vọt”
dẫn đến nhiều bậc cha mẹ tự cho mình quyền được đánh đập, hành hạ con cái
mình.
Nhận thức của chính bản thân của người phụ nữ bị bạo lực: Sự nhìn nhận,
đấu tranh của người phụ nữ trước bạo hành gia đình còn hạn chế, thiếu thẳng
thắn, còn cam chịu; họ mang tư tưởng: “xấu chàng hổ ai”, họ sợ: “vạch áo cho
người xem lưng”, hay sợ hàng xóm, bạn bè chê cười.
Cộng đồng, xã hội coi vấn đề bạo lực gia đình là chuyện thông thường,
chuyện riêng của mỗi gia đình: “Đèn nhà ai nhà nấy rạng”, sự can thiệp, lên án
của cộng đồng, làng xóm, chính quyền địa phương chỉ mang tính chất nhất thời,
mờ nhạt. Do đó, bạo lực gia đình vẫn có điều kiện tồn tại và phát triển.
Như vậy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực trong gia đình đối với
phụ nữ song nguyên nhân sâu xa chính là do yếu tố nhận thức.Bạo lực gia đình
chính là một biểu hiện của sự bất bình đẳng giới, là sản phẩm của chế độ gia
trưởng.Các yếu tố khác như tệ nạn xã hội, kinh tế, mâu thuẫn gia đình, ngoại
tình… được xem là nguyên nhân trực tiếp của bạo lực, làm gia tăng nguy cơ của

hành vi bạo lực như người lớn; chán nản và có ý nghĩ tự tử; thậm chí tự tử.
Hậu quả đối với gia đình: Li thân, li hôn. Tốn tiền chữa trị và phục hồi sức
khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần cho nạn nhân và người chứng kiến bạo lực
gia đình.
Giảm thời gian và năng suất lao động từ đó giảm thu nhập gia đình.
Không có khả năng làm tròn bổn phận với gia đình nội, ngoại.
Hậu quả đối với xã hội: Giảm sự đóng góp của nạn nhân và người gây bạo
lực gia đình đối với xã hội tạo ra lực lượng lao động tương lai có sức khỏe thể
chất và tinh thần yếu, thiếu sáng tạo. Nếu không xử lý triệt để, xã hội sẽ chấp
nhận và dung túng cho bạo lực gia đình. Hạn chế hiệu quả công tác phòng chống
HIV/AIDS và kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.
1.1.2. Đặc điểm của gia đình có bạo lực.
Gia đình có tình trạng bạo lực là gia đình trong đó có một hoặc nhiều
thành viên có hành vi bạo lực với một hoặc nhiều thành viên khác, có thể là cha
mẹ/con cái đánh đập, xúc phạm, kiểm soát tài chính với con cái/cha mẹ, hoặc
chồng/vợ đối với bạo hành thể xác, tinh thần, tình cảm và cả tình dục với
vợ/chồng.
Các hành vi bạo lực gia đình:
Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức
khoẻ, tính mạng;

7


Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả
nghiêm trọng;
Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
Cưỡng ép quan hệ tình dục; Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn

tắc ưu tiên và đáp ứng nhu cầu của họ, đảm bảo giải quyết tất cả những vấn đề
khó khăn mà thân chủ đang gặp phải. Đánh giá mức độ tổn thương tâm lý, xác
định phương pháp tham vấn và trị liệu, cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý để phục
hồi sang chấn cho nạn nhân. Những trường hợp có vấn đề về tâm lý quá lớn,
nhân viên xã hội không đủ khả năng giải quyết thì sẽ đựơc kết nối, chuyển giao
đến các cơ quan và tổ chức có khả năng, đủ thẩm quyền.
Cán bộ xã hội can thiệp để đảm bảo từng thành viên của gia đình, và toàn
thể gia đình có thể sống cùng nhau một cách an toàn và hòa thuận; giải quyết các
bất hòa và xử lý các vấn đề. Cán bộ xã hội làm việc trong những trung tâm, nhà
tạm lánh hỗ trợ các phụ nữ bị bạo hành. Các cán bộ xã hội cũng có thể hỗ trợ
những gia đình nghèo và thu nhập thấp tiếp cận các dịch vụ, thực hiện các quyền
về phúc lợi. Hiện nay, các Trung tâm CTXH đã thực hiện các hoạt động hỗ trợ
nạn nhân bạo lực gia đình như: Cung cấp các dịch vụ khẩn cấp, tham vấn, trị liệu
rối nhiễu tâm trí, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng. Tư vấn
9


