Nghiên cứu tạo phôi lợn bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------------

NGUYỄN THỊ HƢƠNG

NGHIÊN CỨU TẠO PHÔI LỢN
BẰNG PHƢƠNG PHÁP THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

CÁN BỘ HƢỚNG DẪN: TS. Nguyễn Lai Thành

Hà Nội - 2010


MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ________________ Error! Bookmark not defined.
MỤC LỤC _____________________________________________________ 1
MỤC LỤC HÌNH _________________________ Error! Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU ______________________________________________________ 4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN_________________________________________ 6
1.1 Buồng trứng và sự tạo trứng _________________________________ 6
1.1.1 Cấu tạo và hoạt động của buồng trứng ________________________ 6
1.1.2 Cấu tạo và sự hình thành tế bào trứng ________________________ 9
1.2 Cấu tạo và hoạt động của ống dẫn trứng ______________________ 14
1.3 Cấu tạo tinh trùng và quá trình hình thành tinh trùng ___________ 16
1.3.1 Cấu tạo tinh trùng _______________________________________ 16
1.3.2 Quá trình sinh tinh ______________________________________ 17

36
36
36
36
36
37

2.3 Phƣơng pháp nghiên cứu ___________________________________
2.3.1 Phương pháp thu và bảo quản buồng trứng từ lò mổ ____________
2.3.2 Phương pháp thu trứng từ buồng trứng_______________________
2.3.3 Phương pháp thu dịch nang trứng ___________________________
2.3.4 Phương pháp đánh giá chất lượng trứng thu được ______________
2.3.5 Phương pháp nuôi tế bào trứng chín in vitro __________________
2.3.6 Phương pháp đánh giá chất lượng trứng ______________________
2.3.7 Phương pháp hoạt hóa tinh trùng in vitro _____________________
2.3.8 Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm _____________________
2.3.9 Phương pháp nuôi hợp tử trong ống nghiệm __________________
2.3.10 Phương pháp đánh giá chất lượng phôi _____________________
2.3.11 Phương pháp bảo quản lạnh phôi __________________________
2.3.12 Phương pháp giải đông phôi và nuôi cấy phôi sau giải đông _____
2.3.13 Phương pháp xử lý số liệu _______________________________

38
38
38
39
39
40
40
41


KẾT LUẬN ___________________________________________________ 65
KIẾN NGHỊ __________________________________________________ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO _______________________________________ 64

3


MỞ ĐẦU
Trong suốt quá trình phát triển, loài người đã khai phá thiên nhiên, thuần
hóa và chọn lọc rất nhiều loại động vật, giữ lại những giống loài tốt, có lợi cho
mình và loại thải những giống không hiệu quả. Trong các loài động vật được
thuần hóa, lợn là loài động vật gắn bó với con người từ thuở hoang sơ cho tới tận
bây giờ. Điều này đã nói lên sự cần thiết và vai trò to lớn của lợn trong đời sống
con người. Vai trò đầu tiên phải kể đến của lợn đó là nguồn thực phẩm cần thiết,
có giá trị dinh dưỡng cao cho con người. Theo Harris và cs (1956) thì cứ 100g
thịt lợn nạc có 367 Kcal và 22 g protein [18]. Trong xã hội hiện đại, lợn còn
đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Theo các nhà
nghiên cứu giải phẫu và mô học thì cấu tạo phôi thai của lợn và người có sự
tương đồng rất lớn [3]. Do đó các nhà nghiên cứu đã sử dụng phôi thai lợn để
tiến hành nghiên cứu về cấu tạo, sự phát triển và các cơ chế hoạt động của phôi
thai người. Còn theo các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu dinh dưỡng và tỷ lệ các
chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của lợn rất gần với con người. Vì vậy
mà lợn đã được sử dụng làm đối tượng để tiến hành các thí nghiệm về dinh
dưỡng cho con người. Cùng với sự phát triển của khoa học thì lợn càng giữ
nhiều vai trò quan trọng trong việc phục vụ sức khỏe con người. Các nhà nghiên
cứu đã sử dụng công nghệ cấy ghép, chuyển gen để cải thiện sức kháng bệnh tật,
thay đổi đặc tính sinh trưởng, sử dụng lợn như một bộ máy sinh học để tạo ra
nguồn dược liệu quí.
Đặc biệt trong y học, các nhà khoa học đã tạo ra mô hình trên lợn nhiều loại

lượng phôi lợn bằng cách bổ sung dịch nang buồng trứng lợn vào môi trường nuôi
thành thục trứng; Thử nghiệm bảo quản phôi lợn thụ tinh in vitro bằng đông lạnh
trong ni tơ lỏng.

