A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đổi mới chƣơng trình sách giáo khoa lần này đặt trọng tâm vào việc đổi mới
phƣơng pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của
học sinh với sự tổ chức và hƣớng dẫn đúng mực của giáo viên nhằm phát triển tƣ
duy độc lập, sáng tạo, góp phần hình thành phƣơng pháp và nhu cầu tự học, bồi
dƣỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập cho học sinh.
Cốt lõi của việc đổi mới phƣơng pháp môn Toán ở trƣờng THPT là làm cho
học sinh học tập tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Phải làm
sao trong mỗi tiết học học sinh đƣợc suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, hoạt
động nhiều hơn. “Thay cho lối truyền thụ một chiều, thuyết trình giảng dạy, người
giáo viên cần phải tổ chức cho học sinh được học tập trong hoạt động và bằng
hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo’’. Đây chính là tiêu chí, là thƣớc đo
đánh giá sự đổi mới phƣơng pháp dạy học.
Thực hiện sự chỉ đạo của nhà trƣờng về việc Tổ chức sinh hoạt tổ nhóm
chuyên môn góp phần đổi mới phƣơng pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, để
công tác sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn thực sự đạt chất lƣợng và hiệu quả góp
phần nâng cao kết quả học tập của học sinh, bồi dƣỡng nâng cao năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ cho giáo viên.
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học không đặt nặng việc quan tâm
giờ dạy của giáo viên nhƣ trƣớc đây mà khuyến khích ngƣời dự giờ hƣớng đến đối
tƣợng học sinh để từ đó giúp đỡ các em có một bài học hoàn chỉnh, chất lƣợng, gây
đƣợc hứng thú và niềm say mê học tập,… Trong tiết học, giáo viên tập trung phân
tích các vấn đề liên quan đến ngƣời học, phải xem thử học sinh học nhƣ thế nào,
lớp dạy đang gặp khó khăn gì? Nội dung và phƣơng pháp giảng dạy có phù hợp và
gây hứng thú cho học sinh không? Kết quả cuối cùng có đƣợc cải thiện hay không?
Nếu cần điều chỉnh thì điều chỉnh gì và điều chỉnh nhƣ thế nào cho phù hợp nhất?...
Hiểu đƣợc sự cần thiết phải đổi mới phƣơng pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt
chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, năm học 1014-1015 Ban giám hiệu
trƣờng THPT Triệu Sơn 2 cùng tổ chuyên môn đã chỉ đạo tôi xây dựng một tiết dạy
mẫu theo hƣớng nghiên cứu bài học. Tôi cùng với tổ chuyên môn đã tìm hiểu kỹ,
bám sát nội dung chuyên đề “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu
- Giờ dạy minh hoạ thƣờng nặng chất phô diễn, sa vào kiến thức vì giáo viên
sợ bị đánh giá thiếu năng lực.
Từ những hạn chế trên dẫn đến hệ quả tất yếu là:
- Giờ dạy mang tính nhồi nhét, học sinh “khó tiêu”
- Ít quan tâm đến học sinh yếu, sợ các em làm ảnh hƣởng đến tiết dạy, cháy
giáo án
- Trong qua trình đánh giá, ngƣời dự giờ do chỉ chăm chăm vào giáo viên
nên mọi ý kiến mổ xẻ đều hƣớng về ngƣời dạy mà bỏ quên ngƣời học. Chính vì thế
kết quả học tập của học sinh ít đƣợc cải thiện, nhất là các đối tƣợng yếu kém vì
luôn bị “bỏ rơi”. Học sinh giỏi xa cách học sinh yếu kém, còn học sinh yếu kém lại
tự ti sợ học, chán chƣờng và dẫn đến bỏ học…
2. Sinh hoạt chuyên môn theo hƣớng nghiên cứu bài học
-Là một trong các nội dung đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn.
-Tiết dạy là công trình của cả tập thể
- Các bƣớc đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học:
+ Chuẩn bị bài dạy: Cả tổ nghiên cứu góp ý xây dựng bài dạy
+ Tiến hành dạy minh họa và dự giờ.
+ Suy ngẫm và thảo luận bài học.
+ Rút kinh nghiệm và vận dụng vào các bài giảng sau.