và trợ giúp đối tượng thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội; phối hợp với các
cơ quan, tổ chức phù hợp khác để bảo vệ, trợ giúp đối tượng; tìm kiếm, sắp xếp
các hình thức chăm sóc. Bên cạnh đó, Trung tâm còn xây dựng kế hoạch can
thiệp và trợ giúp đối tượng, thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối tượng rơi
vào hoàn cảnh khó khăn và bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi, hỗ trợ hòa nhập cộng
đồng.
Nhân viên xã hội có các hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ nạn nhân của bạo lực
gia đình, đồng thời tìm ra những giải pháp hữu hiệu khắc phục và đi đến xóa bỏ
hiện tượng này. Đối với lĩnh vực công tác xã hội, trước hết cần đổi mới chức
năng, nhiệm vụ của các cơ sở bảo trợ xã hội, chuyển từ chăm sóc tập trung sang
cung cấp dịch vụ công tác xã hội; thực hiện chăm sóc khẩn cấp tại các cơ sở bảo
trợ xã hội, phát triển dịch vụ chăm sóc bán trú, xây dựng, hoàn chỉnh cơ chế, mô
hình trợ giúp đối tượng học nghề, tìm việc làm, tổ chức cung cấp dịch vụ công

lực gia đình:
Quản lý trường hợp hay còn gọi là quản lý ca.
Tham vấn cá nhân, gia đình.
Trang bị kỹ năng sống: kỹ năng tự vệ, kỹ năng giao tiếp trong gia đình.
Nâng cao nhận thức của cá nhân và gia đình về phòng chống bạo lực gia
đình.

11


Hỗ trợ gia đình tiếp cận các nguồn lực
CTXH cá nhân giúp cá nhân và gia đình hoạt động có hiệu quả hơn trong
các mối quan hệ tâm lý xã hội. Ở đây mọi nhu cầu cơ bản của thân chủ đều phải
được chấp nhận cho dù họ là ai. Nhân viên xã hội phải tôn trọng giá trị của thân
chủ và không thể mong đợi đối tượng đối xử với chúng ta theo cách ta mong
muốn.Khi giúp đỡ những gia đình có bạo lực nhân viên xã hội cần thu thập
thông tin, xác định yếu tố chủ yếu dẫn đến hành vi bạo lực gia đình để từ đó đưa
ra các biện pháp tác động phù hợp.
Phương pháp công tác xã hội nhóm:
Trong CTXH nhóm, nhân viên XH lấy tiến trình sinh hoạt làm công cụ để
giúp đỡ đối tượng là nhóm bạo lực. Công cụ giúp đỡ là các hoạt động nhóm, mối
quan hệ tương tác giữa các cá nhân trong nhóm. Nhân viên XH cần xác định rõ
vấn đề để giải quyết tâm lý cho nhóm bạo lực và từ đó đưa ra các cách can thiệp
cho nhóm.
Phát triển cộng đồng:
Nhận diện, xác định những nhu cầu và vấn đề cần giải quyết của gia đình
bạo lực. Sau đó phân tích những nhu cầu và vấn đề của họ. Xác định những tiềm
năng hoặc nguồn hỗ trợ từ bên trong và ngoài cộng đồng để có thể giải quyết vấn
đề cho gia đình bạo lực.Tiến hành những hoạt động phát triển theo kế hoạch để
trợ giúp.