5


TỔNG QUAN

Chƣơng 1.
1.1 Buồng trứng và sự tạo trứng

1.1.1 Cấu tạo và hoạt động của buồng trứng
Buồng trứng là cơ quan tạo giao tử cái (noãn bào - tế bào trứng) ở động vật
nói chung cũng như ở các gia súc nói riêng. Không giống như tinh hoàn, buồng
trứng nằm trong xoang bụng, sau thận, dưới đỉnh và trước khung xương chậu.
Buồng trứng ở mỗi con cái gồm một buồng trứng bên trái và một buồng trứng bên
phải. Chức năng của buồng trứng là: tạo ra tế bào trứng và sản xuất hormone sinh
dục cái [33]. Buồng trứng tạo trứng thành thục theo một tần suất nhất định. Ở lợn,
mỗi chu kỳ rụng trứng tạo ra khoảng 10-20 tế bào trứng mỗi. Tế bào trứng nằm
trong các nang trứng. Các hormone được buồng trứng tiết ra là estrogen và
progesterone. Estrogen được tiết ra từ các nang trứng còn progesterone được tiết
ra từ các thể vàng, cả hai hormone này đều thuộc nhóm hormone steroid.
Estrogen có chức năng: kích thích sự phát triển của các cơ quan sinh dục cái; tăng
hành vi liên quan đến động dục như chịu đực; kích thích sự phát triển của tuyến
vú; kích thích các đặc tính sinh dục của lợn nái. Progesterone có vai trò quan trọng
trong việc chuẩn bị tử cung để cho phôi làm tổ; ngăn cản sự thành thục của các tế
bào trứng khác trong quá trình mang thai; duy trì sự có chửa và kết hợp với
estrogen và các chất khác để kích thích sự phát triển của tuyến vú.
Buồng trứng gồm có 2 miền, miền tủy bên trong và miền vỏ bên ngoài.

7


các nang bào. Các xoang nhỏ lớn dần cùng sự phát triển của trứng và sau đó thì kết
hợp làm một. Khi một xoang đã được hình thành thì nang đó được gọi là nang bậc
III (tertiary follicle) hay còn gọi là nang có hốc. Nang bậc III thành thục khi quan
sát thấy nó chứa đầy dịch và nổi lên bề mặt buồng trứng và được gọi là nang Graaf.
Dịch trong nang bậc III được gọi là dịch nang trứng. Đây là một dịch nhớt giàu
hormone sinh sản steroid. Nhiều hormone sinh sản khác cũng như các yếu tố không
phải hormone giúp điều hoà chức năng buồng trứng cũng đã được tìm thấy trong
dịch nang trứng.

Hình 2: Cấu tạo bên trong nang Graaf
Có nhiều lớp tế bào trong nang Graaf được coi là có chức năng quan trọng
(Hình 2). Bao Graaf thường có kích thước rất lớn, ở lợn đường kính bao Graaf
trước khi vỡ vào khoảng 8-12 mm, nó đội cả màng trắng và biểu mô phủ buồng
trứng lồi hẳn lên trên mặt buồng trứng. Bao Graaf là một cái xoang chứa dịch
với rất nhiều enzym, hormon, AMP vòng và các phân tử khác, các nang bào bị
đẩy ra ngoại vi, hình thành một lớp bọc xoang dày khoảng 5-6 lớp tế bào hạt.
Noãn bào có vài lớp nang bào bao quanh được gọi là vành phóng xạ sẽ bao
quanh trứng khi trứng rụng và cả khi trứng di chuyển trong ống dẫn trứng. Khối
gồm noãn bào và vành phóng xạ lúc này bị đẩy về một phía của xoang và chỉ nối
với thành nang bởi một dải vài lớp tế bào gọi là cuống mang trứng, đặc điểm này

8


tạo thuận lợi cho sự tách noãn khỏi thành nang trứng. Màng sáng lúc này đã rất
dày và rõ. Noãn bào cực đại tuy có kích thước rất nhỏ so với nang trứng (khoảng
150 m so với 15-20mm). Nhân noãn bào rất lớn còn gọi là bóng phôi, nó có thể

nhất trong cơ thể, được biệt hóa cao độ và có khả năng kết hợp với tinh trùng để
hình thành hợp tử. Hợp tử này sẽ phát triển thành một cơ thể mới.