2
2.1. Phá bỏ khuôn thƣớc trong dự giờ
- Giáo viên chọn cho mình chỗ ngồi dự giờ phù hợp, tốt nhất là ngồi hai bên,
có thể di chuyển linh hoạt để tiện quan sát các hoạt động của học sinh
- Ngƣời dự có thể mang theo máy ghi hình, quay phim chụp ảnh học sinh
- Đặc biệt chú ý đến khả năng lĩnh hội, quan sát hành vi học tập của học sinh
trong giờ học
2.2. Lấy hành vi học tập của học sinh làm trung tâm thảo luận
- Chú ý trả lời hệ thống câu hỏi:
học và học chưa đạt kết quả như ý muốn… Trên cơ sở đó cùng đưa ra biện pháp
3
hữu hiệu có thể chỉnh sửa cách dạy, xén gọt bớt nội dung sao cho phù hợp với từng
con người riêng lẻ, rút ra kinh nghiệm cho quá trình giảng dạy).
- Sau tiết dạy không đánh giá xếp loại khá, giỏi hay trung bình theo các tiêu
chí đã đƣợc định sẵn nhƣ trƣớc đây mà chỉ đánh giá khả năng lĩnh hội tri thức của
học sinh trong lớp mà thôi.Tuy nhiên thước đo thành bại tiết dạy là ở thái độ,
hành vi, phản úng của học sinh trong giờ dạy và đây là nguyên tắc đầu tiên khi
tiến hành nghiên cứu bài học.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Đối với giáo viên
- Phần lớn giáo viên hiện nay còn nói nhiều, viết nhiều, trình bày bảng theo
thứ tự từ mục 1 đến mục cuối cùng của bài, ghi lại y nguyên sách giáo khoa các
định nghĩa, định lí, chứng minh...lên bảng.
- Nội dung sách giáo khoa có gì là giáo viên cố gắng dạy bằng hết, vì thế để có
đủ thời gian thì giáo viên phải thuyết trình nhiều mà ít tổ chức các tình huống tạo
điều kiện cho học sinh hoạt động dẫn đến truyền thụ kiến thức một chiều.
- Hình thức dạy học chƣa đa dạng, phong phú, cách thức truyền đạt chƣa sinh
động, chƣa gây hứng thú cho học sinh, học sinh chủ yếu tiếp nhận kiến thức còn bị
động. Việc sử dụng phƣơng tiện, đồ dùng dạy học còn hạn chế. Nhiều giáo viên
chƣa tích cực sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.
- Những kỹ năng cần thiết của việc tự học chƣa đƣợc giáo viên chú ý đúng
mức.
- Việc chuẩn bị bài của giáo viên chƣa thật kĩ càng, chƣa phân hoá đƣợc trình
độ của học sinh.
2. Đối với học sinh
- Học sinh học tập một cách thụ động theo giáo viên, giáo viên đọc gì, viết gì
Sau tiết dạy là phần thảo luận rút kinh nghiệm hết sức sôi nổi và có chất
lƣợng chuyên môn cao. Các thầy cô đều khẳng định sự thành công của chuyên đề.
Rất nhiều bài học kinh nghiệm đƣợc rút ra từ tiết dạy minh hoạ. Thay vì nhận xét
đánh giá giáo viên thể hiện bài dạy nhƣ trƣớc đây, các ý kiến đều tập trung vào việc
quan sát các hoạt động, kỹ năng học sinh sử dụng phƣơng tiện, đồ dùng học tập,
tâm trạng và thái độ của học sinh khi tiếp nhận nhiệm vụ, cách thức trao đổi, thảo
luận và điều hành các hoạt động học tập của học sinh… Các thầy cô đều đánh giá
cao sự tham gia tích cực, hiệu quả vào bài học của học sinh. Có nhiều ý kiến thảo
luận, đánh giá về việc thực hiện công tác đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên
nghiên cứu bài học, mang lại nhiều kết quả khả quan.
Thứ nhất: Nhìn từ góc độ ngƣời học, học sinh rất hào hứng, chủ động, tự
nhiên đƣợc thể hiện mình, đƣợc thầy cô giáo quan tâm hƣớng dẫn học, các em có
thể chia sẻ, trao đổi với bạn và tự làm. Một giờ học nhƣ thế giáo viên đã khơi dậy
tiềm năng, khả năng tự học, kĩ năng giải toán cho học sinh.
Thứ hai: Nhìn từ góc độ ngƣời dự, giáo viên đƣợc tự do định hƣớng, hƣớng
dẫn học sinh biết biến quá trình học thành quá trình tự học, tự thực hành. Nhƣ thế,
mối quan hệ giữa thầy và trò đƣợc cải thiện theo chiều hƣớng tích cực, thân thiện,
cởi mở hơn trƣớc.
