Đánh giá ảnh hưởng môi trường của việc thu hồi đất tại quận Tây Hồ, Hà Nội (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------

NGÔ THỊ HÀ

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG MÔI TRƢỜNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT
TẠI QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2011


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................... 10
1.1. Khái quát hệ thống pháp luật đất đai của Việt Nam về thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, TĐC ....................................................................................................... 10
1.1.1 Những văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai ..................................... 10
1.1.2 Một số văn bản về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng ................... 13
1.2.Tổng quan về quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội…………. ……24
1.2.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 24
1.2.2. Các nguồn tài nguyên ............................................................................ 28
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội ...................................................................... 31
Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............... 33
2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 33
2.2. Nội dung nghiên cứu .............................................................................................. 33
2.3. Phương pháp nghiên cứu. ..................................................................................... 33
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 36

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất quận Tây Hồ năm 2010

19

Hình 2

Biến động sử dụng đất tại quận Tây Hồ giai đoạn 2005-2010

42

Hình 3

Khung giá đất do UBND TP.Hà Nội quy định

42

Hình 4

Giá đất do Nhà nước quy định và ước tính giá đất tương ứng

45

Hình 5

Câu cá ở Hồ Tây

45

Hình 6


Kết quả phân tích chất lượng nước tại 3 vị trí năm 2010

57

Hình 12

Kết quả phân tích DO trong nước Hồ Tây từ năm 2008 đến

57

năm 2010
Hình 13

Kết quả phân tích Coliform trong nước Hồ Tây từ năm 2008

58

đến năm 2010
Hình 14

Mức độ hài lòng của người bị thu hồi đất về quy trình chi trả

61

bồi thường hỗ trợ
Hình 15

Mức độ hài lòng của người bị thu hồi đất về giá bồi thường

62

Bảng 3: Tổng hợp tình hình thực hiện các dự án có liên quan đến giải phóng mặt
bằng từ năm 2005 đến 2010 ....................................................................................503
Bảng 4. Biến động dân số giai đoạn 2005 – 2010 ................................................5548
Bảng 5: Mẫu được nghiên cứu tại 6 vị trí từ HT1 đến HT6 ...................................570
Bảng 6: Một số chỉ tiêu chính đánh giá nước hồ Tây .............................................581
Bảng 7. Kết quả phân tích chất lượng nước tại một số vị trí trên Hồ Tây ..............625
Bảng 8: Giá đất dao động trước và sau khi thực hiện dự án..................................769


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

Các chữ viết tắt

Ký hiệu

1

Công nghiệp hóa

CNH

2

Hiện đại hóa

HĐH

3

Đất đai là thành phần thiết yếu của môi trường sống, tư liệu sản xuất đặc
biệt, là nơi xây dựng các công trình và diễn ra các hoạt động văn hóa, kinh tế, chính
trị, xã hội,... đồng thời đất đai còn có chức năng quan trọng là tạo nguồn vốn và thu
hút đầu tư phát triển. Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để đất
đai thực sự trở thành nguồn lực hiệu quả, đẩy mạnh phát triển kinh tế; Việc thu hồi
đất, chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu đô
thị tập trung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, xây dựng cơ cấu đất đai hợp lý là
điều hết sức cần thiết. Quá trình thu hồi đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất có tầm nhìn dài hạn, đúng đắn thì mới hiện thực hóa được những chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong việc đổi mới kinh tế, xây dựng
đất nước; Các chính sách, pháp luật về đất đai và môi trường vẫn còn những bất cập
chưa được giải quyết kịp thời, đặc biệt là các quy định liên quan đến thu hồi, đền
bù, giải phóng mặt bằng. Áp lực của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã thúc
đẩy mạnh mẽ công tác thu hồi đất đai phục vụ các mục đích phát triển kinh tế - xã
hội. Tuy nhiên trên thực tế, việc chuyển mục đích sử dụng đất tùy tiện, phục vụ các
dự án kém tính khả thi xảy ra ở rất nhiều địa phương, gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Người bị thu hồi đất không những bị
mất kế sinh nhai, môi trường sống thay đổi, gia tăng tệ nạn xã hội mà còn gây lãng
phí đất đai bởi hàng ngàn quy hoạch “treo” trên cả nước. Ngoài ra, việc thu hồi đất
còn làm mất nơi cư trú của sinh vật, làm suy giảm đa dạng sinh học, triệt tiêu nhiều
hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái nông nghiệp …Ảnh hưởng của việc thu hồi đất
để xây dựng khu công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu chung cư, khu đô thị
tập trung trên địa bàn Hà Nội nói chung và sự tác động đến môi trường tự nhiên, đời
sống, việc làm của người dân đang là vấn đề đặc biệt được quan tâm.
Quận Tây Hồ là một quận nằm ở phía Tây Bắc Hà Nội được xác định là quận
trung tâm dịch vụ - du lịch, trung tâm văn hoá, là vùng bảo vệ cảnh quan thiên