Hình 3. Tế bào trứng lợn thành thục
Lớp vỏ tế bào trứng lợn được gọi là màng sáng, nó do chính tế bào trứng tạo
nên. Màng sáng là dạng chuyên hoá cao của khuôn ngoại bào (glicocalix) của tế bào
trứng, là sự mở rộng các glycoprotein màng từ màng sinh chất. Nó bao trực tiếp
quanh màng bào tương. Lớp này khá dày, nó bảo vệ trứng khỏi các tác động cơ học
có hại. Nó còn có tính đặc hiệu loài và ngăn cản không cho các tinh trùng khác loài
xâm nhập. Ở nhiều loài động vật, màng trứng thứ nhất thường có những vi lỗ xuyên
qua gọi là noãn khổng (micropile). Trên màng trứng noãn khổng có vị trí khác nhau
tuỳ loài, ở cực trên, cực dưới hoặc ở nơi trứng dính vào buồng trứng. Xuyên qua
màng sáng có các chồi tế bào chất xuất phát từ các nang bào để tăng cường mối liên
kết và trao đổi chất với tế bào trứng. Ở động vật có vú còn có các tế bào nang bao
quanh trứng gọi là vành phóng xạ có chức năng nuôi dưỡng trứng trong thời gian
trứng đã giải phóng khỏi buồng trứng, tinh trùng phải chui qua được các lớp tế bào
này mới thụ tinh được cho trứng.
Bên trong tế bào chất có một lớp mỏng tế bào chất ngoại vi (khoảng 5m),
ngay dưới màng trứng có cấu tạo đặc biệt có độ quánh lớn hơn lớp tế bào chất bên
trong gọi là lớp vỏ. Trong lớp này cũng chứa nhiều phân tử actin dạng cầu, trong
quá trình thụ tinh, các phân tử này sẽ trùng hợp lại hình thành những sợi actin dài

10


gọi là vi sợi (microfilament) rất cần thiết cho quá trình phân bào và tạo ra vi lông
nhung trên bề mặt trứng giúp cho tinh trùng xâm nhập vào trứng. Lớp này còn có
rất nhiều hạt vỏ được bao bọc bởi màng sinh chất có cấu trúc tương đồng với thể
đỉnh (cũng được tạo ra từ phức hệ Golgi) có chứa rất nhiều enzym. Trong hạt vỏ
còn chứa các phân tử mucopolisaccarit, là một loại glycoprotein dính và phân tử

thành thục, trong khi các tế bào trứng khác vẫn ở trạng thái dừng phát triển. Tuy

12


nhiên, ở giai đoạn thể vàng thoái hoá, tế bào trứng ở các nang trội đạt đến sự
thành thục và được giải phóng ra thông qua sự rụng trứng vào đường sinh dục
(ống dẫn trứng) để thụ tinh.Ở bò, cừu, dê và ngựa thường chỉ có 1 tế bào trứng
chín rụng trong khi đó ở lợn có khoảng 10-25 tế bào trứng có thể thành thục và
được giải phóng ra lúc rụng trứng.
Tiếp sau giai đoạn nghỉ phân bào giảm nhiễm, sự thành thục được phục
hồi cùng với sự phát triển của tế bào trứng và sự hình thành màng trong suốt bao
quanh tế bào trứng. Sự phát triển của tế bào trứng thường đi cùng với sự phát
triển của nang trứng. FSH kích thích sự tăng sinh của tế bào hạt bao quanh tế bào
trứng, cùng với sự phát triển của nang sơ cấp thành nang thứ cấp. Sự kích thích
tiếp tục của FSH làm cho tế bào hạt tiếp tục tăng sinh và hình thành xoang.
Trong giai đoạn phát triển này, nang trứng hay tế bào trứng đã đạt tới khả năng
rụng trứng trở thành nang trội. Khi nang trội và các nang có xoang khác tiết đủ
oestrogen, có một đợt LH tăng lên trước rụng trứng. Nồng độ LH cao đã xâm
nhập vào dịch nang trứng và giải phóng tế bào trứng thoát khỏi trạng thái dừng
phát triển. Sau đó, quá trình phân bào giảm nhiễm I tiếp tục cho đến khi hoàn
thành việc hình thành thể cực thứ nhất. Sản phẩm của phân bào giảm nhiễm thứ
nhất là tế bào trứng thứ cấp và thể cực thứ nhất nằm giữa màng tế bào chất và
màng trong suốt. Với sự phân chia này, số nhiễm sắc thể trong tế bào trứng thay
đổi từ trạng thái nhị bội (2n) xuống đơn bội (n). Tế bào trứng thứ cấp giữ lại toàn
bộ nguyên sinh chất và một nửa vật chất nhân (nhiễm sắc thể) của tế bào trứng
nguyên thuỷ. Một nửa vật chất nhân khác được đẩy ra ngoài thành thể cực thứ
nhất. Sự phân bào giảm nhiễm thứ nhất được hoàn thành ngay trước rụng trứng ở
bò, lợn, cừu và ngay sau khi rụng trứng ở ngựa.
Sự phân bào giảm nhiễm lần thứ II (giảm nhiễm II) bắt đầu ngay sau khi

