Thực hiện mối quan hệ đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ở tỉnh nam định hiện nay - Pdf 40

VIN HN LM
KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

HONG èNH TRUNG

thực hiện mối quan hệ đảng lãnh đạo,
nhà n-ớc quản lý, nhân dân làm chủ
ở tỉnh nam định hiện nay

LUN N TIN S TRIT HC

H NI 2016


VIN HN LM
KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI

thực hiện mối quan hệ đảng lãnh đạo,
nhà n-ớc quản lý, nhân dân làm chủ
ở tỉnh nam định hiện nay

Chuyờn ngnh:

CNDVBC & CNDVLS

Mó s:

62.22.03.02



HĐND:

Hội đồng nhân dân

HTCT:

Hệ thống chính trị

MTTQ:

Mặt trận Tổ quốc

UBND:

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1
6



62

lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở Việt Nam hiện nay
Tiểu kết chương 2
Chương 3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN MỐI QUAN HỆ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO,

66
69

NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ” Ở NAM ĐỊNH HIỆN
NAY

3.1. Khái quát đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nam Định

69

3.2. Những thành tựu cơ bản trong thực hiện mối quan hệ “Đảng lãnh đạo,

72

Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở Nam Định hiện nay
3.3. Một số hạn chế chủ yếu trong thực hiện mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà

94

nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở Nam Định hiện nay
3.4. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong thực hiện mối quan hệ

113


153

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

157

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

159


MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” được khẳng định
là cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị, thể hiện tính ưu việt của nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn
quan tâm tới việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để hoàn thiện nhận
thức và tổ chức thực hiện mối quan hệ này, coi đây là nhân tố quyết định đến
nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà
nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên, quá trình thực hiện
cũng cho thấy, từ nhận thức lý luận đến triển khai thực hiện còn nhiều hạn
chế, bất cập. Điều đó, trở thành nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém về
năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, đặc biệt là tình trạng mất
dân chủ, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn.
Trong 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, việc giải quyết mối quan hệ
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ được thực hiện đạt kết
quả, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và phát huy
dân chủ trong đời sống xã hội. Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước và xã hội đã có nhiều đổi mới, vừa đảm bảo tăng cường vai trò

phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, còn những tồn tại, hạn chế:
Tiềm năng kinh tế chưa khai thác và sử dụng có hiệu quả; tình trạng tham
nhũng, lãng phí trong quản lý nhà nước, sai phạm của cán bộ, công chức ở các
cấp chậm được khắc phục; quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm ở nhiều
nơi, dẫn tới xuất hiện nhiều điểm nóng chính trị kéo dài trong nhiều năm;
niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng và chính
quyền các cấp đang đứng trước những thách thức. Những tồn tại trên xuất
phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có việc thực hiện chưa nghiêm túc, hiệu
quả mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.

2


Xuất phát từ những nhận thức trên, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề
Thực hiện mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm
chủ” ở tỉnh Nam Định hiện nay” làm đề tài cho luận án tiến sĩ chuyên ngành
Triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về mối quan hệ “Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở Việt Nam; thực trạng thực hiện
mối quan hệ này ở Nam Định từ 1997 đến nay; luận án đề xuất một số quan
điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện mối quan hệ “Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở tỉnh Nam Định hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Hai là, phân tích, làm rõ các khái niệm, nội dung mối quan hệ “Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ” ở Việt Nam.
Ba là, đánh giá khách quan thực trạng thực hiện mối quan hệ “Đảng

4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử, luận án sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh và một số phương pháp liên ngành.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ hơn một số nội dung của mối quan hệ “Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; xác định vị trí, vai trò, chức
năng của mỗi chủ thể trong mối quan hệ.

4


- Luận án phân tích, đánh giá chỉ ra những thành tựu, hạn chế; nguyên
nhân của những thành tựu, hạn chế trong thực hiện mối quan hệ “Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở tỉnh Nam Định từ 1997 đến nay.
- Luận án đề xuất một số quan điểm và nhóm giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
Nhân dân làm chủ” ở tỉnh Nam Định trong những năm tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề
lý luận về bản chất, nội dung của mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân
dân trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc đổi mới, nâng cao năng lực
lãnh đạo của cấp ủy; hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền; phát huy vai
trò làm chủ của nhân dân trên địa bàn tỉnh Nam Định hiện nay.
Kết quả luận án làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và
giảng dạy những chuyên đề liên quan đến mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ tại trường chính trị Trường Chinh.
7. Kết cấu của luận án

