SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIẢM HỌC SINH BỎ HỌC CỦA
TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NHUẬN PHÚ TÂN”
Chƣơng 1. Phần mở đầu
1.1. Bối cảnh của đề tài:
Gần đây, trên các phương tiện thông tin báo chí, truyền hình đã lên tiếng khá nhiều
về học sinh bỏ học tụ tập băng nhóm, trộm cắp, gây gổ đánh nhau, có vụ dẫn đến tử vong.
Vấn đề này đã trở thành mối lo ngại của dư luận, nhất là đối với gia đình và nhà trường.
1.2. Lý do chọn đề tài:
Trong năm học 2009 – 2010 vừa qua, số học sinh có nguy cơ bỏ học của trường
THCS Nhuận Phú Tân có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh bỏ học trong nhà
trường đáng được báo động. Để góp phần vào công tác duy trì sỉ số học sinh trong giai
đoạn hiện nay, nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường, qua thực tiễn công tác PCGD
và giảng dạy học sinh, tôi nhận thấy việc giảm học sinh bỏ học và giảm nguy cơ bỏ học
của học sinh là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài này.
1.3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu: học sinh trường THCS Nhuận Phú Tân.
Đối tượng nghiên cứu: học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học.
1.4. Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá được thực trạng bỏ học và nguy cơ bỏ học của học sinh trong trường
THCS Nhuận Phú Tân. Thông qua đó đề ra biện pháp duy trì sĩ số, giảm nguy cơ bỏ học
một cách có hiệu quả, nhằm giúp nhà trường nâng cao hiệu quả đào tạo, duy trì được
thành quả PCGD THCS một cách vững chắc.
1.5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
Việc duy trì sỉ số học sinh, người thầy phải nắm vững các đặc điểm tâm - sinh - lý
lứa tuổi của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống cụ thể của từng em để định ra sự
tác động thích hợp. Ngăn chặn học sinh bỏ học và kịp thời phát hiện những học sinh có
nguy cơ bỏ học là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có công phu, kiên trì, liên
tục và lặp đi lặp lại nhiều lần.
2.2. Thực trạng của vấn đề:
2.2.1. Tích cực: Đa số học sinh có ý thức học tập tốt, biết nghe lời cha mẹ, thầy cô,
nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của lớp, nội quy của trường, biết sống tốt và sống
đẹp.
2.2.2. Tiêu cực: Một số ít học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, thiếu sự
quan tâm của cha mẹ, thường xuyên gây mất trật tự trong lớp, nói tục, vô lễ với thầy cô,
nói dối thầy cô và bạn bè, giao lưu với đối tượng xấu bên ngoài, uống rượu, đánh nhau
dẫn đến bỏ học.
2.2.3. Nguyên nhân khách quan:
- Do sự bất ổn của gia đình, cha mẹ đi làm ăn xa các em phải ở với nội hoặc ngoại
nên thiếu sự quan tâm và quản lý các em.
- Cha mẹ giàu có, nuông chiều cho nhiều tiền, thiếu sự kiểm tra, quản lý.
- Cha mẹ học sinh chưa ý thức hết vai trò giáo dục của mình.
2.2.4. Nguyên nhân chủ quan:
Ý thức học tập của học sinh chưa cao, học yếu, bệnh do sức khoẻ yếu, ham chơi,
dẫn đến bỏ học.
2.2.5. Những biểu hiện chung nhất ở học sinh bỏ học, học sinh có nguy cơ bỏ
học và những tác hại của nó:
Những trẻ loại này có thói quen lười biếng, quay cóp trong học tập, lừa dối cha mẹ,
thầy cô, doạ nạt bạn bè, hay trốn học và không tham gia các hoạt động tập thể như: lao
bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học, nguyên nhân chủ yếu có tính quyết định là do gia
đình. Nếu gia đình nào tạo ra một bầu không khí phi đạo đức, thiếu lành mạnh như cha
mẹ ly hôn, vợ chồng mâu thuẫn nhau, gia đình có người nghiện rượu, cờ bạc,…. thường
đối xử thô bạo với các em thì tỷ lệ học sinh bỏ học, vi phạm nội quy và có nguy cơ bỏ
học là rất cao. Một số gia đình, cha mẹ chỉ biết nuông chiều, thoả mãn những tính hiếu
kỳ, những ước muốn kỳ quặc của trẻ. Có thể điều này sẽ làm cho trẻ trở thành những kẻ
phung phí tiêu xài quá mức, hoặc trở thành một con người sống ích kỷ, ham chơi, trốn
học, dẫn đến học yếu rồi bỏ học.
Hãy tập cho các em có tính tự lập ngay từ nhỏ và biết chịu đựng, biết khắc phục
những khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống đời thường. Phải để cho các em thấy được sự
lao động vất vả khó nhọc khi làm ra đồng tiền và sử dụng đồng tiền như thế nào cho có
hiệu quả.