mạc có lông chuyển (cilia). Phần phình ống là đoạn giữa, có chiều dài bằng một nửa
ống dẫn trứng và có đường kính 3-5mm. Niêm mạc phần phình ống có 20-40 nếp

14


gấp dọc, điều đó giúp tăng diện tích bề mặt của phần phình ống. Đa số các tế bào
niêm mạc phần phình ống là lông chuyển, nhưng cũng có một số tế bào phân tiết có
mặt ở đây. Tác động của lông chuyển là hỗ trợ cho sự di chuyển của tế bào trứng
xuống phía phình ống. Phần phình ống nối với phần eo ống ở chỗ nối phình ống eo ống. Vị trí này rất khó phân biệt bằng giải phẫu và được mô tả là một cấu trúc
sinh lý mà ở đó tế bào trứng được giữ lại một thời gian trong lúc di chuyển. Sự thụ
tinh xảy ra ở chỗ tiếp giáp này. Phần eo ống thường nhỏ hơn phần phình ống, nó có
đường kính từ 0,5-1mm. Nó còn được phân biệt bởi lớp cơ trơn dày hơn so với
phần phình ống và có 4 - 8 nếp gấp niêm mạc. Tỷ lệ tế bào phân tiết cao hơn tế bào
lông chuyển ở phần eo ống. Phần eo ống liên quan tới việc vận chuyển tinh trùng có
hoạt lực tới vị trí thụ tinh và loại bỏ những tinh trùng đã chết. Eo ống nối với đầu
sừng tử cung. Nhìn chung, ống dẫn trứng co bóp do kích thích của oestrogen và bị
ức chế bởi progesterone.
Ống dẫn trứng động vật có vú cung cấp một môi trường phù hợp cho sự di
chuyển và chín muồi của các giao tử, thụ tinh và sự phát triển của phôi ở giai đoạn
đầu. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để nhận biết những sản phẩm do ống dẫn
trứng tiết ra, từ đó có thể giúp cho việc phát triển các môi trường phù hợp để nuôi
phôi. Môi trường do ống dẫn trứng tạo ra đóng một vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy thụ tinh và sự phát triển của phôi ở giai đoạn đầu. Phân tích sinh hoá dịch
ống dẫn trứng có thể giúp nhận biết được những thành phần phù hợp cho môi
trường nuôi phôi ở giai đoạn đầu in-vitro. Rõ ràng là mối quan hệ giữa phôi - ống
dẫn trứng đặc biệt quan trọng và những hệ thống nuôi trong ống nghiệm nào nhận
biết được mối quan hệ này đều thành công trong việc nuôi phôi trong ống nghiệm.
Dựa trên sự hiểu biết về tiểu môi trường ống dẫn trứng người ta đã tổng hợp nên
các môi trường in vitro để tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm. [55].

phần này chịu trách nhiệm cho sự chuyển động.

16


1.3.2 Quá trình sinh tinh
Tinh trùng được phát sinh trong tuyến sinh dục đực hay còn gọi là tinh
hoàn. Quá trình sinh tinh được biểu diễn trong Hình 6.