nhiên của thủ đô Hà Nội, 14 năm kể từ khi được thành lập đã trở thành một trong

chính sách về thu hồi đất và giải phòng mặt bằng trên địa bàn quận Tây Hồ.
- Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội tại quận Tây Hồ
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần bảo vệ môi trường và nâng tính
bền vững trong quá trình phát triển đô thị của quận Tây Hồ.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu


Chƣơng 1 - TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát hệ thống pháp luật đất đai của Việt Nam về thu hồi đất, bồi
thƣờng, hỗ trợ, TĐC

1.1.1 Những văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thắng lợi, đến năm 1953 Nhà nước ta thực
hiện cải cách ruộng đất nhằm phân phối lại ruộng đất với khẩu hiệu “người cày có
ruộng” và Luật cải cách ruộng đất được ban hành. Thời kỳ này Nhà nước thừa nhận
sự tồn tại của 3 hình thức sở hữu đất đai: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu
tư nhân. Bên cạnh đó Luật cải cách ruộng đất có các quy định về tịch thu, trưng thu,
trưng mua ruộng đất tuỳ theo từng trường hợp cụ thể.
Đến năm 1959 bản Hiến pháp thứ 2 được ban hành và nhiều văn bản khác quy
định vẫn có 3 hình thức sở hữu về đất đai do vậy, khi thu hồi, lấy đất của tập thể và tư
nhân Nhà nước phải thực hiện trưng dụng đất. Điều 20 của Hiến pháp nói rõ: “Khi nào
cần thiết vì lợi ích chung Nhà nước mới trưng mua hoặc trưng dụng, trưng thu có bồi
thường thích đáng các tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn, trong phạm vi và điều
kiện do pháp luật quy định”[6].
Về việc trưng dụng đất, ngày 14/04/1959 Thủ tướng Chính phủ ban hành

Năm 1992, bản Hiến pháp 1992 được ban hành thay thế cho các bản Hiến
pháp trước đây. Điều 17 Hiến pháp quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn
nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời…
đều thuộc sở hữu toàn dân”. Điều 23: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không
bị quốc hữu hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng, lợi
ích quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng dụng, có BT tài sản của cá nhân hay
tổ chức theo giá trị thị trường”.
Năm 1993, Luật Đất đai 1993 được ban hành, thay thế cho Luật Đất đai
1988, dựa trên tinh thần mới của bản Hiến pháp 1992 đã có những đổi mới quan
trọng, đặc biệt đối với việc thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi


Nhà nước thu hồi đất. Luật Đất đai năm 1993 đã thể chế hóa các quy định của Hiến
pháp năm 1992. Tại Điều 12: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế
chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, tính
giá trị tài sản khi giao, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất. Chính phủ quy
định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian”. Điều 27:
“Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử
dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/06/2001 quy
định cụ thể hơn về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
đai đang sử dụng của người sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy
định của Chính phủ. Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có
đất bị thu hồi.
Cùng với mục đích là tiếp tục hoàn thiện Luật Đất đai, tạo nên khung pháp lý
chặt chẽ thuận tiện cho việc quản lý và sử dụng đất ở Việt Nam. Ngày 26/11/2003
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ tư đã thông qua Luật Đất
đai 2003 và ngày 10/12/2003 lệnh của Chủ tịch nước đã công bố Luật Đất đai quy

báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có
quy định khác với quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại Điều
ước quốc tế đó.
Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này: Cộng đồng
dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng
bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ; Khi Nhà nước thu
hồi đất không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều này.


ề đối tượng áp dụng
Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng
đất bị Nhà nước thu hồi đất (người bị thu hồi).
Người bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, được bồi
thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư theo quy định tại Nghị định này.
Về ngu n tắc bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ
Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện quy định tại Điều 8 của Nghị
định này thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (UBND cấp tỉnh) xem xét để hỗ trợ.
Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được BT bằng việc
giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất thì được BT bằng giá trị
quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường
bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh
lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.
Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà
chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của
pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền
được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước.
Bồi thƣờng về đất


nhà, công trình bị
thiệt hại

Một khoản tiền tính bằng tỷ lệ
+

phần trăm theo giá trị hiện có
của nhà, công trình

Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, mức bồi thường bằng giá trị xây
dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban
hành; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường.
+ Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, mà phần còn
lại không còn sử dụng được thì được bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường
hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử
dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi
phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của


nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.
Bồi thƣờng về di chuyển mồ mả
Đối với việc di chuyển mồ mả, mức tiền bồi thường được tính cho chi phí
về đất đai, đào, bốc, di chuyển, xây dựng lại và các chi phí hợp lý khác có liên quan
trực tiếp. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể về mồ mả cho
phù hợp với tập quán và thực tế tại địa phương.
- Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi
Những cây trồng, vật nuôi có trên đất bị thu hồi được nhận bồi thường.
Về hỗ trợ
Hỗ trợ về di chuyển: Hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ

thu hồi đất. Việc phân loại cụ thể này để xác định mức bồi thường, hỗ trợ hợp lý, sát
thực với từng loại đất và giải quyết trường hợp chênh lệch giữa giá đất mới được
giao và giá đất bị thu hồi.
- Về bồi thường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình
công cộng có hành lang bảo vệ an toàn, có quy định thêm khoản: “Khi hành lang
bảo vệ an toàn công trình xây dựng làm ảnh hưởng đến công trình khác mà những
công trình này không thể sử dụng được theo thiết kế, quy hoạch xây dựng ban đầu
hoặc phải phá dỡ thì được bồi thường”.
- Về bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi: Thông tư xác định, hướng dẫn
cụ thể việc phân chia từng loại cây trồng lâu năm (cây trồng đang ở chu kỳ đầu tư
hoặc đang ở thời gian xây dựng cơ bản; cây lâu năm thu hoạch một lần; cây lâu năm
thu hoạch nhiều lần; cây lâu năm đã đến thời hạn thanh lý) và xác định giá trị hiện
có của vườn cây lâu năm để tính bồi thường. Quy định thêm về bồi thường đối với
cây trồng và lâm sản phụ trồng trên diện tích đất lâm nghiệp do Nhà nước giao mà
khi giao là đất trống, đồi núi trọc.
- Về tổ chức thực hiện: Hướng dẫn về trình tự tổ chức thực hiện; phương án


bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được chia làm 2 phần: phần 1 là xác định bồi
thường, hỗ trợ cho từng người có đất bị thu hồi và phần 2 là phương án bố trí tái
định cư; quy định về chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Về chi phí cho công tác tổ chức thực hiện: Dự toán chi phí và mức chi cho
công tác tổ chức thực hiện.
*Thông tƣ số 69/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 02/08/2006 về sửa
đổi, bổ sung cho Thông tư số 116/2004/TT-BTC, cụ thể là sửa đổi, bổ sung một số
điều khoản: điểm 3 mục 3 phần I về chi trả bồi thường, hỗ trợ và TĐC; điểm 3.1
mục 3 phần II về giá đất để tính bồi thường, chi phí đầu tư vào đất còn lại; mục 2
phần IV về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm; mục 3 và mục 4 phân
VII về mức chi cho công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC: “Không
quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án”.