Hòa đã phân tích quan điểm của Lênin về mối quan hệ giữa thực hiện dân chủ
với xây dựng chủ nghĩa xã hội, bản chất của mối quan hệ giữa nhân dân với
Đảng và Nhà nước trong thực tiễn xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện
nay. Bài viết “V.I.Lênin với vấn đề xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch,
vững mạnh” [109] tác giả Nguyễn Đức Thắng đã phân tích quan điểm của

6


V.I.Lênin và chủ tịch Hồ Chí Minh: “Khi trở thành đảng cầm quyền, nếu
Đảng thiếu sự gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng sẽ trở thành một tổ chức
quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, mất sức sống và sáng tạo, mất vai trò lãnh
đạo đối với toàn xã hội. Đảng giữ vai trò là người lãnh đạo, nhưng quần
chúng nhân dân mới là người làm nên lịch sử” [109, tr.58]. Luận án tiến sĩ
“Mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh”
[47], tác giả làm rõ cơ sở lý luận hình thành và phân tích những quan điểm
chủ yếu trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng
và Nhân dân, về vai trò của nhân dân đối với sự ra đời và quá trình lãnh đạo
của Đảng; tính tất yếu, sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng đối với sự
nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân… Những phân tích khoa học
được trình bày trong luận án mặc dù không trực bàn về mối quan hệ giữa
Đảng lãnh đạo với nhân dân làm chủ nhưng là nguồn tài liệu tham khảo quan
trọng cho tác giả khi nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích bản chất của mối
quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ”.
GS.TS. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) trong cuốn “Về các mối quan hệ
lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta” [133] đã đề cập và phân tích những mối quan hệ lớn cần nhận thức
và giải quyết ở Việt Nam hiện nay, trong đó có mối quan hệ giữa “Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” [133, tr. 248-277]. Bàn về mối
quan hệ này, các tác giả đã bước đầu làm rõ các khái niệm “lãnh đạo”,“quản

tác giả đã phân tích lý luận chung về dân chủ và thực hành dân chủ, mối quan hệ
giữa thực hành dân chủ với xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những quan
điểm về dân chủ, điều kiện để thực hành dân chủ là cơ sở lý luận quan trọng cho
luận án khi phân tích bản chất và nội dung vai trò làm chủ của nhân dân trong
quan hệ với Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý ở Việt Nam hiện nay.

8


Hai tác giả Đặng Đình Tân và Đặng Minh Tuấn trong cuốn “Thể chế
Đảng cầm quyền một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [97] đã phân tích những
vấn đề lý luận chung về đảng cầm quyền trên thế giới và ở Việt Nam. Về mối
quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, các tác giả cho rằng:
“Đảng và Nhà nước có chức năng chính trị, xã hội khác nhau có địa vị chính
trị, pháp lý khác nhau, có phương thức tổ chức và hoạt động khác nhau. Việc
không làm rõ hai mặt trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước sẽ gây nhiều
hậu quả nghiêm trọng” [97, tr.37]. Chúng tôi nhất trí với quan điểm trên của
tác giả về sự cần thiết phải phân định về vai trò của các chủ thể chính trị trong
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Cũng phân tích sự khác nhau giữa vai trò của Đảng và Nhà nước trong
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, GS.TS Lê Hữu Nghĩa trong bài “Sự
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền” [49] đã cho rằng: “Đảng là
hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống chính trị, nên Đảng cũng có quyền lực chính
trị, nhưng Đảng không có quyền lực nhà nước. Đảng không phải là cơ quan
nhà nước. Do đó, nhất thiết không được lẫn lộn giữa Đảng và Nhà nước, giữa
quyền lực của Đảng và quyền lực Nhà nước…Đảng là lực lượng lãnh đạo xã
hội, Nhà nước là bộ máy thống trị, quản lý xã hội” [49, tr.181]. Tác giả đã
phân tích vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị và sự cần thiết phải phân
biệt nội dung, công việc khác nhau giữa Đảng với Nhà nước.

Về sự khác nhau giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà
nước, trong bài viết “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [54], PGS.TS Nguyễn
Thế Kiệt đã cho rằng: “lãnh đạo, quản lý là quá trình chủ thể tác động vào
khách thể, nhận thức khách thể. Xét về bản chất, lãnh đạo và quản lý đều là
quá trình điều khiển” [54, tr.6]. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra sự khác nhau
giữa lãnh đạo và quản lý: “lãnh đạo là quá trình định hướng cho mọi khách
thể, còn quản lý là quá trình tổ chức, sắp xếp, bố trí để thực hiện sự định