Một nguyên nhân cơ bản là gia đình thiếu quan tâm, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở,
động viên các em trong học tập, vui chơi. Có gia đình phó thác hẳn việc giáo dục con cái
cho thầy cô giáo, cho nhà trường. Có gia đình thiếu biện pháp giáo dục, thiếu kết hợp với
nhà trường, với các lực lượng giáo dục khác. Không ít gia đình chỉ biết làm ăn, đầu tư
kinh tế, xem nhẹ việc giáo dục con cái. Nếu có nắm thông tin về con cái thì cũng chung
chung, một chiều. Thực tế cho thấy, nếu nơi nào có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên
có hiệu quả giữa ba lực lượng giáo dục là gia đình - nhà trường - xã hội thì hiện tượng
học sinh cá biệt, việc học sinh bỏ học sẽ giảm đi rất nhiều.
2.3.2. Giáo dục ở nhà trƣờng:
Điều 93 của Luật Giáo dục năm 2005 cũng đã nêu rõ: “Nhà trường có trách nhiệm
chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”.
Nhà trường, một lực lượng giáo dục rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách
của học sinh thì việc phối hợp chặt chẽ với hai lực lượng giáo dục gia đình và xã hội chưa
cao, chưa tạo được sự đồng bộ, đồng thuận trong việc giáo dục các em, còn coi nhẹ kỷ
cương - tình thương - trách nhiệm. Người giáo viên, nhất là GVCN phải nắm thông tin
Giáo viên PCGD phát mẫu danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học:
Số
Họ
Ngày Họ
tên Địa Diện
thứ và
tháng cha (mẹ chỉ
tự
năm
nguy
Biện
cơ pháp
hoặc
(Tổ (Học yếu, của
học sinh
Dựa vào mẫu này, đầu năm GVCN lập danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học và
chuyển cho giáo viên PCGD cập nhật vào sổ theo dõi học sinh có nguy cơ bỏ học để phối
hợp theo dõi cùng với GVCN.
Học sinh có biểu hiện vi phạm nội quy của lớp, vắng không phép một ngày hoặc
trốn học GVCN mời cha mẹ học sinh vào trao đổi.
Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy định, xử lý
thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả.
Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với cha mẹ học sinh
để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả.
Giáo viên bộ môn, các đoàn thể trong trường tích cực hỗ trợ GVCN trong công tác
giáo dục đạo đức học sinh, phản ánh kịp thời với GVCN tình hình học sinh của lớp.
GVCN phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất
có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh, phải không ngừng tự hoàn thiện nhân
cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về
mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là
tấm gương cho học sinh noi theo.
2.3.4. Về phía giáo viên PCGD:
Để hỗ trợ GVCN, tôi đã lập sổ điểm danh học sinh vắng theo mẫu:
Nguyên
Lớp
Tên học sinh vắng Ngày/tháng/năm
Kết quả
nhân
tháng/
nguy chỉ
cha
(mẹ pháp
quả
N
học
năm
cơ
(Tổ,
hoặc
sinh
sinh
ấp)
người đỡ phục
TT Họ tên học sinh
1
Nguyễn Thị Hằng Ni
Địa chỉ (Tổ, ấp)
Lý do bỏ học
Lớp
8 - Giồng Giữa
Bệnh
66
Thiếu sự quan tâm
2
Nguyễn Chí Bảo
13 - Giồng Chùa
94
của cha mẹ
Thiếu sự quan tâm
3
Công tác chủ nhiệm là một công tác khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều
cho công tác này, nhưng thực tế GVCN còn phải lo cho công tác chuyên môn.
Chƣơng 3. Phần kết luận
3.1. Những bài học kinh nghiệm:
Giảm học sinh bỏ học là một việc khó khăn, phức tạp, hết sức nhạy cảm, đòi hỏi sự
kiên trì, lòng nhiệt tình, trách nhiệm cao, cần phối hợp thường xuyên, chặt chẽ, có hiệu
quả từ các lực lượng giáo dục nhất là vai trò của gia đình. GVCN là lực lượng chính
trong công tác duy trì sỉ số và ngăn chặn nguy cơ bỏ học của học sinh, do đó, khi phân
công giáo viên làm công tác chủ nhiệm phải:
- Có lập trường tư tưởng vững vàng.
- Có uy tín, có phẩm chất đạo đức tốt.
- Có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề.
- Có năng lực tổ chức.
- Biết quan tâm đến học sinh, thương yêu và tôn trọng học sinh.
3.2. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
Xuất pháp từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện pháp
giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình hình thực tế
của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác duy trì sỉ số học sinh trong giai
đoạn hiện nay.
3.3. Khả năng ứng dụng, triển khai:
Những vấn đề tôi vừa trình bày đã và đang là một trong những bức xúc lớn của
trường, với các biện pháp đưa ra tuy chưa có tính khả thi cao, nhưng ít nhiều nó cũng
giúp chúng ta thấy được thực trạng bỏ học và nguy cơ bỏ học của học sinh hiện nay, giúp
cho chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong năm học 2011 – 2012 để góp
phần giảm tỷ lệ học sinh bỏ học của trường.