Tại buổi sinh hoạt chuyên môn, đồng chí Hiệu trƣởng nhà trƣờng cùng ban
giám hiệu đã đánh giá cao tinh thần tiên phong đổi mới trong mọi lĩnh vực của tổ,
tinh thần học hỏi, trao đổi, góp ý, rút kinh nghiệm cởi mở, chân thành, thẳng thắn
của các thành viên trong tổ đặc biệt là giờ dạy đã thực sự thành công về nhiều mặt
nhƣ:
- Chúng tôi thấy các em đƣợc làm việc thực sự, từ suy nghĩ đến hành động
và có những hoạt động các em đã làm thay cho giáo viên.
- Không khí học tập diễn ra thật sôi nổi, thoải mái, các em học sinh chủ
động, tích cực tham gia các hoạt động nhƣ các em đƣợc dành thời thời gian suy
nghĩ, đƣợc hoạt động nhóm, đƣợc trao đổi với nhau tất cả những suy nghĩ của bản
5
- Phƣơng tiện: Máy chiếu đa năng, máy chiếu đa vật thể
3. Gợi ý về phương pháp dạy học:
- Cơ bản dùng phƣơng pháp gợi mở vấn đáp, phát hiện và giải quyết vấn đề thông
qua các hoạt động điều khiển tƣ duy, đan xen hoạt động nhóm.
III. TIẾN TRÌNH BÀI HỌC
1. Kiểm tra bài cũ
- Với tình huống 1: Giáo viên tổ chức cho học sinh học nhóm (chia thành 4 nhóm)
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm, giáo viên điêù khiển bằng cách đƣa ra các câu
hỏi. Nhóm nào đƣa ra câu trả lời đúng và nhanh nhất đƣợc ghi điểm.
6
+ Hoạt động 1: Nhắc lại khái niệm và định lý về dấu của nhị thức bậc nhất. Áp
dụng xét dấu của biểu thức: f(x) = (x-1)(x-3).
Hoạt động của giáo viên
* Tổ chức cho HS ôn tập kiến thức cũ qua bài tập
(chia thành 4 nhóm)
+ Xét dấu các nhị thức bậc nhất
+ Kết luận dấu của biểu thức f(x)
+ Kiểm tra nhận xét:
Biểu thức f(x) = (x-1)(x-3) có thể viết đƣợc thành
f(x) = x2- 4x + 3 đƣợc gọi là một tam thức bậc hai
x = 1, x =3 cũng đƣợc gọi là nghiệm của tam thức
* Học sinh ghi nhận kiến thức và vào bài mới.
Hoạt động của học sinh
+ Nghe hiểu nhiệm vụ (áp
dụng định lý về dấu của nhị
thức bậc nhất)
+ Tìm phƣơng án thắng (tức
+ Hoạt động 3: Phát biểu định lý về dấu của tam thức bậc hai.
Hoạt động thành phần 1:
Hoạt động của giáo viên
- Giáo viên yêu cầu học sinh vẽ đồ thị
Hoạt động của học sinh
7
hàm số y = x2 – 5x + 4 vào
giấy A4 và trả lời các câu hỏi sau:
Quan sát đồ thị và chỉ ra các khoảng
trên đó giá trị của hàm số là âm?
Quan sát đồ thị và chỉ ra các khoảng
trên đó giá trị của hàm số là dƣơng?
- Dùng máy chiếu đa vật thể trình
chiếu một số kết quả của các nhóm học
sinh và cho học sinh nhận xét.
- Giáo viên trình chiếu hình mẫu và
cho kết quả đúng
Hoạt động thành phần 2:
Hoạt động của giáo viên
Đặt f(x) = x2 – 5x + 4. Em hãy kết
luận về dấu của f(x)?
Hoạt động của học sinh
- Học sinh thảo luận nhóm và đƣa ra kết
quả
+ GV đƣa ra bảng phụ đồ thị hàm số bậc
hai trong các trƣờng hợp.
+ Tổ chức cho học sinh xác định dấu của
a và từ đó suy ra dấu của tam thức bậc
hai dựa vào đồ thị và ghi kết luận trong
từng trƣờng hợp
+ Chia lớp thành 4 nhóm, hai nhóm đầu
mỗi nhóm nhận xét 2 đồ thị, hai nhóm
sau mỗi nhóm nhận xét một đồ thị
+ Giáo viên nhận xét, hoàn chỉnh và ghi
kết quả ở dạng tổng quát( trình chiếu
định lý về dấu của tam thức bậc hai)
+ Nghe hiểu nhiệm vụ:
Nhận xét vị trí tƣơng đối của đồ thị hàm
số bậc hai đối với trục hoành trong từng
trƣờng hợp, từ đó suy ra dấu của và
dấu của hệ số a từ đó kết luận về dấu của
tam thức bậc hai trong trƣờng hợp tổng
quát.