10


hướng” [54, tr.6]. Phân tích khái niệm “lãnh đạo” và “quản lý” của tác giả là
cơ sở cho việc nghiên cứu làm rõ vị trí, vai trò của Đảng lãnh đạo và Nhà
nước quản lý ở nước ta hiện nay.
Trong bài “Tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây
dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” [71], GS.TS Lê Hữu Nghĩa đã phân tích
cơ sở lý luận và thực tiễn xác định nguyên tắc phải dựa vào nhân dân để xây
dựng Đảng, tác giả đi tới quan điểm: Xây dựng Đảng không chỉ là công việc
của Đảng mà là công việc của nhân dân, trách nhiệm của nhân dân. Nhân dân
là đối tượng lãnh đạo của Đảng, đồng thời là chỗ dựa của Đảng, là nguồn sức
mạnh của Đảng. Luận điểm trên đã góp phần làm rõ mối quan hệ giữa Đảng
với nhân dân trong quá trình lãnh đạo của Đảng.
Về mối quan hệ giữa Đảng – Nhà nước và Nhân dân, trong bài: “Củng cố
mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân” [142] TS. Đỗ Quang Tuấn cho rằng:
“Mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân là một truyền thống quý báu và
nguồn sức mạnh vô địch của Đảng. Đảng ta ra đời và lớn lên trong phong trào
cách mạng của nhân dân. Đảng tồn tại do nhân dân và vì nhân dân….. Đảng lãnh
đạo nhân dân nhưng Đảng cần nhân dân để có sức mạnh” [142, tr.45] .Trong
điều kiện trở thành Đảng cầm quyền, tức là Đảng lãnh đạo Nhà nước thì quan hệ

Đảng phải xác định liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào sức mạnh của
quần chúng nhân dân. Những luận điểm khoa học của Đề tài là tài liệu tham
khảo có giá trị đối với luận án.
Bài viết “Một số vấn đề rút ra từ đổi mới nhận thức về vai trò của Dân
trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” [88],
GS.TS Phạm Ngọc Quang cho rằng: Xuất phát từ nhận thức mới về vai trò
của Dân đối với Đảng, đã đến lúc phải khẳng định rằng, tự nó, Đảng không có
quyền, mọi quyền lực mà Đảng có được là do Nhân dân uỷ quyền cho. Đảng
và Nhà nước là thiết chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Nhân dân
làm chủ bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước là cơ chế có hiệu quả nhất. Mặc

12


dù, bài viết không trực tiếp bàn tới bản chất mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, Nhân dân làm chủ” song từ phân tích trên đã gợi ý cho luận án
nghiên cứu làm rõ lý luận về vị trí, vai trò của nhân dân trong nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Về mối quan hệ giữa Đảng – Nhà nước và Nhân dân trong hệ thống
chính trị Việt Nam hiện nay, trong bài “Bàn về lãnh đạo và quản lý trong
công cuộc cải cách hành chính” [92] tác giả Đỗ Quốc Sam cho rằng cần thiết
phải làm rõ: “mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, vị trí tương đối
của chủ thể này đối với hai chủ thể kia và trong quan hệ chung”. Tác giả nhấn
mạnh: “Đứng trên góc độ quyền lực mà nói, thì nhân dân là chủ thể có vị trí
quan trọng nhất, có toàn bộ quyền lực”; đồng thời “Trong quan hệ giữa ba chủ
thể, Đảng, Nhà nước và nhân dân, cũng như giữa ba chức năng, lãnh đạo,
quản lý và làm chủ, vai trò làm chủ của nhân dân giữ vị trí tiền đề” [92, tr.5152]. Chúng tôi nhất trí với quan điểm của tác giả khẳng định quyền làm chủ
của nhân dân là trung tâm, nguồn gốc phát sinh quyền lực Nhà nước, quyền
lãnh đạo của Đảng.
Trong bài “Cơ sở của mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với

1.1.2. Những công trình đề cập đến thực trạng thực hiện mối quan hệ
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở Việt Nam nói
chung và Nam Định nói riêng
Về thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, Nhân dân làm chủ, trong thời gian qua, vấn đề nãy cũng đã được
nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Một số công trình tiêu biểu gần đây như:
Về những thành tựu thực hiện mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, Nhân dân làm chủ trong thời kỳ đổi mới, trong công trình “Về các
mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta” [133], các tác giả đã chỉ ra hai thành tựu chủ yếu: một
là, Đảng giữ vững được vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước; thông qua Nhà