Hình 6. Sơ đồ quá trình hình thành giao tử đực
Các tinh nguyên bào thường nằm sát màng đáy, có kích thước 10 μm và
thường có nhân tròn hoặc elip. Tinh nguyên bào thế hệ cuối cùng chuyển sang giai
đoạn tăng trưởng, lớn lên gọi là tinh bào 1. Các tinh bào 1 đang ở giai đoạn tiền kỳ
của giảm phân 1. Kết thúc giảm phân 1, tinh bào 1 phân chia tạo ra hai tế bào nhỏ
hơn gọi là tinh bào 2. Ngay lập tức, các tinh bào 2 phân chia thành hai tinh tử.
Để trở thành tinh trùng, tinh tử phải trải qua một loạt quá trình biến đổi
phức tạp gồm: biến đổi trung thể, biến đổi nhân và hình thành thể đỉnh [1].
Biến đổi trung thể: ở kỳ cuối giảm phân 2, trung thể tách ra làm hai hạt nhỏ
và di chuyển về phía sau, trung thể gần nằm trong hố lõm của màng nhân, trung thể
xa phát ra sợi trục. Sợi trục mọc dài kéo theo các biến đổi khác của tinh tử.
17


Sự biến đổi nhân: Nhân mất nước, nhỏ lại, trở nên đồng nhất và bắt màu đậm
Sự hình thành thể đỉnh: Trong tinh tử, hệ thống golgi gồm một hệ thống
các bể chứa dẹp và nhiều không bào. Các không bào lớn dần, trong chúng xuất
hiện các thể đặc biệt gọi là hạt tiền thể đỉnh. Các không bào này hợp thành một
không bào duy nhất với một hạt thể đỉnh duy nhất. Không bào ép sát vào phần
đầu của nhân, dẹp lại hình thành thể đỉnh.
Cùng với sự bé đi của nhân và hình thành thể đỉnh, sợi trục mọc dài dần

động vật, sau đó màng nhân vỡ ra, dịch nhân hòa với tế bào chất, các lưỡng trị
sắp xếp thành tấm trung kỳ của thoi phân chia. Thoi phân chia trực giao với bề
mặt trứng, các lưỡng trị phân chia ở hậu kỳ và sau mạt kỳ hình thành nên hai tế
bào. Một tế bào gồm nhân và rất ít nguyên sinh chất, tách khỏi noãn bào nằm
ngoài màng sinh chất, trong màng noãn hoàng, được gọi là thể cực một. Tế bào
thứ hai lớn hơn rất nhiều và được gọi là noãn bào bậc hai. Trong noãn bào bậc
hai, nhiễm sắc thể lập tức phân bố thành tấm trung kỳ của lần phân chia thứ hai.
Dưới tác động của nhân tố ức chế giảm phân, quá trình giảm phân sẽ dừng lại ở
trung kỳ của giảm phân 2 và sự thụ tinh sẽ giải tỏa ức chế này để trứng tiếp tục
phát triển [1]. Trong tự nhiên, thời gian trải qua các giai đoạn tan biến túi mầm,
metaphse I và metaphase II của các loài khác nhau là khác nhau. Ở bò thời gian
từ khi tan biến túi mầm đến giai đoạn metaphase II là 19 giờ còn ở lợn là 38 giờ.
Do đó để nuôi thành thục trứng lợn đòi hỏi khoảng thời gian là 38-44 giờ.

19


Sự thành thục tế bào chất
Đồng thời với các diễn biến của nhân, tế bào chất cũng có nhiều biến đổi.
Trứng trở nên mọng nước, tăng áp suất nội bào, giảm tính thấm, lớp tế bào chất
bề mặt trở nên có tính co giãn và xuất hiện khả năng phân chia. Một trong những
sự kiện quan trọng đánh dấu sự thành thục của trứng là sự vỡ màng nhân. Màng
nhân bị vỡ dưới ảnh hưởng của tác nhân phá hủy màng nhân. Tác nhân này xuất
hiện trong noãn bào dưới ảnh hưởng của progesteron và không có sự tham gia
của nhân. Sau khi vỡ màng nhân các tác nhân hội tụ nhiễm sắc thể, tác nhân
trương nhân tinh trùng, tác nhân phân bào xuất hiện để chuẩn bị cho các yếu tố
cần thiết cho quá trình thụ tinh, hình thành và phát triển phôi. [1]