và lớn nhất là bạo lực về thể chất, đây là dạng dễ nhận thấy và bị lên án mạnh mẽ
nhất. Sỡ dĩ đa phần người đàn ông sử dụng “nắm đấm” để dạy vợ là do họ không
nhận thức được rằng hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, không
phải tất cả hành vi bạo lực của người chồng đều là bạo lực về thể chất mà có
những lúc, họ dùng tới nhiều cách khác để gây ra những tổn thương về tâm lý
cho người vợ: mắng mỏ, chửi bới, xúc phạm danh dự…; hoặc có những hành vi
cưỡng bức về tình dục, kiểm soát về kinh tế…có 32% phụ nữ từng kết hôn cho
biết họ đã phải chịu bạo lực thể xác trong đời và 6% đã từng trải qua bạo lực thể
xác trong vòng 12 tháng trở lại đây. Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực thể xác
– được đo lường bởi tỷ lệ bạo lực hiện tại – bắt đầu sớm trong mối quan hệ và
giảm dần theo độ tuổi. Có sự khác biệt giữa các khu vực và trình độ học vấn và
với phụ nữ có trình độ học vấn thấp hơn thì tỷ lệ bị bạo lực thể xác cao hơn so
với phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn và trong số những phụ nữ bị bạo lực cao
hơn thì mức độ nghiêm trọng của những hành vi bạo lực cũng cao hơn. Trong số
những phụ nữ đã từng mang thai, tỷ lệ bị bạo lực thể xác trong ít nhất một lần
mang thai là 5% và tỷ lệ bị bạo lực khi đang mang thai cao nhất ở những phụ nữ
chưa từng đến trường.

14


Bạo lực tình dục do chồng gây ra: Phụ nữ gặp khó khăn hơn khi tiết lộ
những trải nghiệm bạo lực tình dục so với những trải nghiệm bạo lực thể xác.
Tương tự như vậy, việc nói về bạo lực tình dục trong hôn nhân được xem như
một chủ đề không phù hợp. Tuy nhiên, trong các buổi phỏng vấn có 10% phụ nữ
từng kết hôn cho biết họ đã từng bị bạo lực tình dục trong đời và 4% trong 12
tháng qua. Đáng chú ý là bạo lực tình dục hiện tại không thay đổi nhiều ở những
nhóm tuổi khác nhau (tới 50 tuổi) và trình độ học vấn của phụ nữ.

Hơn nữa, số phụ nữ bị chồng gây bạo lực thể xác cũng cho biết con cái họ đã
từng chứng kiến ít nhất một lần cảnh bạo lực này. Phụ nữ từng bị bạo lực do
chồng gây ra có nguy cơ mẹ mình cũng từng bị cha đánh đập cao gấp hai lần so
với những phụ nữ khác. Nguy cơ này tăng gấp ba lần nếu họ có mẹ chồng bị bố
chồng đánh hoặc bản thân chồng cũng bị đánh đập khi còn nhỏ. Trải nghiệm thơ
ấu của người chồng là một yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn tới việc anh ta trở
thành người gây bạo lực trong đời sống sau này.
2.1.3. Con cái bạo lực cha mẹ, ông bà.

16


Bên cạnh những hành vi từ phía cha mẹ, ông bà đối với con cháu, thì bạo
lực gia đình xuất phát từ người con đối với cha mẹ, ông bà mình cũng đang ngày
càng gia tăng. Một số trường hợp người trẻ tuổi gây ra những tổn thương về cả
vật chất, tinh thần cho cha mẹ, ông bà do sự thiếu kiềm chế, do đua đòi hư hỏng
hoặc một vài lý do khác. Tuy nhiên, không thể bào chữa, biện hộ cho những
người con đã khôn lớn trưởng thành dưới bàn tay yêu thương, nuôi dạy của cha
mẹ, ông bà nhưng lại bỏ bê, không chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, ông bà, thậm
chí hơn là đánh đập, chửi mắng, xỉ nhục những người đã có công sinh thành,
nuôi dưỡng mình. Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy nguyên nhân đơn giản dẫn
đến hành vi trên là do: những người già thì sức khỏe yếu, không còn sức lao
động nên cần có người chăm sóc; trong khi những đứa con không đủ yêu thương
nên không muốn tốn kém tiền của, thời gian, công sức của mình cho cha mẹ,
đúng như câu ca dao xưa mà người đời hay đọc “Cha mẹ nuôi con bằng trời bể Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày”. Điều này chứng tỏ một sự xuống cấp đạo
đức nghiêm trọng của một bộ phận giới trẻ hiện nay, nó hoàn toàn đi ngược lại
với truyền thống đề cao chữ “hiếu” của dân tộc Việt Nam.
2.2.Luật pháp, chính sách trong phòng chống bạo lực gia đình.
Luật Phòng, chống bạo lực trong gia đình hay còn gọi là Luật phòng,
chống bạo hành là đạo luật được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa

18


lực gia đình tại cộng đồng bằng tuyên truyền và thành lập câu lạc bộ phòng
chống bạo lực gia đình.
Mô hình câu lạc bộ Công tác gia đình là nơi thu hút các gia đình gần nhau
để giao lưu chia sẻ kinh nghiệm xây dựng gia đình hạnh phúc, cung cấp kiến
thức kỹ năng về nhận diện thế nào là bạo lực gia đình và ngăn ngừa, ứng xử, giải
quyết mâu thuẫn đến phát huy giá trị tốt đẹp trong gia đình Việt Nam. Mỗi Câu
lạc bộ có từ 20-25 thành viên tham gia, các Câu lạc bộ sinh hoạt định kỳ hàng
tháng, với các nội dung như xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh
phúc; nét đẹp, cách ứng xử trong gia đình; lên án, phê phán các hành vi bạo lực
gia đình và các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình, kiến thức chăn nuôi,
phát triển kinh tế…thực hiện nội quy, quy ước thôn. Nội dung sinh hoạt được
thay đổi, hình thức đa dạng phong phú, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề,
lồng ghép với công tác hoà giải và tuyên truyền phổ biến.
“Nhà tạm lánh” là một trong những mô hình hỗ trợ nạn nhân bị bạo hành.
Mô hình này đã trở thành địa chỉ đáng tin cậy cho các nạn nhân bị bạo hành
trong thời gian gần đây. Tại đây, các nạn nhân được cung cấp chỗ ăn, nghỉ miễn
phí, được tham vấn tâm lý và hướng dẫn một số kỹ năng sống cơ bản như: Kỹ
năng giải quyết mâu thuấn, kỹ năng ứng phó với các tình hướng căng thẳng, kỹ
năng tìm kiếm sự hỗ trợ... Một số được hỗ trợ khám chữa bệnh và điều trị, tạo
điều kiện học một số ngành nghề do Trung tâm dạy nghề hướng dẫn.Các nạn
nhân tại đây được hỗ trợ tham vấn để bình ổn tâm lý, cảm thấy có chỗ dựa về
tinh thần, giảm bớt sự bế tắc, bi quan, chán nản.Có thể nói, “Nhà tạm lánh” đã
giúp rất nhiều nạn nhân bị bạo hành lấy lại được tinh thần sau những tổn thương
mà họ phải chịu đựng, giúp họ có cơ hội được tiếp cận với các quy định của

19


đình có bạo lực gia đình của Việt Nam.
3.1.Đánh giá tình hình triển khai luật pháp, chính sách, mô hình dịch vụ
của Việt Nam.
Bạo lực gia đình là vấn nạn của xã hội, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại
nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ, trẻ em.Ở Việt
Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới
việc phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và
gián tiếp như: Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự,..và đặc biệt Luật phòng, chống bạo lực gia đình
2007. Những văn bản này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống xã
hội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Nhưng đánh giá một cách
khách quan thì các quy phạm pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống, sự
quan tâm và hiểu biết về lĩnh vực này chưa đi vào chiều sâu, tình trạng bạo lực
trong gia đình chưa có nhiều thay đổi, chuyển biến tích cực và thế nữa nó dần trở
thành như một hiện tượng của xã hội.
3.1.1. Đánh giá tình hình triển khai luật pháp chính sách của Việt Nam.
Số liệu từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình và phụ nữ ở Việt Nam
cho thấy, gần 60% phụ nữ Việt Nam từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực
trong đời. Trung bình mỗi năm xảy ra 1.000 vụ xâm hại tình dục trẻ em, 8.000
vụ ly hôn và 27% phụ nữ bị ngược đãi nhập viện, hơn 10% điều trị y khoa
nghiêm trọng mà nguyên nhân là do bạo lực giới. Thế nhưng, một con số đáng
buồn là có tới 87% người bị bạo lực đã không tìm đến sự giúp đỡ từ các dịch vụ
công cộng; 54% người bị bạo lực giới nghĩ rằng các biện pháp xử lý của công an