14


nước, nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình tham gia quản
lý Nhà nước, quản lý xã hội ngày càng tốt hơn; hai là, giải quyết ngày càng
tốt hơn quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
trong hệ thống chính trị” [133, tr. 265-266]. PGS.TS Nguyễn Viết Thông
trong bài “Giải quyết tốt hơn mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
Nhân dân làm chủ” [113] cũng cho rằng: “Đảng giữ vững được vai trò lãnh
đạo đối với Nhà nước, thông qua Nhà nước, nhân dân thực hiện và phát huy
quyền làm chủ của mình tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội ngày càng
tốt hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã phát huy tốt hơn vai trò
quản lý của mình, có chính sách đúng, động viên và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới” [113]. Tác giả Nguyễn Bá Dương
trong bài “Thể chế hóa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân
dân làm chủ” [13], cũng đưa ra những nhận xét: “Đảng ta là đảng cầm quyền,
là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị. Khâu then chốt có ý nghĩa quyết
định làm cho cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ vận

thành những quy định để có thể vận hành suôn sẻ trong thực tiễn” [87, tr.9].
Chúng tôi nhất trí với nhận định của tác giả về thực tế triển khai mối quan hệ
giữa Đảng và Nhà nước ở nước ta.
Cũng về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, tác giả Nguyễn Trọng
Thóc trong bài “Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”
[132] nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối
sự nghiệp cách mạng của đất nước ta. Nhưng khi xảy ra bao nhiêu vấn đề rất
lớn…. thì tổ chức đảng ở những nơi đó có chịu trách nhiệm đâu? Đó là một
thực trạng rất nan giải chưa giải quyết được trong mối quan hệ giữa Đảng và
Nhà nước” [132, tr.7]. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản ảnh

16


hưởng đến hiệu quả thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở
Việt Nam hiện nay.
Trong bài “Một số suy nghĩ về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
trong giai đoạn hiện nay” [49], TS. Lưu Văn Quảng đã chỉ ra: “Trên thực tế,
quan hệ giữa chức năng lãnh đạo của Đảng với quản lý của Nhà nước…..vẫn
chưa thực sự rõ ràng trong lý luận cũng như thực tiễn hoạt động…các tổ chức
đảng thực hiện quyền lãnh đạo của mình,....nhưng dường như lại thiếu một cơ
chế chịu trách nhiệm về các hậu quả lãnh đạo”. [49, tr 383, 384]. Phân tích
trên của các tác giả phản ánh thực trạng trong quan hệ giữa Đảng lãnh đạo với
Nhà nước quản lý đang diễn ra ở nước ta, đó là vấn đề trách nhiệm và chịu
trách nhiệm của Đảng.
Trong bài “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, một số vấn đề lý
luận và thực tiễn cấp bách” [34], tác giả Nguyễn Ngọc Hà chỉ ra sự chồng
chéo, nhất là trên phương diện thực tiễn giữa thực hiện vai trò của Đảng và
Nhà nước: “Trên lý thuyết thì có sự khác nhau giữa lãnh đạo và quản lý; Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Về thực hiện mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
Nhân dân làm chủ trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian vừa qua, đã có
một số bài viết, báo cáo phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân của
vấn đề này như sau.
Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở năm 2015 của Ban
chỉ đạo Tỉnh Nam Định đã chỉ ra: “UBND các huyện thực hiện có hiệu quả
chương trình phối hợp với MTTQ các cấp trong việc tiếp thu ý kiến góp ý của
nhân dân tham gia xây dựng chính quyền; phối hợp tổ chức tốt các cuộc tiếp
xúc cử tri…; tăng cường công tác tiếp dân” [4, tr.4]. Điều đó cho thấy, việc
phát huy dân chủ, bảo đảm điều kiện để nhân dân thực hiện các quyền làm
chủ trực tiếp tại các địa phương ở Nam Định được chính quyền các cấp tổ

18


chức có kết quả khá tốt. Báo cáo cũng cho rằng, tính đến hết năm 2014 toàn
tỉnh có: “2.634 thôn, xóm, tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước, trong đó
có 2.424 hương ước, quy ước được UBND các huyện, thành phố phê duyệt”
[4, tr.7]. Kết quả trên đã phản ánh ý thức làm chủ, tinh thần tự quản của nhân
dân tại các địa phương từng bước được nâng cao.
Về những hạn chế trong thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng với chính
quyền, trong Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật
trong Đảng nhiệm kỳ 2010-2015 của Ủy ban kiểm tra đảng bộ tỉnh Nam Định
đánh giá: “Quá trình kiểm tra chưa thực sự coi trọng công tác thẩm tra, xác
minh. Có cuộc kiểm tra chỉ dừng ở nghe, thảo luận báo cáo tự kiểm điểm tại
hội nghị”. Theo chúng tôi, đây là thực trạng đang diễn ra một cách phổ biến
trong quá tŕnh lănh đạo của cấp ủy, làm giảm hoặc buông lỏng sự lãnh đạo
của cấp ủy đối với hoạt động quản lý của chính quyền và cơ quan nhà nước ở
Nam Định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status