1.4.2 Vai trò của tế bào nang
Tế bào nang là những tế bào soma, xếp thành nhiều lớp bao quanh trứng.

được tổng hợp trong nang trứng, các enzyme đặc hiệu phục vụ hoạt động của
buồng trứng như: ATPase, lactate dehydrogenase, transaminase, alkaline
phosphatases và chứa nhiều loại hormone quan trọng tới sự hình thành và phát
triển của nang trứng như Gonadotrophin, đặc biệt là các steroid như: oestrogen,
androgens và progestogens [41], [70]. Dịch nang trứng chứa các yếu tố sinh
trưởng, các hoocmon steroid và các thành phần cần thiết cho quá trình phát triển
của trứng mà trong điều kiện nghiên cứu in vitro các môi trường chưa thể bổ
sung đầy đủ [30], [56]. Mặc dù việc thu và bảo quản dịch nang đòi hỏi nhiều thời
gian và công sức, khi sử dụng dịch nang trứng khả năng nhiễm khuẩn cao nhưng
nó vẫn được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng. Dịch nang
trứng đóng vai trò quan trọng trong quá trình thành thục nhân, tế bào chất của
trứng, quyết định chất lượng trứng sau khi nuôi qua đó nâng cao hiệu quả của
quá trình thụ tinh [6], [41]. Ngoài ra theo một số tài liệu nó còn tác động tới sự
hình thành tiền nhân và khả năng phát triển của phôi [20], [62]. Yoshida và cộng
sự (16) cũng báo cáo rằng việc bổ sung dịch nang trứng làm tăng tỷ lệ hình thành
tiền nhân đực, tỷ lệ thụ tinh và phát triển của trứng [70]. Theo báo cáo của Naito
và Rath việc bổ sung dịch nang trứng vào môi trường nuôi trứng có, vai trò
trong việc phục hồi quá trình giảm phân của trứng sau thụ tinh [41], [47]. Cũng
theo Yoshida và cộng sự, trong dịch nang trứng chứa các phân tử trọng lượng

21


khoảng 10-200 kDa mang tính axit và không bền với nhiệt, các phân tử này chịu
trách nhiệm trong sự thành thục và năng lực phát triển của trứng. Theo một số
tác giả, chất lượng dịch nang trong các nang có kích thước khác nhau là khác
nhau. Khi nuôi trứng với dịch nang thu từ các nang trứng lớn thì khả năng hình
thành tiền nhân đực là lớn hơn khi nuôi trong môi trường bổ sung dịch thu từ các
nang nhỏ [12], [23]. Ngoài ra dịch nang trứng còn có ảnh hưởng tới khả năng
xâm nhập của tinh trùng ngăn cản sự đa tinh trùng trong quá trình thụ tinh in

môi trường nuôi trứng, nuôi phôi của động vật có vú mà còn được sử dụng trong
hệ thống nuôi cấy mô. Huyết thanh bê là nguồn cung cấp protein cho trứng trong
giai đoạn nuôi trứng thành thục. Theo Schroeder và cộng sự (1990) trong huyết
thanh bê chứa fetuin, nhóm glycoprotein này có khả năng ngăn cản sự xơ cứng
của màng ZP trong quá trình nuôi trứng thành thục [52]. Fetuin hoạt động thông
qua việc ngăn cản sự hoạt động của emzyme proteolytic được hình thành từ việc
giải phóng sớm các hạt vỏ. Ngoài ra, tác dụng ngăn cản sự cứng màng zona của
trứng cũng có ảnh hưởng tới sự thành thục tế bào chất của trứng trong quá trình
thành thục [21].
1.5 Sự hoạt hóa tinh trùng

1.5.1 Khái niệm hoạt hóa tinh trùng
Hoạt hoá tinh trùng là một quá trình mà ở đó tinh trùng diễn ra một loạt
các phản ứng sinh hoá và sinh lý phức tạp trước khi có khả năng thụ tinh với tế
bào trứng thành thục. Người ta cho rằng các giai đoạn đầu tiên của hoạt hoá liên
quan đến việc loại bỏ và thay thế các thành phần có nguồn gốc từ ống sinh tinh
(Seminiferous Tubule), mào tinh (Epididymis), ống dẫn tinh (Vas Deference) và
tinh thanh (Seminal Plasma). Trong khi di chuyển từ tinh hoàn qua mào tinh
(Epididymis), tinh trùng được thay đổi để trở thành những tế bào thành thục có
khả năng thụ tinh và dự trữ ở đuôi dịch hoàn phụ đến khi được giải phóng ra
trong quá trình xuất tinh hay thải vào nước tiểu [55] .

23


1.5.2 Sự hoạt hóa tinh trùng in vitro
Sự hoạt hóa tinh trùng là rất quan trọng, nó quyết định sự thành công của quá
trình thụ tinh in vitro. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình này. Để tạo điều
kiện cho quá trình thụ tinh thì tinh trùng phải đạt các yêu cầu về sự vận động, hoạt
lực để có thể tới trứng tham gia phản ứng thể đỉnh, xâm nhập vào trứng, gắn kết và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status