21


chưa nghiêm, chỉ có 8% người bị bạo lực giới đã được cán bộ tư pháp để tìm
kiếm trợ giúp pháp lý, 66% người bị bạo lực giới không hài lòng với việc hòa
giải tại cộng đồng… Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tư pháp hình sự hiện nay

Luật lại không giải thích khái niệm “thành viên gia đình” nên gây khó hiểu
trong quá trình áp dụng luật.Hiện nay, đa số người dân vẫn dựa vào khái niện gia
đình theo Luật Hôn nhân và gia đình “Gia đình là tập hợp những người gắn bó
với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm
phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật
này”; từ đó cho rằng: thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau do hôn
nhân, do quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng. Sự suy luận này
tưởng như rất logic nhưng suy cho cùng thì chẳng có căn cứ gì, bởi Luật Hôn
nhân và gia đình và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình là hai đạo luật hoàn toàn
độc lập nhau, có vị trí ngang bằng nhau trong hệ thống pháp luật, nên không thể
tùy tiện áp dụng khái niệm của Luật này để giải thích quy định của Luật khác.
Như vậy, hiện nay đối tượng điều chỉnh của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
chưa được quy định một cách rõ ràng, có thể gây ra nhiều cách hiểu khác nhau,
và do đó việc áp dụng các quy định này để bảo vệ nạn nhân trở nên khó khăn
hơn.Vì vậy, cần phải quy định rõ ràng hơn những hành vi bị coi là “bạo lực gia
đình” và có sự tổng hợp các quy định tại những văn bản pháp luật khác nhau về
các hành vi để đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả của các quy phạm pháp luật.
Một số quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn chưa được
hoàn thiện như:

23


Biện pháp cấm tiếp xúc: Việc quy định việc cấm tiếp xúc trong một thời
gian giữa người có hành vi bạo lực và nạn nhân là cần thiết để đảm bảo sự an
toàn cho nạn nhân, để hai bên có thời gian cân nhắc về hành động và cũng là để
giáo dục người có hành vi bạo lực về tội lỗi của họ. Tuy nhiên, biện pháp này
yêu cầu có sự đồng ý của nạn nhân hoặc người giám hộ, điều này có phần chưa
khả thi. Bởi vì, bản chất của những mối quan hệ trong gia đình là gắn bó thân
thiết và bền chặt, nếu một người có ý từ bỏ, sống ra ngoài thì mối liên hệ giữa

Đồng thời, nếu thực hiện cấm tiếp xúc thì người thực hiện hành vi có thể phải rời
khỏi nơi cư trú (nếu nạn nhân không tìm được nơi ở khác thích hợp) và đảm bảo
quyền trông nom, chăm sóc gia đình, con cái của nạn nhân.Trường hợp nạn nhân
hoàn toàn bị lệ thuộc vào kinh tế thì khi cách li có thể xem xét việc yêu cầu cấp
dưỡng cho nạn nhân.
Quy định về hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình:Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày
12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa
cháy; phòng, chống bạo lực gia đình – đã đưa ra những chế tài cần thiết đối với
người thực hiện hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, quy định về hình thức phạt
tiền của Nghị định này còn chưa được hợp lý, bởi mức hình phạt nhìn chung còn
thấp, trong một số trường hợp là rất bất hợp lý như hành vi xúc phạm danh dự,
nhân phẩm người ngăn chặn, phát hiện, báo tin bạo lực gia đình, người giúp đỡ
nạn nhân bạo lực gia đình hoặc hành vi ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn
bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác thì
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status