định” khi cần thiết.
c. Nghị định số 69/2009/NĐ-CP:
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy
hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC.
Về phạm vi điều chỉnh:
Nghị định này quy định bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi
đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; giá đất; giao đất, cho thuê
đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất và gia hạn sử dụng đất.
Về đối tƣợng áp dụng:
Cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai và cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến việc quản lý đất đai.
Người sử dụng đất và tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc sử dụng đất.


Bồi thường đất nông nghiệp:
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi
thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì
được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng.
Quy định cụ thể mức bồi thường với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông
nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức
Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp:
Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được
bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu TĐC hoặc bồi thường bằng tiền.
Diện tích đất bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở tại địa phương
và không vượt quá diện tích của đất bị thu hồi.
Hỗ trợ:
Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:
- Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ TĐC đối với trường hợp thu hồi đất ở
- Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo

hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử
dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi
phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của
nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.
- Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đang sử dụng thì mức bồi
thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật cùng
cấp theo tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành; nếu công trình
không còn sử dụng thì không được bồi thường. Trong trường hợp công trình hạ tầng
thuộc dự án phải di chuyển mà chưa được xếp loại vào cấp tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc
sẽ nâng cấp tiêu chuẩn kỹ thuật thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất với cơ


quan có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư dự án để xác định cấp tiêu
chuẩn kỹ thuật để bồi thường.
+ Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp quy định tại các
khoản 4, 6, 7 và 10 Điều 38 của Luật Đất đai thì không được bồi thường.
+ Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp quy định tại các
khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38 của Luật Đất đai thì việc xử lý tài sản theo quy
định tại Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của
Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
* Thông tư 14 /2009/TT-BTNMT:
Thông tư 14 /2009/TT-BTNMT Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC
và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
Đối tượng áp dụng Thông tư này là tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn
giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ
chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển
kinh tế; tổ chức, cá nhân thực hiện dự án đầu tư và các tổ chức, cá nhân khác có
liên quan.
Theo Thông tư này, giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích

thành ban hành những văn bản quy định về việc thu hồi đất và công tác bồi thường,
hỗ trợ, TĐC phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Đối với địa bàn Thành phố
Hà Nội, UBND Thành phố đã ban hành nhiều văn bản phù hợp với từng thời kỳ
phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô về việc thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ khi
thu hồi đất. Hiện tại, văn bản đang được áp dụng trên địa bàn Thành phố là Quyết
định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2009 của UBND Thành phố Hà
Nội, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên
địa bàn Thành phố Hà Nội.


1.2.Tổng quan về quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội

1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Tây Hồ là quận thuộc khu vực trung tâm thành phố Hà Nội, có diện tích tự
nhiên là 2.400,81 ha, với 08 đơn vị hành chính cấp phường.
- Phía Bắc của quận giáp với 03 xã của huyện Đông Anh là xã Hải Bối, xã
Vĩnh Ngọc và xã Tầm Xá;
- Phía Nam quận là trung tâm chính trị Ba Đình với các phường giáp ranh là
Cống Vị, Ngọc Hà, Vĩnh Phúc, Quán Thánh, Trúc Bạch và Phúc Xá;
- Phía Đông và phía Đông Bắc giáp ranh với phường Ngọc Thụy của quận
Long Biên;
- Phía Tây giáp các xã Đông Ngạc, Xuân Đỉnh của huyện Từ Liêm và
phường Nghĩa Đô của quận Cầu Giấy.


Hình 1: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất Quận Tây Hồ năm 2010




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status