+ Học sinh ghi nhận kiến thức
Bảng phụ
y
x1 x2
x
x
y
x
O
x
DÊu
f(x)
+ Hoạt động 4: Áp dụng xét dấu của các tam thức bậc hai
Hoạt động thành phần 1:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
9
Phiếu học tập 2: Cho f(x) = 2x2 - 3x + 2 Học sinh thảo luận và cho kết quả.
Mong đợi câu trả lời: đáp án b
chỉ ra các khẳng định sai:
a. f(x) > 0 với mọi x > 0.
b. Tồn tại giá trị của x mà f(x) < 0
c. Phương trình f(x) = 0 vô nghiệm
Phiếu học tập 3: Tam thức f ( x) x 2 2 x
bậc hai cần chú ý tới dấu của hệ số a và
dấu của hoặc '
Hoạt động của học sinh
+ Nhóm 1: Xét dấu 2 tam thức
f(x) = 2x2- x + 1
f(x) = -x2+4x - 4
+ Nhóm 2: Xét dấu 2 tam thức
f(x) = -x2+x -2
f(x) = -5x +2+2x2
+ Nhóm 3: Xét dấu 2 tam thức
f(x) = 9x2 + 1- 6x
f(x) = -x2+5x – 6
+ Nhóm 4: Xét dấu của biểu thức
g(x) = (x2- 2x – 3) (x2- 4x +1)
Mỗi nhóm thảo luận thống nhất kết quả
ghi ra giấy A4
10
+ Hoạt động 5: Nhận xét về dấu của tam thức bậc hai (trong trƣờng hợp
tam thức luôn dƣơng hoặc luôn âm)
Hoạt động thành phần 1: Nhận xét về dấu của tam thức bậc hai trong trường hợp
và cho học sinh nhận xét
+ Nhận xét, chỉnh sửa và ghi nhận kết
quả
(Chú ý: Xét 2 trƣờng hợp a=0 và a≠0;
dấu của và ' là nhƣ nhau)
Hoạt động của học sinh
+ Nhóm 1 và 2:
Tìm tham số m để
f(x)=(m-1)x2 – (2m+1)x – 3 < 0, x
+ Nhóm 3 và 4:
Tìm tham số m để:
f(x)=(m+3)x2 – 2(m-1)x +m+1 > 0, x
+ Học sinh thảo luận ghi kết quả ra giấy
A4.
* Củng cố:
11
Xét dấu của các biểu thức sau:
a) f x 6 x 2 x 7
b) f x x 2 4 x 2 2 x 6
c) f x 1 2 x 2
d) f x 5x 8x2
Bài tập về nhà:
1) Xét dấu của các biểu thức sau:
a) f x 2 x 2 5 x 7
b) g x 2 x 2 x 7
c) h x 9 x 2 12 x 4
bản). Qua so sánh đối chiếu với những lớp dạy theo phƣơng pháp truyền thống
(10A5 – Ban KHTN và 10A2- Ban cơ bản) ở cùng một tiết dạy, chúng tôi có bảng
số liệu sau:
12
1. Lớp dạy học theo phương pháp truyền thống
Kết quả
Số
STT LỚP
Tỷ lệ
Tỷ lệ
HS Yếu
TB
Khá
%
%
10A5
1
(Ban 41
2
4.9
10
24.4
17
TN)
10A2
(Ban
2
%
Giỏi
Tỷ lệ
%
2. Lớp dạy theo hướng nghiên cứu bài học
STT LỚP
Số
HS
Yếu
Tỷ lệ
%
TB
Kết quả
Tỷ lệ
Khá
%
10A6
1
(Ban 44
0
0.0
liên trƣờng để chúng tôi đƣợc học tập thêm kinh nghiệm của bạn bè đồng nghiệp.
XÁC NHẬN
Thanh Hoá, ngày 20 tháng 5 năm 2015
CỦA THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ
CAM KẾT KHÔNG COPY
Kí tên
Hồ Văn Quảng
13
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƢỜNG THPT TRIỆU SƠN 2
-----------------------------------------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƢỚNG NGHIÊN
CỨU BÀI HỌC CHO TIẾT 57 - DẤU CỦA TAM THỨC BẬC HAI,
ĐẠI SỐ LỚP 10
Họ và tên: Hồ Văn Quảng
Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc môn: Toán
THANH HÓA, 2015
14
MỤC LỤC